1. Những thành tựu lý luận - phê bình đã đạt được
Nhìn chung, từ ngày Đổi Mới, ngành nghiên cứu văn nghệ của Việt Nam đã phát triển xứng đáng là một trong những ngành khoa học cơ bản. Nghiên cứu văn nghệ không còn chỉ là công việc khen chê, bình phẩm theo cảm hứng, mà hầu hết đều muốn dựa trên các lý thuyết khoa học. Vì thế, các thành tựu lý luận của thế giới không còn xa lạ với các nhà nghiên cứu Việt Nam.
Hầu như không có lý thuyết hay phương pháp nào của thế giới mà không có mặt tại Việt Nam. Từ những lý thuyết cổ điển nhất đến những lý thuyết hiện đại nhất, tất cả đều được các nhà nghiên cứu Việt Nam nhắc đến, có lý thuyết được nhắc đến kỹ càng, có lý thuyết được nhắc đến ở mức vừa phải. Có người quan tâm giới thiệu nhiều lý thuyết và phương pháp, nhưng cũng có người chuyên tâm khảo cứu một lý thuyết. Có thể nói, nghiên cứu văn nghệ của Việt Nam đã hội nhập được với thế giới.
Như vậy, thành tựu lớn nhất về mặt đường lối trong nghiên cứu văn nghệ của Việt Nam giai đoạn đương đại là “tự do học thuật”. Nói rộng ra, đây cũng có thể được coi là thành tựu của Đổi Mới, của toàn cầu hoá và hội nhập, của giao lưu văn hoá.
Ngay từ Hội nghị lý luận phê bình lần đầu tiên cách đây 21 năm tại Tam Đảo giữa tháng 8 năm 2003, có nhà lý luận đã có nhận xét về “không khí cởi mở và thái độ khoan dung trong sinh hoạt lý luận”. Tuy nhiên, khi nói “khoan dung” tức là người nói vẫn nhận xét từ góc độ của “người có quyền ban phát” chứ chưa có ý thức về quyền tự do văn hoá trong các bộ luật về quyền con người.
Trong không khí của những năm đầu đổi mới, chúng ta có thể hiểu được thái độ “dè dặt” này, bởi vì ngay trong Hội nghị lần đầu tiên đó vẫn còn có người đề nghị khôi phục lại các tiêu chuẩn về tính Đảng và tính hiện thực xã hội chủ nghĩa trong phê bình mà người đó cho rằng chúng đã bị lãng quên sau Đổi Mới. Thậm chí ngay bây giờ, năm 2024, vẫn có người viết rằng “nền tảng cho cơ sở của lý luận văn nghệ là hệ lý luận chính trị”. Rõ ràng, tự do học thuật là một công việc chật vật và không hề dễ dàng.
Thành tựu quan trọng thứ hai của việc tiếp thu lý thuyết văn học thế giới là nó góp phần thúc đẩy xu hướng “chuyên nghiệp hoá hoạt động lý luận - phê bình”. Trên thực tế, xu hướng chuyên nghiệp hoá đã được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của văn hoá thời kỳ Đổi Mới. Trên tinh thần đó, trong nghiên cứu văn học, xu hướng chuyên nghiệp hoá được thể hiện thành việc tăng cường tính khoa học của hoạt động lý luận - phê bình. Và để tăng cường tính khoa học, việc tiếp thu lý thuyết văn học của thế giới chính là một trong những nguồn lực chủ chốt.
Một thành tựu nữa của việc tiếp thu lý thuyết văn học của thế giới là thúc đẩy “tính dân chủ trong nghiên cứu khoa học”. Từ ngày Đổi Mới, dân chủ trở thành một mục tiêu cần tăng cường trong đời sống xã hội, trong đó có đời sống khoa học. Theo tinh thần đó, dân chủ trong nghiên cứu đang được thúc đẩy ở nước ta, và đó là một trong những thành tựu về đường lối quan trọng nhất của phát triển khoa học nói chung và của nghiên cứu văn học nói riêng. Đó là một nét rất mới trong đời sống khoa học ngày nay. So với trước Đổi Mới thì đây thực sự là một tiến bộ rất lớn.
2. Một số hạn chế
Từ những thành tựu có tính đường lối đó, ngành nghiên cứu văn nghệ Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong các lĩnh vực lý luận, phê bình và lịch sử văn học nghệ thuật. Có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao, xứng đáng là những công trình “chuyên nghiệp”.
