Tóm tắt: Vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu thờ nhiều đối tượng khác nhau, với các nhiên thần và nhân thần. Trong đó, một số tín ngưỡng nổi bật như thờ cá Ông, Bà Tím, Bà Thủy Long, Lê Thị Hồng Thủy. Việc nhận diện đặc trưng những tín ngưỡng này cho thấy sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng như sự biến đổi của nó, để thấy giá trị của tín ngưỡng dân gian vùng biển ở Bà Rịa Vũng Tàu, từ đó đề ra các biện pháp phù hợp trong việc quản lý tín ngưỡng, xây dựng đời sống văn hóa, giáo dục di sản, khai thác du lịch...
Từ khóa: Tín ngưỡng dân gian, văn hóa biển, cá Ông, nữ thần, bảo tồn và phát huy gái trị, Bà Rịa Vũng Tàu.
1. Đặt vấn đề
Trước nay các nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu thường chỉ tập trung vào tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ hội Dinh Cô với nhân vật Lê Thị Hồng Thủy. Do vậy, cần có những nghiên cứu để nhận diện đầy đủ diện mạo tín ngưỡng của cư dân vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu với những nét đặc thù.
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (156km) giáp với biển Đông, phía bắc giáp với tỉnh cực Nam Trung Bộ là Bình Thuận, phía nam giáp với huyện Cần Giờ (tp. Hồ Chí Minh) qua vịnh Ghềnh Rái và sông Lòng Tàu.
Trong lịch sử, Bà Rịa Vũng Tàu là điểm đầu tiên trên đường chinh phục vùng đất phương Nam của cư dân Ngũ Quảng bằng đường biển vào thế kỉ XVI, từ đây tiếp tục tiến sâu vào Đồng Nai, Tây Nam Bộ. Những làng cá như Lưới Rê (Phước Hải, huyện Đất Đỏ) là những điểm tụ cư đầu tiên ở mảnh đất này. Cái tư tưởng bám biển để tìm sinh kế đã có trong tư duy của những lớp cư dân ban đầu, đây là điều kiện để hình thành nên những tín ngưỡng biển ở khu vực.
2. Tín ngưỡng dân gian vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu
Các cơ sở tín ngưỡng ở vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu thờ nhiều đối tượng khác nhau, chủ yếu là các thần linh biển, trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung giới thiệu một số tín ngưỡng nổi bật của cư dân ven biển: cá Ông, Bà Tím, Bà Thủy Long, Lê Thị Hồng Thủy.
2.1 Tín ngưỡng thờ cá Ông
2.1.1 Truyền thuyết về cá Ông
Có một truyền thuyết giải thích mối liên hệ giữa Cần Giờ và Bà Rịa Vũng Tàu trong việc cúng cá Ông. Ở các xã Cần Thạnh, Long Hòa (huyện Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh) phổ biến truyền thuyết về ngày 16/8 âm lịch, ngày trôi dạt xác cá Ông vào 3 điểm trong đất liền. Do sao lãng nhiệm vụ, để chìm một chiếc ghe làm chết nhiều người trong một cơn bão, nên cá Ông bị Long Vương Thủy Tề trừng phạt, cho cá đao chém làm 3 khúc, xác tấp vào Thắng Tam (tp. Vũng Tàu), Phước Tỉnh (huyện Long Điền) và Cần Thạnh (huyện Cần Giờ), mỗi làng thỉnh một bộ phận thi thể cá Ông về thờ cúng. (Nguyễn Thanh Lợi, 2003, tr.53).
Làng Thắng Tam được phần đầu. Điều này cũng phù hợp với những ghi chép trong tài liệu của người Pháp khi viết về Vũng Tàu:”Cạnh đình Thắng Tam trên con đường đi ra mũi Ti ouan (bãi Sau) có lăng thờ cá voi, xây cất giản dị. Nơi đó đựng bộ xương đầu cá voi khổng lồ giạt vào bãi Ti ouan năm 1868. Một nhân vật huyền thoại của biển dã không hoàn thành nhiệm vụ để đắm một con thuyền chết 60 người và không cứu giúp họ. Để trị tội bất cẩn này, vua Thủy Tề chém làm 3 khúc, xác giạt vào bờ. Các làng Thắng Tam, Phước Tỉnh và Cần Giờ chia nhau xương xác cá Ông. Ngôi làng này được các ngư ông Việt Nam tới thăm và cúng viếng để cầu xin cho các thuyền đi biển giúp họ tránh được sóng gió” (Monographie de la province de Baria et la Cap Saint Jacques, 1902, p.26).
Lăng Ông Thắng Tam (số 77A, đường Hoàng Hoa Thám, phường Thắng Tam, tp. Vũng Tàu, Bà Rịa Vũng Tàu) còn lưu giữ bức tranh mô tả Phật Quan Âm tuần du đại hải, ban phép “thâu đường” để cá Ông cứu người bị nạn trên biển trong truyền thuyết dân gian ở ven biển miền Trung về nguồn gốc cá voi như minh chứng sinh động cho câu chuyện trên (Huỳnh Minh, 1969, tr.59).
Bà Rịa Vũng Tàu cũng có truyền thuyết liên quan đến sự trôi dạt một xác cá Ông vào ba địa điểm: thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ), xã Đông Hòa (nay là ấp Đồng Hòa, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh) và thị trấn Vàm Láng (huyện Gò Công Đông, Tiền Giang). Một xác cá Ông trôi dạt vào làng Đông Hòa (Gia Định), Vàm Láng nhận được khúc giữa cá Ông, lớn bằng chiếc ghe đi biển, được chuyển về lăng Ông Kiểng Phước để thờ phụng. Phía Phước Hải nhận được khúc đầu của cá, còn khúc đuôi ở Vũng Tàu. Ngư dân Phước Hải qua thương lượng để chuộc lại khúc giữa nhưng phía Vàm Láng không đồng ý vì sợ mất lộc (Huỳnh Minh, 1969, tr.152).
2.1.2 Phân bố lăng thờ cá Ông
Bà Rịa Vũng Tàu có số lăng Ông cao nhất ở Đông Nam Bộ với 12 lăng phân bố ở: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, Bến Điệp (tp. Vũng Tàu), Hồ Tràm, Bình Châu (2 lăng, huyện Xuyên Mộc), Phước Tỉnh, ngã ba Chợ Bến (thờ cốt cá Ông ở miếu Bà Ngũ Hành), Long Hải (huyện Long Điền), Phước Hải (huyện Đất Đỏ), Long Hương, Phước Trung (chùa Quan Thánh) (tp. Bà Rịa, sông Dinh).
Cá biệt có những lăng ở sâu vào đất liền hàng mấy chục cây số cũng vẫn thờ cá Ông: lăng Ông Long Hương (hẻm 51 đường Hoàng Việt, khu phố Hương Giang, phường Long Hương) và lăng Ông Phước Trung (quốc lộ 51, khu phố 2, phường Phước Trung) của thành phố Bà Rịa. Lăng Ông Long Hương nằm ở ngay thành phố Bà Rịa, bên cạnh quốc lộ 51, cách biển khá xa. Trong cơn bão năm Giáp Thìn (1904), một con cá voi đã trôi giạt vào đây và được dân địa phương lập lăng thờ cúng. Địa danh xóm Lăng ra đời cũng từ đó (Nguyễn Thanh Lợi, 2023, tr.18).
Dinh Ông Phước Hải (huyện Đất Đỏ) được xây dựng hơn 100 năm trên nền chùa Bửu Long cũ có từ năm Minh Mạng thứ 10 (1829), trải qua 3 giai đoạn tôn tạo và tái thiết. Cấu trúc dinh bao gồm cổng tam quan, nhà tây lang, dinh Hải Lăng và một số công trình phụ khác (Nguyễn Thanh Lợi, 2023, tr.17).
2.1.3 Nghĩa trang cá Ông
Một số lăng có khu đất dành riêng để táng cá Ông như ở Long Hải, Phước Hải, Thắng Tam. Lăng Ông Thắng Nhất, Thắng Tam (tp. Vũng Tàu), Long Hải (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền) nằm chung trong khuôn viên của đình thần (Nguyễn Thanh Lợi, 2003, tr.373).
Nghĩa trang cá Ông ở thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ, Bà Rịa Vũng Tàu) nằm cách dinh Ông Phước Hải khoảng 1km, rộng 6.400m2, nhìn ra biển, hình thành được 6 năm [1999]. Hiện có vài chục ngôi mộ đắp cát, mặt trước bia mộ ghi “Nam Hải chi mộ” và ngày Ông lụy, mặt sau ghi tên chủ ghe. Trước kia số Ông lụy ít nên ngư dân chôn xung quanh khu vực dinh, đến khi quá nhiều họ xin xã lập nghĩa trang này. Trong đền thờ cá Ông ở nghĩa trang này còn lưu giữ hơn 500 bộ cốt cá Ông, đựng trong các hộc kiếng. Bàn thờ trong đền thờ có 3 tượng cá Ông, biểu trưng cho các loài cá Ông (Ông Kiềm mỏ nhọn, Ông Chuông đầu tròn). Phía sau tượng là đầu cá Ông dài 2,5m, phủ vải đỏ lên trên (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 6-7/7/2022).
Ở dinh Ông Phước Hải hiện còn lưu giữ cuốn sổ ghi chép ngày tháng cá Ông lụy vào khu vực này. Tính đến ngày 29/4/2023 (trừ năm 1999), có 534 Ông đã lụy, khu vực nghĩa trang còn 43 mộ chưa bốc cốt. Cá Ông có ngày lụy gần nhất do ghe Trung Nghĩa vớt được ngày 26/11/2023. Đây là lăng Ông duy nhất trên cả nước có thống kê đầy đủ số Ông lụy hàng năm (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 24/3/2024).
2.1.4 Đối tượng thờ tự
Lăng Ông Thắng Nhất nằm trong khuôn viên đình Thắng Nhất, bàn thờ Ông Nam Hải ở giữa, bàn thờ bên trái là Tả ban, bàn thờ bên phải là Hữu ban, và 2 bàn thờ nhỏ thờ Quan Âm, Quan Công (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 17/9/2024).
Lăng Ông Thắng Nhì (phường Thắng Nhì, tp. Vũng Tàu) có cấu trúc thờ tự khá bài bản với nhiều bàn thờ, đặt đúng hướng (tả, hữu). Ngoài Nam Hải đại tướng quân còn có Bà Thủy Long, Tiên Sư, Tả lý ngư, Hữu lý lực, Tả ban, Hữu ban, Bác Hồ. Các bàn thờ trong lăng gồm: la liệt ngoại, hội đồng, đông hiến, tây hiến. Trên bàn thờ hội đồng có bài vị 會 同 尊 神 (Hội đồng tôn thần), ảnh Bác Hồ đặt bên cạnh. Cạnh bàn thờ này đặt xương cá đao. Bàn thờ cá Ông ở giữa chánh điện có 2 bài vị 南 海大 將 軍 (Nam Hải Đại tướng quân), 南 海 大 將 軍 証 明 (Nam Hải Đại tướng quân chứng minh) (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 1/10/2023).
Lăng Ông Thắng Tam có 3 bàn thờ, ở giữa là bàn thờ thần Nam Hải, phía sau là 3 tủ kiếng lớn đựng cốt cá Ông. Hai bên tả hữu có bàn thờ Bà Sáu (rùa biển) và Tổ Nhạc. Ngư dân thường gọi rùa da là bà Thủy Thánh, cũng được chôn cất và thỉnh ngọc cốt vào lăng thờ phụng, vì tục truyền Bà đã cứu vớt thuyền ngư dân khi lâm nạn giữa biển khơi Nguyễn Thanh Lợi, 2014, tr.72).
Đối tượng thờ tự trong các lăng Ông ở Bà Rịa Vũng Tàu ngoài thần Nam Hải (cá voi) còn có Quan Thánh, bà Ngũ Hành, Thủy Long, Tiên Sư, Bà Sáu (Thần Rùa), Tổ Nhạc, Thiên Y Chúa Ngọc, Chúa Xứ nương nương, Chúa Ngung, Chúa Thai Sanh, Phật Bà Quan Âm… mà lăng Ông Thắng Tam là một trường hợp điển hình. Sự tích hợp cao trong thần điện của tập tục thờ cúng cá Ông cho thấy sự giao thoa giữa văn hóa Hoa và Chăm trong tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng đất này, kể cả việc tiếp thu những yếu tố của Phật giáo.
Đình làng Thắng Tam còn thờ Lang Lại Nhị đại tướng quân (rái cá), Thần Nông ở chánh điện. Vịnh Gành Rái là vịnh biển nằm giữa thành phố Vũng Tàu và huyện Cần Giờ (tp. Hồ Chí Minh), cửa ngõ vào cảng Sài Gòn. Phía bên Vũng Tàu có một gành đá cũng được gọi là núi Gành Rái.
Sách Gia Định thành thông chí (1820) của Trịnh Hoài Đức gọi núi Gành Rái là Thát Ky sơn: “Núi lớn cách trấn 243 dặm rưỡi. Phía bắc từ trong rừng phá lớn băng qua khe ngòi, tụ hợp cát đá, chạy về hướng đông mà mọc ra, quanh vòng qua hướng tây, uốn lượn dáng như rồng biển xanh tắm biển, nổi lên ba ngọn núi đá đứng sững như chân đỉnh ở giữa biển; dựng làm cột nêu giữa biển, để làm tiêu chí cho thuyền nam bắc qua lại, ngăn sóng lớn dậy cuộn suốt ngày.…” (Trịnh Hoài Đức, 2019, tr. 59).
Truyền thuyết xưa kể lại, vào thời chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ở Nam Bộ, khi ông cùng tùy tùng đến đây bằng ghe bầu, để trốn chạy quân Tây Sơn, thì sóng to gió lớn nổi lên, mưa như thác lũ. Vì không thể vượt biển đi tiếp trong tình cảnh ấy nên đoàn người ẩn núp vào gành này. Do bãi biển lài, nên để lại nhiều dấu chân trên bãi cát, bùn lầy, kẻ địch có thể theo đó mà lần theo.
Bỗng nhiên một bầy rái cá chạy ra xóa những dấu chân người vừa để lại. Nhờ đó mà Nguyễn Ánh thoát nạn. Sau này, khi lên ngôi vua, Gia Long nhớ ơn đàn rái thần đã cứu mạng, ban sắc phong là “Lang Lại Đại tướng quân”, và đặt tên cho gành này là Gành Rái (Huỳnh Minh, 1970, tr.168-169).
Truyền thuyết ở Vàm Láng (thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, Tiền Giang) cho rằng, khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn rượt chạy đến vùng đất này, thì xuất hiện bầy rái cá ra xóa dấu chân quân của chúa, để tránh bị truy sát, nên về sau khi lên ngôi, các vua triều Nguyễn đã sắc phong cho rái cá. Đây là lớp truyền thuyết muộn nhằm củng cố chân mạng đế vương của Nguyễn Ánh.
Tục thờ rái cá cũng phổ biến ở Nam Bộ. Truyện kể dân gian Nam Bộ còn ghi lại những câu chuyện về Nguyễn Ánh liên quan đến rái cá như: Gành Rái với bầy rái thần và chuyện vua Gia Long, Cá sấu và rái cá cứu chúa tôi Nguyễn Ánh. Ở xã Lại Sơn (huyện Kiên Hải, Kiên Giang) cũng có câu chuyện tương tự, liên quan đến sự tích hòn Sơn Rái. Trên cù lao Long Sơn (tp. Vũng Tàu) vẫn còn lưu hành truyền thuyết về rái cá do nằm bên cạnh vịnh Gành Rái.
Một số miếu, đình ở Nam Bộ có thờ vị thủy thần này như ở đình Phú Nhuận, đình Hậu Mỹ (huyện Bình Chánh) ở thành phố Hồ Chí Minh; đình Long Thành (tx. Hòa Thành), đình Thái Bình (tp. Tây Ninh) ở tỉnh Tây Ninh. Thôn Hòa Quới ở Cù lao Phố (tp. Biên Hòa, Đồng Nai) vẫn còn giữ tục lệ cúng rái cá (Lang Lại). Đình Bình Hưng trên cù lao Bạch Đằng (tx. Tân Uyên, Bình Dương) là nơi duy nhất ở Nam Bộ có tượng thờ rái cá.
Trong bản văn tế bằng chữ Hán tại lăng Ông ở thị trấn Cần Thạnh (Thạch Phước lạch, huyện Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh) có nhắc đến danh hiệu của rái cá là “Đông Nam Sát Hải Lang Lại Đại Tướng Quân”.
Lăng Ông Vàm Láng trước nay đều cho rằng có sắc phong cho cá Ông, nay đã bị thất lạc, nhưng thực ra đó là sắc phong cho Lang Lại Nhị đại tướng quân chi thần (rái cá) với sắc phong ngày 29/11/1852 (Tự Đức thứ V).
Miếu Bà Ngũ Hành (1832) trong khuôn viên di tích Thắng Tam thờ Ngũ Hành Ngũ Vị chi thần (Ngũ Hành), Thủy Long thần nữ, Bà Phi Hồng Hạnh Liễu Thái Xuân Tri[i], Thiên Y Ana[ii], Cậu Tài, Cậu Quý, Quan Công, Phước Đức Chánh Thần, Tiền hiền (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 18/9/2024).
Trong số các lăng Ông ở Bà Rịa Vũng Tàu, chỉ có lăng Ông Thắng Tam có 3 đạo sắc, gồm 2 đạo sắc có từ thời Thiệu Trị thứ 5 (1846) và một đạo sắc thời Tự Đức thứ 3 (1850) nằm trong ba đợt phong tặng 12 đạo sắc cho làng Thắng Tam với các thần “Đại Càn quốc gia Nam Hải”, “Thủy Long thánh phi”, “Nam Hải tướng quân”, “Thiên Y Ana ngọc diễn phi”.
2.1.5 Lễ cúng cá Ông
Về cơ bản nghi thức cúng tế trong tục thờ cá Ông ở Nam Bộ gần giống như nghi thức cúng ở đình làng, mang đậm dấu ấn lễ nghi nông nghiệp, cũng có cúng Tiền hiền, Hậu hiền hay kết hợp với việc cầu mùa, cầu an. Đặc biệt, việc rước xác cá Ông thì hoàn toàn theo lễ nghi của người Việt, từ trang phục đến cờ lọng, kiệu phướn, những động tác thực hành nghi lễ.
Lễ cúng cá Ông ở lăng Ông Phước Hải (thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ) còn bảo lưu nhiều nghi thức cổ truyền, diễn ra trong suốt 2 ngày. Nghi thức cầu an có sự tham gia của Phật giáo, Cao Đài (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 24/3/2024).
Các lăng Ông Long Hải, Phước Tỉnh (huyện Long Điền) không làm lễ Nghinh Ông trên biển, kiệu và đám rước chỉ dừng lại sát mép nước để làm lễ vọng. Dinh ông Phước Tỉnh những năm 1960 về trước có làm lễ Nghinh Ông, về sau do chiến tranh nên không làm lễ nghinh trên biển. Trong quan niệm của ngư dân địa phương, những ngày mưa to gió lớn hoặc mưa lâm râm thì Ông sẽ “vào” nên họ không ra biển để đón Ông.
Trong ngày cúng Ông, ở mỗi lăng đều mời các hội vạn lạch, đình, miếu, dinh, chùa khu vực cùng tham dự. Lễ Nghinh Ông không chỉ có ngư dân tham dự với vai trò chủ thể mà còn thu hút cả tiểu thương, người làm nông, khách du lịch, người Hoa, đồng bào Công giáo (trường hợp Phước Tỉnh) đến dâng cúng. Trong ngày này không chỉ có ngư dân gốc miền Trung và miền Nam mà còn có cả ngư dân Công giáo gốc Bắc ở Phước Tỉnh đến tham dự (Trần Hồng Liên chủ biên, 2004, tr.103). Bởi lễ hội biển là của mọi người, mọi giới với tinh thần cố kết cộng đồng cao, vừa ồn ào náo nhiệt và cũng rất thành kính thiêng liêng. Đây là sự dung hợp giữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo giữa 2 cộng đồng dân cư ở 2 vùng miền khác nhau, điều mà khó thấy ở những địa phương khác, thường là có sự xung đột về niềm tin[iii].
Lễ cúng cá Ông ở Long Hải (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền) có sự kết hợp giữa nghinh Ông, nghinh Bà Tím, nghinh cô Hồng Thủy và diễn ra trước bãi Dinh Cô. Diễn trình của lễ hội Dinh Cô thực chất chỉ là sự sao chép từ lễ hội Nghinh Ông. Địa điểm cúng tế diễn ra trước bãi Dinh Cô. Đây là loại hình tín ngưỡng thờ nữ thần biển, mô phỏng lễ cúng cá Ông, kết hợp với cúng bà Thủy Long, nên bản thân lễ hội Nghinh Cô đã mang tính tích hợp cao, làm nên sự đặc sắc trong số các lễ hội biển ở Nam Bộ. Tuy không thuộc loại lễ hội lâu đời, nhưng do gắn với hoạt động đánh bắt hải sản của ngư dân nơi đây, lại ở địa bàn du lịch nổi tiếng nên lễ hội Nghinh Cô phát triển nhanh chóng, trở thành lễ hội biển lớn nhất ở Nam Bộ.
Về thời gian mở lễ hội cá Ông thì không có ngày thống nhất chung, mà mỗi nơi tùy thuộc vào ngày cá Ông đầu tiên “lụy” (cách gọi thành kính của ngư dân khi gặp cá voi chết trôi giạt vào bờ) hoặc ngày nhận sắc vua phong. Lễ hội này được tiến hành coi như một hình thức “ngày giỗ Ông”.
Lịch cúng cá Ông ở Bà Rịa Vũng Tàu thường kéo dài khoảng 3-4 ngày, trong đó có một ngày cúng chính: Bến Đình (phường Thắng Nhì, tp. Vũng Tàu, 22-24/3 âm lịch), Thắng Nhất (tp. Vũng Tàu, 23/3 âm lịch), Thắng Tam (phường Thắng Tam, tp. Vũng Tàu, 16-18/8 âm lịch), Thắng Nhì (tp. Vũng Tàu, 22-24/3 âm lịch), thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ, 15-17/2 âm lịch), xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền, 16/6 và 16/8 âm lịch, lễ giỗ Ông), thị trấn Long Hải (huyện Long Điền, 22-24/6 âm lịch), Hồ Tràm (ngã tư Hồ Tràm, xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, 25-26/8 âm lịch), Bến Điệp (xã Long Sơn, tp. Vũng Tàu, 9/10 âm lịch), Phước Trung (p. Phước Trung, tp. Bà Rịa, 26/11 âm lịch)…
Ngày cúng cá Ông ở các làng chài gần Bà Rịa Vũng Tàu tùy thuộc vào ngày Ông “lụy”(chết): Vàm Láng (Gò Công Đông, Tiền Giang, 10/3 âm lịch); Long Thạnh (16/3), Đồng Hòa (12/5), Cần Thạnh (16/8), Hòa Hiệp (10/10), Thạnh An (16/10), Long Thạnh (12/12) của huyện Cần Giờ (tp. Hồ Chí Minh), để tạo điều kiện tham dự lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, thể hiện mối giao hảo khá tốt giữa những cộng đồng làm nghề biển trong khu vực (Lâm Tấn Lượng, Lâm Thị Xuân Đào, 1993, tr.2; Nguyễn Thanh Lợi, 1992-2024).
Trước đây, ngày cúng cá Ông ở Thắng Tam là 16/11 âm lịch, nhưng từ năm 1967, ngư dân xin keo và chọn được ngày 16/8 âm lịch làm ngày vía Ông[iv], trùng với ngày cúng cá Ông ở xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu) và thị trấn Cần Thạnh (huyện Cần Giờ, tp. Hồ Chí Minh), do có cùng truyền thuyết về việc cúng một cá Ông bị trôi dạt ở 3 nơi. Cũng có người cho rằng cúng ngày này vì đây là ngày rằm tháng 8, ngày nước lên cao nhất, tôm cá nhiều nhất và ông Thủy Tướng (cá voi) chắc chắn sẽ về trong ngày này.
Lịch cúng, vía ở dinh Ông Phước Hải (thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa Vũng Tàu) diễn ra gần như quanh năm, ngoài lễ cúng Ông Nam Hải, còn có ngày vía các đối tượng, trong đó có tín ngưỡng của người Hoa (Thổ Địa, Quan Công, Bà Chúa Thai Sinh), của Phật giáo (Quan Âm).
Lăng Ông Phước Hải (thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa Vũng Tàu) trước đây khi chưa được trùng tu, ngư dân địa phương thường chọn một ngày bất kỳ trong tháng 2 âm lịch để cúng Ông. Sau khi lăng được xây lại, họ tổ chức ban cúng tế và chọn ngày 16/2 âm lịch làm ngày vía Ông.
Lăng Ông Thắng Tam (77A, đường Hoàng Hoa Thám, phường Thắng Tam, tp. Vũng Tàu) có các lễ Nghinh Ông (đón cá), lễ Thỉnh sắc, cúng Tiền hiền, Hậu hiền, lễ Chánh tế, Xây chầu đại bội.
Chương trình lễ cúng cá Ông ở lăng Ông Thắng Tam (tp. Vũng Tàu) ngày 16/8 âm lịch (12/9/1992) gồm: 6 giờ sáng lễ Nghinh Ông ngoài biển, 7 giờ lễ Thỉnh sắc, 8 giờ 30 nghi cúng Tiền hiền, 12 giờ nghi cúng chánh, 14 giờ Đại bội, 19 giờ 30 diễn tuồng Lưỡng tình nan (Nguyễn Thanh Lợi, 1992).
Chương trình lễ cúng cá Ông ở lăng Ông Thắng Tam (tp. Vũng Tàu) ngày 16/8 âm lịch (18/9/2024) gồm: 5 giờ lễ cúng cá Ông ở bãi Sau, 9 giờ tế Tiền hiền, 12 giờ Chánh tế, 14 giờ Xây chầu Đại bội, diễn tuồng Lưu Bị cầu hôn Giang Tả, 19 giờ 30 diễn tuồng Nhạc Lôi phục nghiệp. Năm nay do chia sẻ với miền Bắc vừa bị bão số 3 (bão Yagi), nên lăng không tổ chức Nghinh Ông trên biển và chỉ hát 2 suất tuồng thay vì 3 suất như mọi năm (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 18/9/2024).
Lễ cúng ở dinh Ông Nam Hải (xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu) năm 2023 gồm: 15 giờ ngày 15/8 âm lịch cúng Cô hồn trong dinh; ngày 16/8 âm lịch: 5 giờ cúng Cô hồn ngoài bãi biển, 6 giờ Nghinh Ông Sanh ngoài bãi biển, 8 giờ cúng Chánh lễ trong dinh, 10 giờ hát tuồng Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, 14 giờ Tôn vương. Lễ cúng Ông Nam Hải ở đây chịu ảnh hưởng từ Nam Trung Bộ với nghi thức Nghinh Ông Sanh ngoài bãi biển (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 30/9/2023).
Các lăng Ông Long Hải, Phước Tỉnh (huyện Long Điền) không làm lễ Nghinh Ông trên biển, kiệu và đám rước chỉ dừng lại sát mép nước để làm lễ vọng. Lễ cúng cá Ông ở Long Hải có sự kết hợp giữa nghinh Ông, nghinh Bà Thím, nghinh cô Hồng Thủy và diễn ra trước bãi Dinh Cô. Diễn trình của lễ hội Dinh Cô thực chất chỉ là sự sao chép từ lễ hội Nghinh Ông.
2.1.6 Vật phẩm cúng cá Ông
Quy mô tổ chức lễ hội tùy thuộc vào tình hình thu nhập của từng địa phương, vì mọi chi phí đều dựa vào sự đóng góp tự nguyện trong vạn ghe. Năm nào biển được mùa, không xảy ra chìm ghe, chết người, hư mất phương tiện đánh bắt thì việc cúng kiến được tổ chức to hơn, các hoạt động vui chơi sôi nổi và phong phú hơn, hát bội kéo dài ngày hơn. Trâu bò, heo gà được giết thịt, ăn uống linh đình trong dịp cúng tế này.
Có điều trở thành quy tắc là vật phẩm dâng cúng thường không dùng hải sản. Vật cúng thường 1 con heo trắng, toàn sắc, toàn sinh (để nguyên con không chặt xẻ, đồ lòng), xôi, rượu, trà, hoa, quả…
Trong các lễ hội Dinh Cô (thị trấn Long Hải), lễ hội Nghinh Ông (xã Phước Tỉnh) của huyện Long Điền và lễ hội Nghinh Ông (thị trấn Phước Hải) của huyện Đất Đỏ (Bà Rịa Vũng Tàu) thường có "bong bóng" (bọng đái) heo đặt trên vật để cúng cho thần linh. Nó mang tính biểu tượng về sự trọn vẹn, bảo đảm con vật có đầy đủ các bộ phận trong cơ thể. Cũng giống như trong nghi thức cúng đình trước đây ở Nam Bộ, phải mang con heo đen hoặc trắng lên chọc tiết trước bàn thờ Thần. Và sau này có cải tiến chỉ khứa cổ tượng trưng. Đổi mới hơn nữa là chỉ đem heo đã mổ, mần lông sạch sẽ lên trước bàn thờ.
Cái bánh tráng là tín hiệu của cư dân có nguồn gốc từ Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Bình Định), thấy rõ trong lễ hội cúng cá Ông ở Phước Tỉnh. Ở những "vùng văn hóa" nhỏ như vầy, việc thực hành tín ngưỡng theo các biệt lệ với ý nghĩa riêng của nó mà ở vùng văn hóa khác sẽ khó hiểu được.
Lễ phẩm vật cúng[v] Ông Nam Hải ở lăng Ông Thắng Tam (tp. Vũng Tàu) gồm đầu heo luộc chín, lòng heo luộc, thịt heo sống, xôi trắng, bánh tráng. Sở dĩ cúng đầu heo luộc nhưng thịt thì còn sống vì liên quan đến câu chuyện ở cơ sở tín ngưỡng này. Ngày xưa có 1 con heo rừng giết chết người, dân địa phương giết nó, do điều kiện khó khăn về nấu nướng, nên chỉ kịp luộc đầu heo, còn phần thịt mình thì để sống, sau thành tục lệ. Nay cạnh lăng có miếu Thỉnh Sanh để mỗi lần cúng sẽ chọn 2 con heo đực, con heo chính sẽ làm nghi thức thỉnh sanh trước miếu lúc 1 giờ sáng trước khi giết thịt.
Dịp lễ Nghinh Ông ở xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền) vào ngày 16/6 âm lịch và 16/8 lễ giỗ Ông không chỉ có ngư dân gốc miền Trung và miền Nam mà còn có cả ngư dân Công giáo gốc Bắc đến tham dự (Trần Hồng Liên chủ biên, 2004, tr.103).
Lễ cúng cá Ông ở thị trấn Long Hải (huyện Long Điền) lại có sự kết hợp giữa nghinh Ông, nghinh Bà Thím, nghinh cô Hồng Thủy. Địa điểm cúng tế diễn ra trước bãi Dinh Cô.
Mặt khác, lễ hội Dinh Cô / Nghinh Cô ở Long Hải cũng có mối quan hệ hết sức mật thiết với tín ngưỡng thờ cá Ông ở Bà Rịa Vũng Tàu. Ngoài đối tượng chính trong lễ hội là “Long Hải thần nữ bảo an chính trực nương nương” (Lê Thị Hồng Thủy), còn có Chúa Động, Long Cung thủy mẫu nương nương, năm bà Ngũ Hành, cô Hồng và hai vị công tử của nữ thần Chăm (Pô Inư Nagar) là Hiển Châu và Hiển Bửu (tức cậu Tài / Chài và cậu Quý). Lễ hội Nghinh Cô, lễ hội Cầu ngư của cộng đồng ngư dân chuyên nghề sông biển, có cả nghi thức rước Thủy thần và nghinh (mời) Ông Nam Hải (cá voi) từ dinh Ông, rước Bà Sáu / Bà Lớn (rùa biển) từ miễu Bà (Huỳnh Ngọc Trảng, 2000, tr.10-11). Hay nói cách khác, lễ Nghinh Cô ở đây là “bản sao” của lễ hội Nghinh Ông. Lễ Nghinh Bà hàng năm vào ngày 16/10 âm lịch từ miễu Hòn Bà về miếu Bà Ngũ Hành (đình Thắng Tam) nghi thức diễn ra cũng tương tự (Bùi Ngọc Diệp, 2012, tr.41-42).
Trong số các lăng Ông ở Bà Rịa Vũng Tàu, chỉ có lăng Ông Thắng Tam (tp. Vũng Tàu) có 3 đạo sắc, gồm 2 đạo sắc có từ thời Thiệu Trị thứ 5 (1846) và một đạo sắc thời Tự Đức thứ 3 (1850) nằm trong ba đợt phong tặng 13 đạo sắc cho làng Thắng Tam cho các thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, Thủy Long thánh phi, Nam Hải tướng quân, Thiên Y Ana ngọc diễn phi. Trong số 12 sắc phong này, có 3 sắc phong cho Đại Càn quốc gia Nam Hải (2 sắc đời Thiệu Trị thứ V, ngày 26/12/1845 và ngày 27/12/1845, 1 sắc đời Tự Đức thứ III, ngày 8/11/1850)[vi] (Phạm Chí Thân, Nguyễn Cẩm Thúy chủ nhiệm, 2000, tr.122-135).
Lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể năm 2013, lăng Ông Thắng Tam cũng là di tích lịch sử văn hóa từ năm 2023.
2.2 Tín ngưỡng thờ Bà Tím
Một nhiên thần gắn với tục thờ cá Ông, thường hay có mặt trong các lăng Ông, cũng được ngư dân Bà Rịa Vũng Tàu thờ cúng là Bà Tím (rùa biển).
Miễu Bà Lớn thờ Bà Tím ở khu phố Hải Hà 2 (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền) là một gian nhà lớn. Phía trước miễu là tượng Quan Âm Nam Hải, bên trái là miếu Cô Hồn. Sau lưng tượng Quan Âm là mộ Bà Lớn có ghi ngày lập mộ 20/4/1974 âm lịch, ngày lập lại 28/4/1992, ngày nâng cấp mộ. Gian bên trái miễu thờ Tiền hiền, Hậu hiền, Tiền vãng, Hậu vãng.
Trong chánh điện của miễu gồm một tập hợp các thần linh trên một bàn thờ dài: Cửu Phẩm, Ngũ Vị Nương Nương, Bà Lớn, Tam ông (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Tả ban, Hữu ban, Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Thủy (Thủy Long Thần Nữ), Thần Tài - Thổ Địa. Trong đó, Bà Lớn giữ vị trí trung tâm trong thần điện với bà thờ ở vị trí chính giữa, bài vị ghi dòng chữ Hán 龍 宮 水 母 娘 娘 (Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương) và một tấm biển ghi “Bà Lớn”. Các vị thần liên quan đến biển như Bà Thủy, cá Ông chỉ giữa vai trò phối tự cho Bà Lớn (Bà Tím).
Trước đây ở miễu Bà này bên cạnh bàn thờ Ngũ Hành còn có cốt Bà Lớn (rùa da) ở chánh điện cùng với mộ táng ở phía trước. Bà Thủy Long, Mẹ Sanh, Mẹ Độ, Quan Âm, Quan Công, Thổ Thần được phối tự chung trong miễu.
Lệ cúng miễu Bà Lớn diễn ra vào ngày 19-20/4 âm lịch và có hát bả trạo. Trong lễ cúng ở lăng Ông Long Hải, ngày 22/6 âm lịch, có đưa kiệu từ lăng đến miễu Bà Lớn để rước linh vị của Bà về. Trong lễ hội Nghinh Cô ở Dinh Cô Long Hải có nghi thức rước Thủy thần và nghinh Ông Nam Hải từ lăng Ông, rước Bà Tím từ miễu Bà Lớn (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 3/6/2016).
Lăng Ông Thắng Tam (tp. Vũng Tàu) có 3 bàn thờ, ở chánh điện thờ “Thần”, phía sau là 3 tủ kiếng lớn đựng cốt cá Ông Nam Hải, bên tả hữu có bàn thờ Bà Sáu (rùa biển, Cá Bà)[vii], bài vị trên tường ghi “海 妣 聖 德 (Hải Tỉ thánh đức), bài vị gỗ ghi “南 海 妣 妃 (Nam Hải tỉ phi) và Tổ nhạc. Ngư dân địa phương thường gọi rùa là “Bà Thủy Thánh” cũng được chôn cất và thỉnh ngọc cốt vào lăng thờ phụng, vì tục truyền bá đã cứu vớt thuyền ngư dân khi lâm nạn giữa biển khơi.
Đây là tín ngưỡng có nguồn gốc từ miền Trung, đặc biệt là ở Bình Thuận, nên có vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển huyện Long Điền. Vạn Nam Nghĩa (phường Đức Nghĩa, tp. Phan Thiết, Bình Thuận), ngư dân cũng từng vớt được rùa da chết do dính lưới, đem vào chôn ở vạn, bốc cốt đem thờ chung trong tẩm với các bộ cốt cá Ông (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 6/8/2023). Có thể thấy một “tổ hợp” các cơ sở thờ tự ở thị trấn Long Hải như Dinh Cô, lăng Ông với các thần linh biển như Thủy Long, Lê Thị Hồng Thủy, Ông Nam Hải, Bà Tím gắn chặt vào nhau.
2.3 Tín ngưỡng thờ Bà Thủy Long
Bà Thủy Long là đối tượng thường thấy trong các cơ sở tín ngưỡng dân gian ở Bà Rịa Vũng Tàu như lăng Ông Thắng Nhì (phường Thắng Nhì), lăng Ông Bến Điệp (xã Long Sơn), miếu Bà Ngũ Hành Thắng Tam của thành phố Vũng Tàu, miễu Bà Lớn (thị trấn Long Hải).
Ở lễ hội Nghinh Cô (thị trấn Long Hải, huyện Long Điền) có các nghi thức rước Thủy thần và nghinh Ông Nam Hải (cá voi) từ lăng Ông, rước Bà Sáu / Bà Lớn (rùa biển) từ miễu Bà (thị trấn Long Hải) và nghi lễ là một diễn xướng tổng hợp gọi là hát bóng rỗi với các nghi thức khai tràng dâng liễn, bá trạo nghinh 5 bà, múa dâng bông, múa dâng mâm, chặp địa nàng… và hát bả trạo.
Nghi thức Nghinh Cô trên biển diễn ra vào sáng ngày 20/2 âm lịch, bài vị Bà Thủy Long và Ông Nam Hải được thỉnh từ trên chánh điện xuống hai chiếc long đình đã được đặt sẵn trước dinh Cô. Linh vị 2 vị thần ghi “Long Hải thần nữ bảo an chính trực nương nương chi thần” (chữ quốc ngữ) và “Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương” (龍 宮 水 母 娘 娘) được đưa lên ghe nghinh. Nên thực chất đây vẫn là lễ cúng bà Thủy, do sự nhập nhằng đa tạp trong tập tục thờ cá Ông và bà Thủy Long, cũng như đồng nhất mục đích Cầu ngư ở Dinh Cô, miễu Bà Lớn và lệ giỗ cúng cá Ông ở lăng Ông Nam Hải của thị trấn này (Huỳnh Ngọc Trảng, 1995, tr.47).
Khi nghinh Cô trên biển, hai ông chánh bái và phó chánh bái Dinh Cô trên thuyền nghinh cầm nhang hướng về lăng Ông và miễu Bà Lớn (trong đó có thờ bà Thủy Long) khấn vái.
Đình Phước Lễ (tp. Bà Rịa) có miếu thờ Thủy Long Thần Nữ, vì vùng đất này vốn trước gần con sông Dinh chảy ngang thành phố và cũng do quan niệm của dân gian, Thủy Long Thần Nữ hay thường gọi là bà Thủy, bao hàm cả chức phận của Hà Bá và cũng có thể là Thủy Đức Thánh Phi có mặt trong Ngũ Hành.
Bà Thủy Long còn được thờ ở miếu Bà An Cao Lầu ở ấp An Phước (xã An Ngãi, huyện Long Điền). Bà Thủy Long ở đây được gọi là “Lục Cung”, gồm 2 bà, trong đó có 1 bà cưỡi trên mình cá hóa long, được phối tự với Chúa Tiên (Po Nagar) (Nguyễn Thanh Lợi, 2023, tr.54).
Miếu Hòn Bà tọa lạc tại mũi Nghinh Phong, Bãi Sau (tp. Vũng Tàu), miếu nằm trên hòn đảo gần bờ, xây năm Đinh Dậu (1781), do Ban Tế tự đình Thắng Tam trực tiếp quản lý. Miếu thờ Bà Thủy Long Thần Nữ, cúng lễ vào rằm tháng giêng, rằm tháng 4, rằm tháng 7, rằm tháng 10. Ngày 16/10 âm lịch hàng năm tổ chức lễ nghinh thỉnh Bà về miễu Bà Ngũ Hành Thắng Tam tế lễ (https://www.baotangbrvt.org.vn/khu-di-tich-lich-su-van-hoa-dinh-thang-tam-vung-tau).
Như vậy ở đây có sự nhập nhằng trong tín ngưỡng thờ bà Thủy Long ở Bà Rịa Vũng Tàu, được tích hợp, chồng xếp của nhiều lớp tín ngưỡng như thờ Lê Thị Hồng Thủy, cá Ông, Thiên Y Ana, Ngũ Hành… Đó là sự “tổng hòa” của nhiều quan niệm tín lý khác nhau: Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, tín ngưỡng Chăm, Hoa và đặc biệt là tín ngưỡng thờ nữ thần của người Việt ở Nam Bộ, nhất là của cư dân ven biển.
2.4 Tín ngưỡng thờ Lê Thị Hồng Thủy
Dinh Cô ở thị trấn Long Hải (huyện Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu) thờ cô Lê Thị Hồng Thủy (tục Thị Cách), theo cha từ Phan Rang (Ninh Thuận)[viii], vào Gia Định buôn bán. Khi thuyền đi ngang vùng biển này thì gặp bão, cô bị rớt xuống biển và xác trôi dạt vào vũng Mù U. Bia mộ được lập năm Bính Dần (1866) với câu chữ Hán “Hoàng đế Minh Mạng đương niên thần nữ chi mộ”. Sách Đại Nam nhất thông chí tả về núi Thùy Vân: “Ngoài đỉnh có ngọn thần Nữ Phong, tục gọi là mỏm Dinh Cô có gò đá đụn cát. Xưa có người con gái 17, 18 gặp nạn gió táp vào chết dạt ở đấy. Thổ nhân đem chôn và đêm sau người ta mộng thấy nữ nhân ấy từ đó bay đến giúp đỡ cho mọi người. Người ta cho là thần nên lập đền thờ nơi núi, nay vẫn còn” (Nguyễn Thanh Lợi, 2016; Quốc sử quán triều Nguyễn, 1973, tr.16).
Ở dinh này, ngoài cô Lê Thị Hồng Thủy (Bà Cô), còn phối thờ Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu (Nhị vị công tử: Cậu Tài, Cậu Quý, con bà Chúa Ngọc), Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), Ông Địa, thần Tài... Hương án, các miếu nhỏ thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương, Quán Thế Âm Bồ tát, Cô Hồn, Hỏa Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Bác Hồ... (Huỳnh Quốc Thắng, 2003, tr.139-140; Nguyễn Thanh Lợi, 2016).
Lễ hội ở Dinh Cô được gọi là lễ Nghinh Cô, ngày giỗ Cô với mỹ hiệu “dân phong” là Long Hải Thần Nữ Bảo An Chính Trực Nương Nương. Lễ hội diễn ra vào 10-12/2 âm lịch, đây là lễ hội nước lớn nhất ở vùng biển phía Nam nước ta, thực chất là lễ hội cầu ngư của cộng đồng cư dân chuyên nghề sông biển.
Trong bài văn tế bằng chữ Hán ghi:”… Xuân thiên kỳ ngư chi lệ - Tịch hiến hoa nhất diên (Theo lệ cầu ngư mùa xuân - Mở một cuộc lễ dâng hoa). Các thần linh được mời về để dâng hoa ngoài Cô còn có: Chúa Động Nương Nương, Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương, Ngũ Hành Nương Nương, Cô Hồng, Cô Các, Cậu Tài, Cậu Quý.
Ở lễ hội Nghinh Cô có các nghi thức rước Thủy thần và nghinh Ông Nam Hải (cá voi) từ lăng Ông, rước Bà Sáu / Bà Lớn (rùa biển) từ miễu Bà (thị trấn Long Hải) và nghi lễ là một diễn xướng tổng hợp gọi là hát bóng rỗi với các nghi thức khai tràng dâng liễn, bá trạo nghinh 5 bà, múa dâng bông, múa dâng mâm, chặp địa nàng… và hát bả trạo.
Nghi thức Nghinh Cô trên biển diễn ra vào sáng ngày 20/2 âm lịch, bài vị Bà Thủy Long và Ông Nam Hải được thỉnh từ trên chánh điện xuống hai chiếc long đình đã được đặt sẵn trước dinh Cô. Linh vị 2 vị thần ghi “Long Hải thần nữ bảo an chính trực nương nương chi thần” (chữ quốc ngữ) và “Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương” (chữ Hán) được đưa lên ghe nghinh. Đoàn ghe nghinh hướng ra biển khoảng 1 hải lý thì chạy ngang mộ Cô, bắt đầu tiến hành nghi thức cúng thủy thần ở mũi ghe. Vật cúng gồm xôi trắng, gạo, muối, thịt heo luộc, trái cây, bánh bông lang, bánh tráng mè, trầu cau, nhang. Vị chánh tế thắp nhang khấn vái cầu xin các thần linh ban sự bình an, no ấm cho dân chúng. Đoàn bả trạo gồm tổng mũi, tổng khoang, tổng lái cùng 14 bạn chèo bắt đầu diễn bài “Nghinh thủy thần” để dâng lên Bà Cô.
Đoàn ghe lại quay đầu về hướng lăng Ông Long Hải và miễu Bà Lớn để thỉnh chào 2 vị thần này trước khi quay vào bờ (Nguyễn Thanh Lợi, 2022, tr.131-132).
Có sự pha trộn mạnh mẽ giữa các dòng tín ngưỡng, tôn giáo của các tộc người ở cơ sở thờ tự này, trong đó nổi trội lên là các nữ thần. Lễ hội Nghinh Cô thực chất là lễ hội Cầu ngư, với bản sao của lễ hội Nghinh Ông. Đối tượng suy tôn hướng đến là Thủy Long Thần Nữ nhưng mượn hình ảnh của một nhân vật có số phận bi đát. Và nó thể hiện sự sáng tạo trong việc liên kết các đối tượng thần linh biển trên một cái trục: Thủy Long Thần Nữ - Ông Nam Hải – Bà Lớn (Rùa Tím), một cách hòa quyện với một lễ hội nước đặc sắc.
3. Kết luận
Tín ngưỡng dân gian vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu khá phong phú, ngoài tín ngưỡng thờ cá Ông chiếm vị trí quan trọng nhất thì nổi bật là tín ngưỡng nữ thần. Tập hợp các thần linh biển nơi đây cũng cho thấy quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, theo hướng tích hợp và Việt hóa các tín ngưỡng khác (Chăm, Hoa). Đặc biệt chịu sự ảnh hưởng mạnh từ tín ngưỡng biển ở Nam Trung Bộ. Yếu tố Chăm nổi trội với các thần: Thiên Y Ana, Chúa Ngọc Nương Nương, Chúa Tiên Nương, Cậu Tài, Cậu Quý, Chúa Cậu, Ngung Man Nương, Bà Hậu Thổ[ix], Chúa Động Nương Nương. Ảnh hưởng Hoa là Thiên Hậu (thị trấn Phước Hải), Quan Công, Ông Địa, thần Tài, Bà Thủy Long, Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Thai Sanh. Đan xen với Phật giáo (Quan Âm, Diêu Trì Phật Mẫu, Tiêu Diện đại sĩ). Tín ngưỡng dân gian Nam Bộ: Chúa Xứ nương nương, Long Cung Thủy Mẫu Nương Nương, Ngũ Hành Nương Nương, Cô Hồng, Cô Các. Tín ngưỡng dân gian miền Bắc: Tứ Pháp Nương Nương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Tín ngưỡng miền Trung: Rái cá, Bà Tím.
Bản sắc tín ngưỡng nơi đây còn được giữ gìn khá trọn vẹn có thể thấy được qua trường hợp Phước Hải, Long Hải (lễ hội nước lớn nhất ở Nam Bộ) với những cơ sở thờ tự, nghi lễ, lễ hội, diễn xướng, hát bội... trong sức sống nội sinh của nó dù phải chịu tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tín ngưỡng dân gian vùng biển Bà Rịa Vũng Tàu đang chịu sự biến đổi bởi những tác động của kinh tế, văn hóa, xã hội. Đó là sự cạn kiệt của nguồn lợi hải sản dẫn đến thay đổi sinh kế, môi trường ô nhiễm do hoạt động du lịch cùng với sự quá tải của nó, sự biến đổi khí hậu, sự xáo trộn trong di dân, sự va chạm giữa yếu tố truyền thống với những trào lưu văn hóa hiện đại... nên cần được nhìn nhận, đánh giá lại đúng thực trạng của nó, để có hướng bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa này, phải xem đó là nguồn lực phát triển với những ưu khuyết của nó.
CHÚ THÍCH
[1] 6 vị thần: Hồng, Hạnh, Liễu, Thái, Xuân, Tri (bằng tượng nổi hoặc tranh vẽ) có mặt trong lễ mãi thổ ở miền Trung (Đô thị cổ Hội An (hoianheritage.net).
2 Ở Hồ Tràm (xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc) còn có miếu Bà Thiên Y Ana. Các đình Thắng Nhất, Thắng Nhì (tp. Vũng Tàu) cũng có thờ Thiên Y Ana (Nguyễn Thanh Lợi, 2023, tr.56).
3 Ngư dân gốc Bắc vào miền Trung sinh sống, khi bắt được cá voi nhỏ, cá nược họ vẫn ăn thịt hoặc đem về cho ngư dân thờ cá Ông chuộc lại, gây ra những phản ứng trong cộng đồng này (Lê Quang Nghiêm, 1970, tr.29-30).
4 Phan An trong phần viết về tục thờ cá Ông ở Vàm Láng đã nhầm lẫn giữa Phước Tỉnh (thay vì là Phước Hải) trong truyền thuyết này khi cho rằng ở Phước Tỉnh có đến 2 ngày giỗ Ông vì liên quan đến sự kiện này (Trần Hồng Liên chủ biên, 2004, tr.247).
5 Ban quản lý di tích Thắng Tam có soạn một tài liệu về “lễ phẩm vật cúng” quy định số lượng, vật phẩm, ngày cúng trên các bàn thờ ở đình, ngôi tiền hiền, lăng Ông, miếu Bà Ngũ Hành một cách chi tiết, hữu dụng; do Trưởng ban di tích và Trưởng ban tế tự đình Thắng Tam Trương Văn Khôi soạn năm 2014 (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 18/9/2024).
6 Huỳnh Minh trong sách Vũng Tàu xưa và nay (1970, tr.63-64) cho rằng: đình Thắng Tam có 3 sắc phong cho 3 đội trưởng (Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam) gồm các ông Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc, Ngô Văn Huyền có công xây dựng 3 làng ở Vũng Tàu ở buổi đầu thành lập vùng đất này là những phỏng đoán không có căn cứ, không dựa vào thực tế.
7 Ngư dân vớt năm 1973. Truyền thuyết kể rằng do Bà đi kiếm cá Ông để cứu tàu hải quân Việt Nam Cộng hòa bị chìm ở Trường Sa mà không được, nên bị cá đao chém một nhát trên lưng, mất mạng, được chôn ở bãi chôn cá Ông trên đường Võ Thị Sáu nay. Bà nhập đồng về cho biết được 98 tuổi. Bà thường có bông trắng trên mai, khác với vích biển (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 18/9/2024).
8 Có thuyết nói rằng ở Bình Thuận hay Bình Định.
9 Miếu Bà Hậu Thổ ở thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ) thờ vị nữ thần gốc Chăm với bài vị ghi “后 土 娘 娘” (Hậu Thổ Nương Nương). Trên chánh điện, ở giữa là tượng 5 bà Ngũ Hành, Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Xứ; hai bên tòng tự Quan Âm và Địa Mẫu. Hai gian ngoài thờ Quan Âm và Quan Đế. Bàn thờ trước chánh điện thờ Bác Hồ. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của bà Hậu Thổ, xếp ở vị trí quan trọng hơn cả Quan Âm và Địa Mẫu theo thứ bậc thông thường trong các miếu thờ nữ thần ở Nam Bộ và sự giao lưu với cả văn hóa Hoa qua trường hợp thờ Quan Đế (lăng Ông Phước Hải cũng nhập Quan Đế vào trong dãy các bàn thờ ở chánh điện (Nguyễn Thanh Lợi, ngày 4/8/2023).
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bùi Ngọc Diệp. 2012. “Hòn Bà - điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn”. Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử-văn hóa miếu Hòn Bà. Kỷ yếu tọa đàm khoa học. TP. Vũng Tàu, ngày 9/1.
3. Huỳnh Minh. 1969. Gò Công xưa và nay. Sài Gòn: Nxb Cánh Bằng.
4. Huỳnh Minh. 1970. Vũng Tàu xưa và nay. Sài Gòn: Tác giả xb.
5. Huỳnh Ngọc Trảng. 1995. “Từ nữ thần Pô Nưgar đến Bà Chúa Xứ”, Tạp chí Sách, số 2, tháng 11.
6. Huỳnh Ngọc Trảng. 2000. “Biển thiêng ơi...”, Báo Tuổi trẻ chủ nhật, số 12, ngày 26/3.
7. Huỳnh Quốc Thắng. 2003. Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc). Hà Nội: Viện Văn hóa - Nxb Văn hóa - Thông tin.
8. Lâm Tấn Lượng, Lâm Thị Xuân Đào. 1993. Lễ hội Nghinh Ông ở xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ-TP.Hồ Chí Minh. Khóa luận tốt nghiệp. Đại học Mở Bán công
Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Lê Quang Nghiêm. 1970. Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa, Sài Gòn.
10. Monographie de la province de Baria et la Cap Saint Jacques, L. Ménard, Saigon, 1902.
11. Nguyễn Thanh Lợi. 2003. “Thờ cá Voi ở thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6.
12. Nguyễn Thanh Lợi. 2003. “Tục thờ cá Ông ở Bà Rịa - Vũng Tàu”. Thông báo văn hóa dân gian 2002. Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội.
13. Nguyễn Thanh Lợi. 2014. “Tín ngưỡng thờ cá voi ở Bà Rịa Vũng Tàu”, Tạp chí Bảo tàng & Nhân học, số 2.
14. Nguyễn Thanh Lợi. 2022. “Nghinh Cô – lễ hội nước đặc sắc ở Nam Bộ”. Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 325, tháng 4.
15. Nguyễn Thanh Lợi. 2023. “Tín ngưỡng thờ cá Ông ở Đông Nam Bộ”. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4.
16. Nguyễn Thanh Lợi. 2023. “Tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển Đông Nam Bộ”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2.
17. Nguyễn Thanh Lợi. 1992-2024. Tư liệu điền dã.
18. Phạm Chí Thân, Nguyễn Cẩm Thúy chủ nhiệm. 2000. Di sản Hán Nôm trong các di tích lịch sử-văn hóa Bà Rịa-Vũng Tàu. Đề tài khoa học của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
19. Trần Hồng Liên chủ biên. 2004. Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ, Hà Nội: Nxb Khoa học xã hội.
20. Quốc sử quán triều Nguyễn. 1973. Đại Nam nhất thống chí. Tập thượng. Nguyễn tạo dịch. Sài Gòn: Nha Văn hóa Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb.
21. Trịnh Hoài Đức. 2019. Gia Định thành thông chí. Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng. Sài Gòn: SaigonBooks – Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét