Thứ Hai, 25 tháng 11, 2024

VÀI ĐỊA DANH GỐC KHMER Ở NAM BỘ (Nhà nghiên cứu Vương Trung Hiếu)

Người đầu tiên liệt kê những địa danh có gốc Khmer ở Nam Bộ là Trương Vĩnh Ký. Ông ghi nhận 212 địa danh gốc Khmer, tuy nhiên cũng giống như những nhà nghiên cứu đi sau như Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Lê Trung Hoa và Nguyễn Đình Tư, phần lớn chỉ dừng lại ở cách phiên âm, không ghi bằng ngôn ngữ Khmer và đôi khi không dịch nghĩa gốc của từ Khmer.

PGS TS Lê Trung Hoa cho rằng, tuy cùng một từ Khmer song “mỗi người phiên âm một kiểu tùy theo cách nghe của mình” (Địa danh học Việt Nam). Đúng vậy, theo chúng tôi, có nhiều từ phát âm na ná nhau, thậm chí là đồng âm, do đó việc xác định từ Khmer gốc rất khó khăn, dễ bị nhầm lẫn.

Những danh từ chung mà nhiều người đồng thuận là:
Rạch : gốc từ Khmer prêk, có nghĩa là dòng nước tự nhiên, nhỏ hơn sông.
Vàm: gốc từ Khmer ពាម (piêm), nghĩa là ngã ba sông, rạch.
Bưng: chỉ vùng đất trũng giữa đồng, đọng nước, tiếng Khmer đọc là បឹង (bâng).

Dưới đây là một số ví dụ dịa danh ở Nam Bộ. Xét những từ này, ta thấy có những từ không liên hệ ngữ âm và ngữ nghĩa với từ gốc Khmer. Một số từ tương ứng với tiếng Khmer hoặc có một yếu tố gốc Khmer song lại cấu tạo theo cách thức của địa danh VN, còn những từ khác thì có âm gần giống. Chẳng hạn như:

Tây Ninh: vùng đất thời xưa thuộc Thủy Chân Lạp, có tên gọi là Srôk rongdamrey (xứ chuồng voi), ngày nay người Campuchia gọi là "tỉnh Tây Ninh" ខេត្តរោងដំរី (khett rongdamrey). Romdumrey có nghĩa là "Chuồng Voi", song từ Hán Việt "Tây Ninh" (西寧) lại có nghĩa là “vùng yên ổn phía tây” (tây: phía tây; ninh: yên ổn).

Rạch Giá, tiếng Khmer gọi là ក្រមួនស (kromuon so), nghĩa là "sáp trắng", hoặc gọi là Srôk Kromuon So (xứ sáp trắng); còn (cửa) Rạch Giá gọi là Păm Prêk Kromuon So (vàm rạch sáp trắng); kinh Rạch Giá (hay Kinh Ba rạch) gọi là Comnik Prêk Kromuon so.

Núi Sập, tên núi ở huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang, không có nghĩa là núi bị sập hay “lùn” xuống” mà có nghĩa là "Núi Lớn". Người Campuchia gọi là ភ្នំ ធំ (phnom thom); phnom là núi, thom là lớn.

Vĩnh Long : viết theo chữ Hán là 永隆 (Vĩnh là "vĩnh viễn, vĩnh hằng", nghĩa là "mãi mãi"; còn "Long: là long trọng, nghĩa là "thịnh vượng, giàu có"). Tuy nhiên người Campuchia lại gọi Vĩnh Long là លង់ហោរ (luông haor), tức gọi tên huyện Long Hồ với ý nghĩa tương ứng với từ Vĩnh Long. Tuy nhiên huyện Long Hồ cũng được gọi là ស្រុកលង់ហោរ (srok luông haor).

Cái Vồn là tên vùng hoặc tên chiếc cầu ở thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Tên tiếng Khmer là Srôk Tà Vôn (xứ ông Vôn).

Trảng Bàng (xứ): Srôk Oknha Pàn (xứ của ông quan tên lả Phàn).

Hà Tiên có nguồn gốc từ ពាម (piêm), một từ Khmer có nghĩa là vàm, ngã ba, ngã tư sông hay cửa ra biển. Ngày nay người Campuchia đọc theo theo âm “Hà Tiên” của Việt Nam là ហាទៀន (ha tien); còn tên Hán Việt “Hà Tiên” (河仙) là dựa theo truyền thuyết, có nghĩa là dòng sông thần tiên hoặc tiên trên sông (do có thần tiên bay lượn trên dòng sông này).

Châu Đốc được phiên là Mot cruk (Lê Trung Hoa) hoặc Meàth Chruk (Wikipedia), có nghĩa là mõm heo hoặc miệng sông có tiếng heo kêu. Tiếng Khmer viết là មាត់ ជ្រូក (mot chrouk).

Song có quan điểm thích phiên Châu Đốc thành 朱篤 theo cách gọi của người Trung Quốc, âm Hán Việt là “chu đốc”, song nếu giải thích từ 朱篤 thì xem ra đi quá xa so với nghĩa tiếng Khmer (chu : màu đỏ thắm hoặc dùng để so sánh với sự xinh đẹp, phú quý; còn đốc là trung hậu, thành thật).

Những địa danh bắt đầu bằng chữ "cần":

Cần giuộc có nguồn gốc từ chữ កន្ទួត (kantuot), nghĩa là cây chùm ruột. Người Campuchia còn gọi là Srôk Kantuôt (xứ cây chùm ruột). Tuy nhiên cần phân biệt giữa từ កន្ទួត (kantuot: chùm ruột) với កន្ទួតព្រៃ (kantuotaprei: chùm ruột rừng). Cái từ "chùm" (trong chùm hoa) viết là កញ្ចុំ (kanhchoum); còn "chùm" (trong chùm trái cây) thì viết là ចង្កោម(changkom); còn ចង្កោមស្វាយ (changkomosvay) là chùm trái xoài).

Cần thay hay Cần Thây là tên sông, tiếng khmer là Banlê Ansay, chỉ một loài rùa lớn (“Grande tortue de rivière” - Cochinchine française: Excursions et reconnaissances, Tập 8, tr. 167.

Cần Đước (vùng): Srôk Prêk Andơt, nơi có nhiều con cần đước.
“Cần đước” cũng là con rùa lớn, thuộc họ Emydidées (“Grande tortue de marais de la famille des Emy-didées” - Cochinchine française: Excursions et reconnaissances, Tập 8, tr. 167), xuất hiện nhiều lần trong phần 4 của Truyện chơi văn chương , chrestomathie cochinchinoise : recueil de textes annamites. Premier fascicule (1872) , tác giả: Abel Des Michels.

Con cần đước thuộc chi Emys, có ít nhất là 4 loài: Emys Thugri; Emys Nigricans, Emys Geoemyda và (Cochinchine française Excursions et reconnaissances · Tập 8 1884 tr. 158)

Riêng địa danh “Cần-Thơ”, nhiều người gọi đùa là xứ “cần thi phú “, song, xét về từ nguyên thì chẳng liên quan gì tới thơ ca cả. Từ này xuất hiện 3 lần trong cụm từ họ Cần-Thơ (Sử Ký Đại Nam Việt Quốc Triều, Imprimerie De La Mission, 1885, tr.11).

Trong Gia Định thành thông chí, địa danh Cần Thơ ghi bằng chữ Hán là 芹苴, âm Hán Việt là “cần trư”, còn âm Bắc Kinh là qín jū, Quảng Đông là kan4 zeoi1, nghe không giống âm “cần thơ” chút nào.

Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là ខេត្តព្រែកឬស្សី (Prek Russey: sông tre), cũng không thấy có liên quan gì về ngữ âm. Tuy nhiên, ta thấy từ Khmer có âm giống “Cần Thơ” nhất, đó chính là កន្ធរ (kanthor): cá sặc rằn, cá sặc bồi; còn từ កំភ្លេញ (kơmlinh) và ត្រីកំភ្លាញ (trei kamphleanh) đều có nghĩa là cá sặc.

Vương Trung Hiếu

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...