Tuy nhiên, trong việc tiếp thu các lý thuyết, chúng tôi nhận thấy vẫn còn có những điều cần rút kinh nghiệm, hay có thể gọi là một số hạn chế cần khắc phục, trong cả lĩnh vực nghiên cứu lẫn ứng dụng. Đó là tình trạng lý thuyết ít được vận dụng; là vận dụng khiên cưỡng; là vận dụng sai. Tất cả những hạn chế này đều có thể được gọi là hạn chế về khả năng vận dụng lý thuyết vào việc nghiên cứu văn nghệ ở Việt Nam.
3. Một số nguyên nhân của sự hạn chế
Tình trạng hạn chế nói trên có một nguyên nhân sâu xa về chuyên môn mà ít người nhận ra. Nguyên nhân đó là sự thay đổi “hệ tiêu chuẩn chính trị” của lý luận phê bình sang “hệ tiêu chuẩn chuyên môn” của chính văn nghệ. Hệ tiêu chuẩn chính trị trước đây có tính đơn trị và áp đặt; nó dễ áp dụng nhưng lại làm nghèo và làm yếu lý luận phê bình. Trong khi đó hệ tiêu chuẩn chuyên môn là hệ đa trị, phong phú và tự do; nó khuyến khích phát triển sáng tạo và đa dạng hoá cho lý luận phê bình, nhưng lại khó, thậm chí rất khó áp dụng do tính nghiêm cẩn khoa học của nó. Đây là nguyên nhân gốc của tình trạng yếu kém lý luận, và nó thể hiện thành nhiều nguyên nhân cụ thể.
Có nhiều nguyên nhân cụ thể của sự hạn chế. Ở đây tôi chỉ nhắc đến ba nguyên nhân mà tôi cho là chủ chốt. Một là trình độ ngôn ngữ và ngoại ngữ, như là phương tiện của người nghiên cứu để tiếp cận lý thuyết nước ngoài, còn non kém; hai là thiếu tư duy hệ thống khi tiếp cận lý thuyết nước ngoài; ba là thiếu tư duy lôgic khi tiếp thu lý thuyết.
3.1. Về trình độ ngôn ngữ và ngoại ngữ của những người nghiên cứu
Phải nói rằng lý luận - phê bình văn nghệ là lĩnh vực đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ ngôn ngữ và ngoại ngữ cao. Các lý thuyết sử dụng chủ yếu ngôn ngữ khái niệm trực tiếp chứ không phải ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày hay ngôn ngữ hình tượng như các tác phẩm văn chương.
Cho nên, giữa ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ khái niệm có một khoảng cách rất xa. Khác với diễn ngôn giao tiếp, diễn ngôn lý luận luôn là diễn ngôn phức tạp, nó chứa đựng những phát ngôn về nhận thức và chứng minh, vừa mang tính kế thừa vừa phát hiện lý thuyết. Nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức vừa cơ bản vừa hệ thống để có thể hiểu được các lập luận của một lý thuyết.
Đó là một điều kiện khó khăn lớn đối với nhiều nhà lý luận - phê bình của nước ta, khi mà ngôn ngữ nước ta có một sự xa cách khá lớn so với các ngôn ngữ phương Tây. Thực tế là có rất nhiều bản dịch tác phẩm lý luận văn nghệ từ ngôn ngữ phương Tây sang tiếng Việt đã mắc rất nhiều lỗi dịch thuật và lỗi diễn đạt trong tiếng Việt, mà đó lại là những lỗi rất cơ bản, dẫn đến vô nghĩa và sai nghĩa.
3.2. Về việc thiếu tư duy hệ thống khi tiếp cận lý thuyết nước ngoài
Khi một lý thuyết hay một phương pháp nghiên cứu ra đời, chúng ta cần tìm hiểu nó trong hệ thống phương pháp. Không có lý thuyết nào có nhiệm vụ nghiên cứu toàn diện tác phẩm văn nghệ. Mỗi lý thuyết đều có một cách tiếp cận riêng đối với tác phẩm, có đóng góp riêng cho việc tiếp cận văn nghệ. Vì thế, nếu không đặt lý thuyết trong hệ thống phương pháp luận, thì dễ dẫn đến tuyệt đối hoá một lý thuyết, một phương pháp. Trước đây chúng ta đã mắc sai lầm là tuyệt đối hoá lý thuyết lịch sử - xã hội, nay lại có nguy cơ tuyệt đối hoá một lý thuyết hay phương pháp mới nào đó.
Trong phạm vi một lý thuyết cũng vậy, khi tìm hiểu để tiếp thu, ta cần nhìn nhận các luận điểm trong hệ thống của lý thuyết đó, tránh tuyệt đối hoá một luận điểm riêng lẻ. Ví dụ có người gặp một luận điểm của nước ngoài nói rằng chủ nghĩa hậu hiện đại gần với chủ nghĩa Mác, thế là họ lấy đó làm quan điểm chính của chủ nghĩa hậu hiện đại, dẫn đến ngộ nhận về chủ nghĩa này, và không ít người ngày nay đã cho rằng cơ sở của chủ nghĩa hậu hiện đại là chủ nghĩa Mác, họ không biết rằng quan điểm chủ chốt “trong triết học” của chủ nghĩa hậu hiện đại là giải thể “đại tự sự”, tức giải thể các lý thuyết toàn trị mà điển hình là hai đại tự sự: một là chủ nghĩa duy lý thời thế kỷ Ánh Sáng và hai là chủ nghĩa Mác. Đây là một căn bệnh “thầy bói xem voi”.
Đối với sự tiếp nhận các trào lưu sáng tác văn học nghệ thuật cũng có tình trạng “nhìn cây mà không thấy rừng”.
Ví dụ trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, các nghệ sỹ Đađa là những người đầu tiên đề xuất các vật liệu và kỹ thuật mới: Đó là nghệ thuật cắt dán [tiếng Anh - Pháp: “collage”, /“ghép dán”/], nghệ thuật chắp ảnh [tiếng Anh - Pháp: “photomontage”], nghệ thuật lắp ráp [hay nghệ thuật sắp đặt] [tiếng Anh: “assemblage art”, hay “installation art”; tiếng Pháp: “art de l’assemblage”].
Đây là những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nghệ thuật tạo hình hiện đại từ đầu thế kỷ XX mà lịch sử không thể bỏ qua. Ở Việt Nam hiện nay đang có phong trào sáng tác nghệ thuật sắp đặt, nhưng người ta lại coi nghệ thuật sắp đặt là nghệ thuật “hậu hiện đại” mà không biết rằng đó là nghệ thuật của chủ nghĩa hiện đại (modernism) đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XX.
3.3. Về tình trạng thiếu tư duy lôgic khi tiếp thu lý thuyết
Tiếp thu một cách lôgic đối với một lý thuyết tức là phải nắm được bản chất và nguyên tắc của một lý thuyết để biến nó thành một phương pháp; đồng thời phải nắm được bản chất và đặc trưng của các loại hình hay thể loại văn học - nghệ thuật để khi phân tích một đối tượng văn chương ta mới có thể chọn được một hoặc vài phương pháp tương thích và mới có thể biến chúng thành các phương pháp khả dụng. Sự “tương thích giữa đối tượng văn chương với phương pháp” là điều kiện quan trọng đầu tiên của tính khả dụng lôgic của phương pháp.
Ví dụ, như trên chúng tôi đã nói đến những quan niệm sai lầm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong việc tiếp thu thiếu hệ thống đối với các phương pháp nghiên cứu của thế giới: Từ chỗ tiếp thu ý kiến phi lôgic của một người Trung Quốc cho rằng có sự giống nhau giữa chủ nghĩa Marx với chủ nghĩa hậu hiện đại, một số nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam đã đi đến việc coi Marx là “người khởi đầu thực sự của chủ nghĩa hậu hiên đại” mà không tính đến quan điểm phủ nhận của hậu hiện đại đối với chủ nghĩa Marx như là một “đại tự sự”, từ đó lại hồn nhiên quy kết phi lôgic rằng văn thơ Hồ Chí Minh là những sáng tác “hậu hiện đại”, rằng Hồ Chí Minh “chính là tác giả Việt Nam đầu tiên dự cảm và thực hành sáng tác theo tinh thần ‘hậu hiện đại’ ”.
Đây là việc gán ghép lý thuyết và phương pháp cho đối tượng văn chương một cách cưỡng bức, bất chấp sự “không tương thích giữa đối tượng và phương pháp”. Trong trường hợp của Hồ Chí Minh, người nghiên cứu đã lựa chọn những đặc điểm không phải là những nguyên tắc và đặc điểm của chủ nghĩa hậu hiện đại mà là do người viết ngộ nhận hoặc bịa ra, để vận dụng cho văn thơ của Hồ Chí Minh, vì thế không tránh khỏi dẫn đến những kết luận sai lệch ngớ ngẩn, không thoát khỏi được xu hướng “tán dóc” lỗi thời, dù có là “tán dóc lý luận”.
Tiếp thu lý thuyết bên ngoài là cần thiết, nhưng tiếp thu quá hồn nhiên và thiếu suy xét lôgic thì có thể được coi là biểu hiện của căn bệnh lệ thuộc vào nước ngoài, có thể gọi là căn bệnh định kiến và sính ngoại cực đoan.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét