Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2024

NGƯỜI RAGLAI Ở KHÁNH HOÀ (ThS. Trần Thị Thanh Loan)

Tóm tắt: Hơn 370 năm xây dựng và phát triển vùng đất Khánh Hòa (1653-2024), người Raglai đã có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của tỉnh. Bài viết tập trung làm rõ quá trình hình thành, phát triển và phân bố dân cư của người Raglai ở Khánh Hoà; đồng thời, tác giả làm rõ các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội - giáo dục và đào tạo, y tế, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng… của người Raglai nơi để thấy những nét tương đồng và dị biệt của người Raglai hai khu vực khác nhau cũng như các tộc người thiểu số có văn hoá gần gũi với Raglai, từ đó khẳng định những giá trị tích cực mà dân tộc này đã gây dựng nên cần được kế thừa và phát huy nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng này hội nhập và phát triển, đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh Khánh Hoà.

Từ khóa: Khánh Hoà, người Raglai.

1. Giới thiệu

Khánh Hoà là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 5.197km2, phần lớn diện tích là núi non, nằm sát dãy núi Trường Sơn. Tỉnh có phía Tây giáp Đăk Lăk và Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Đông giáp tỉnh biển Đông.

Vùng đất Khánh Hoà được hình thành qua quá trình tranh chấp giữa núi rừng, sông ngòi và biển đảo, nên rất đa dạng. Là tỉnh có mạng lưới sông ngòi phân bố khá dày đặc[1], Khánh Hoà có nét đặc thù về nông nghiệp, vừa có đồng bằng, vừa có đồi núi, đặc biệt có đường bờ biển dài nhất và là một trong những bờ biển đẹp nhất của Việt Nam. Theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh Khánh Hoà, tính đến ngày 01/4/2019, tỉnh Khánh Hoà có 1.231.107 người (đứng thứ 30 trong cả nước). Trong số 36 dân tộc sinh sống ở Khánh Hoà, người Raglai là dân tộc đông dân thứ hai, chỉ sau người Kinh với 55.844 người (chiếm 4.54% dân số của tỉnh Khánh Hòa). Người Raglai sinh sống chủ yếu ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và một số xã/phường của huyện Cam Lâm, Diên Khánh, thị xã Ninh Hoà và thành phố Cam Ranh; trong đó, huyện Khánh Sơn có hơn 70% dân số là người Raglai.

Xếp thứ hai về dân số, chỉ sau dân tộc Kinh trong tỉnh nhưng cộng đồng Raglai ở Khánh Hoà với sự gắn kết của tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa, luôn thể hiện rõ nét tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Người Raglai ở Khánh Hoà đã góp phần quan trọng trong việc hình thành nét văn hóa độc đáo, tạo ra những điểm khác biệt cơ bản trong đời sống văn hóa với các tộc người khác có văn hoá gần gũi với người Raglai ở hai nhóm khác nhau dựa theo tiêu chí vị trí địa lý[2] và quan hệ với những dân tộc khác: Raglai Bắc và Raglai Nam[3].

Kế thừa nguồn tài liệu chính: Văn hoá dân gian Raglai ở Khánh Hoà, lịch sử đảng bộ của địa phương và các cuộc điền dã tại huyện Khánh Sơn, Diên Khánh[4]. Tác giả xin trình bày những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội - giáo dục và đào tạo, y tế, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng của người Raglai.

2. Lịch sử hình thành và phân bố dân cư

Người Raglai và người Chăm là hai tộc người thuộc nhóm ngữ hệ Malayo-Polynesia (Mã Lai - Đa Đảo) ở Việt Nam nên có những nét tương đồng, gần gũi với nhau. Từ đây, có nhiều ý kiến cho rằng, người Raglai là một nhánh của người Chăm cổ tách ra, là một bộ phận của người Chăm. Căn cứ vào một số tài liệu dân tộc học và những hiện vật còn lưu giữ cho phép khẳng định: người Raglai có lịch sử lâu đời - từ thời cổ đại, được xem là một trong hai cư dân bản địa của Khánh Hoà[5].

Theo các sử liệu cổ của Trung Quốc, Vương quốc Champa được thành lập từ năm 192 sau Công nguyên, lấy tên là Lâm Ấp (có nghĩa là xứ rừng). Sau đó, Lâm Ấp lần lượt đổi tên thành Hoàn Vương rồi Chiêm Thành. Lâm Ấp được thành lập là do Khu Liên, một viên chức bản địa vì không chịu nổi sự cai trị hà khắc của nhà Hán nên lãnh đạo người dân nổi dậy lật đổ chính quyền khu vực Nam Thừa Thiên Huế ngày nay. Lâm Ấp có địa bàn trải dài từ thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng thuộc Tây Nguyên. Trong quá trình phát triển đất nước, Vương quốc Champa có những biến động nhất định do ảnh hưởng của chiến tranh. Người Champa từng có xung đột với các quốc gia trong khu vực thời bấy giờ như Chân Lạp (Campuchia), Malaska, Xiêm (Thái Lan)… Đặc biệt là, những cuộc xung đột và giao tranh với Đại Việt có ảnh hưởng rất lớn đối với sự biến đổi lãnh thổ và dân cư Lâm Ấp.

Từ thế kỷ thứ X trở đi, sau nhiều lần thất bại trong những cuộc giao chiến với Đại Việt khiến Vương quốc Champa phải lùi về phía Nam. Năm 1471, sau khi bị quân Lê Thánh Tông bắt quốc vương Bàn La Trà Toàn, lãnh thổ Champa chia làm ba nước nhỏ là Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, Vương quốc Champa bắt đầu suy tàn từ cuối thế kỷ XV. Từ thế kỷ XVII - XVIII đến nay, người Raglai gắn bó mật thiết với người Kinh ở miền Trung và với các triều đại phong kiến Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Raglai ở Việt Nam vẫn sống trên các triền núi, địa bàn không cao lắm nhưng không thuận lợi trong việc canh tác, sản xuất, vùng đất khai phá trồng cây công nghiệp (thông, cà phê…) nhỏ hẹp. Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, người Raglai sinh sống ổn định tại miền núi.

Làng (palơi) truyền thống có tính tự trị và đại diện cho cấp độ chính trị cao nhất của người Raglai. Ranh giới của mỗi làng được giới hạn bởi đất đai, núi rừng do ông bà tổ tiên để lại hoặc là bởi con sông, suối, hang động, tảng đá,… Ranh giới giữa các làng được quy định từ nhiều đời, rất ít tranh chấp, trong làng, Già làng (ravũaq tuha) và Chủ làng (po palơi) là những người đóng vai trò quan trọng. Mỗi làng có thể có một hoặc nhiều dòng họ (Pitẽq), mỗi dòng họ có nhiều gia đình, đứng đầu là Trưởng tộc (Po Pitẽq). Người Raglai theo chế độ mẫu hệ, người chủ gia đình (Po sàc) là phụ nữ[6]. Mỗi dòng họ có thể cư trú khác làng, thậm chí khác núi, khác xứ sở. Cơ cấu xã hội cơ bản của làng là quan hệ cộng đồng. Cộng đồng ở đây có nhiều mức độ khác nhau, từ cộng đồng nhỏ (gia đình) đến cộng đồng trung (tộc họ) và cuối cùng là cộng đồng lớn (làng) có sự đan kết giữa quan hệ huyết thống và quan hệ xóm làng; từ đây tính gắn kết, bình đẳng, tương trợ “đói cùng đói, nó cùng no” với nhau.

Từ thời Pháp thuộc đến nay, làng và một số phong tục, tập quán truyền thống của đồng bào Raglai đã dần thay đổi. Đơn vị hành chính từ thôn, làng, xã được sắp xếp lại cho phù hợp với sự phát triển của kinh tế, văn hoá - xã hội của từng địa phương. Tổ chức làng người Raglai hiện theo luật pháp của Nhà nước. Vai trò của già làng được thay thế bởi bộ máy chính quyền địa phương. Khách vào làng không đến trình già làng, mà đến trình chính quyền thôn và xã.

Văn hoá núi rừng còn chi phối đến các họ của người Raglai, phần lớn các họ của người Raglai đều lấy từ tên các loại cây trong rừng, trên nương rẫy. Nếu truyền thuyết người Việt là Lạc Long Quân - Âu Cơ thì sử thi Raglai có “Ông Trồng cây, Bà Xây núi” (Akhat Jucar Cơi Masrĩh Mỏq Vila). Trước kia, người Raglai không có họ như người Việt, tình trạng lấy nhau không phân biệt huyết thống nên Chúa tổ sanh (Aluah Saluah) sai thần sấm sét giết những kẻ loạn luân, mỗi người văng ra một nơi, ai văng vào đâu thì Cơi Masrĩh Mỏq Vila đặt cho người Raglai mang họ đó; từ đó, đồng bào Raglai có các: Tro (Pupor), Tô (Jaluq), Môn (Ađưq), Đá mài (Patơu Asah), Mấu (Châmliaq), Bo Bo (Catơr), Cau (Pinãng); trong đó, phổ biến hiện nay là các chi họ: Cau/Cao, Bo Bo, Mấu, Môn.

Ở Khánh Hoà, có hai khu vực chính người Raglai sống tập trung là miền núi, gồm: Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và một số xã ở thị xã Ninh Hoà, huyện Cam Lâm; và vùng đồng bằng, duyên hải ở các xã/phường thành phố Cam Ranh. Số người Raglai sống ở đồng bằng và gần biển chiếm 1/5 tổng số người Raglai ở Khánh Hoà[7]. Những làng cổ, nơi người Raglai cư trú tập trung gần biển hiện còn như: làng Thống Nhất (xã Cam Phước Đông, Cam Ranh), làng Thịnh Sơn (xã Cam Thịnh Tây, Cam Ranh), làng Xóm Mới (xã Cam Thịnh Đông, Cam Ranh), làng Raglai phường Cam Phúc Nam (Cam Ranh), làng Cam Sơn (xã Cam Phước Tây, Cam Lâm).

Người Raglai Khánh Hoà cư trú ở địa bàn có hệ thống sông ngòi dày đặc, chỉ tính ở vùng Khánh Sơn, Khánh Vĩnh có 5 con sông lớn (dài trên 10km), khoảng 48 con sông nhỏ (dài vài km) và hàng trăm con suối lớn nhỏ là nguồn cung cấp nước thuận lợi cho việc di chuyển, sinh hoạt, chăn nuôi, trồng trọt và sản xuất của người dân.

Từ địa bàn cư trú ban đầu ở vùng duyên hải miền Trung với văn hoá mang đậm yếu tố biển, người Raglai vượt lên Tây Nguyên và đã “đánh mất truyền thống văn hoá biển” (chữ dùng của GS.Ngô Đức Thịnh), từ đây văn hoá núi - rừng trở thành yếu tố chủ đạo, quyết định đến sinh kế, chi phối đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của người Raglai.

Sinh kế chính của người Raglai là nông nghiệp nương rẫy với các hoạt động săn bắt, hái lượm, khai thác tài nguyên rừng, trao đổi lâm thổ sản với các dân tộc khác trong vùng. Do sống dựa vào núi rừng nên kinh tế của đồng bào Raglai phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và mang tính nhỏ lẻ, tự cung tự cấp. Bên cạnh nguồn lương thực chính là bắp và lúa còn có các loại nông sản khác như các loại đậu, khoai, củ, quả… với phương thức canh tác là chọc lỗ, tra hạt. Trâu, bò, gà, heo được nuôi thả phổ biến trong vùng người Raglai. Đây là nguồn thực phẩm hằng ngày cũng như trong các cuộc tế lễ, lễ hội “Làng” và trao đổi hàng hoá với nhau. Các nghề thủ công truyền thống như đan lát, rèn, làm gốm, chế tạo công cụ sản xuất… mặc dù còn thô sơ nhưng cũng đảm bảo đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt gia đình.

3. Các đặc điểm nổi bật của Raglai ở Khánh Hoà

3.1. Về đời sống kinh tế

Với người Raglai, núi rừng là linh hồn, là hơi thở là nhịp sống thường nhật của họ bước ra khỏi nhà, họ đến với núi rừng, thậm chí nhà được cất dưới tán cây rừng. Mở mắt ra, họ đã thấy sừng sững trước mặt là núi và những cánh rừng ngút ngàn. Tiếng rừng thở cùng với họ từ trên sàn nhà, theo bước chân lên nương, nghỉ ngơi dưới tán cây rừng, đêm về nghe tiếng suối, tiếng gió thổi của muôn ngàn lá rừng như ru họ từ những câu hát kể sử thi theo họ vào giấc ngủ để sớm mai gặp lại núi rừng.

Hoạt động kinh tế của người Raglai ở Khánh Hoà là sự kết hợp giữa nghề rừng với nghề ruộng rẫy gồm các hoạt động khai thác tài nguyên rừng, săn bắt, hái lượm, sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công.

Khai thác tài nguyên rừng: Rừng có hàng trăm loại gỗ quý để làm nhà ở, nhà kho, làm nhà mồ. Cha ông người Raglai đã phân biệt các loại gỗ quý cũng như công dụng của các loại gỗ: dầu, gõ, sến, táu, hương, ké,… qua tri thực bản địa. Người Raglai gắn bó chặt chẽ với núi rừng[8] và coi không gian rừng là cõi thiêng là của Nhang, của Trời, của Thần “ở chỗ nào, sản xuất ở đâu cùng đều phải xin phép thần núi, thần rừng”. Núi rừng của người Raglai ở có nhiều sông, suối, vũng sâu. Nước suối trong vắt, có thể uống ngay mà không cần đun sôi. Các loại thức ăn có từ rừng như: các loại nấm, khoai mài, rau rừng nhiều vô tận.

Sản vật của núi rừng được chế biến thành thuốc chữa bệnh như: đau bụng, ho thì chữa bằng củ/rễ sa nhân, cầm máu thì dùng cây họ săn dây, cây xương gà; chữa bong gân, đứt gân, vết thương thì dùng cây Jrãu Varavup (đực), jrãu uraq (cái); chữa đau răng thì dùng các loại cây có chất liệu cay rilùc, cây ri-ieng, cây dây the… nhét vào chân răng khi nhức; chữa đau bụng thì dùng cây Tô Hạp (turùp), trầm hương (gahlơu); chữa bệnh đậu mùa thì dùng tổ ong ngựa xông hơi; chữa bệnh ho trẻ em thì dùng mật ong để rà miệng; chữa bệnh đau mắt thì dùng mật gấu,…

Săn bắt: sống ở núi rừng nên người Raglai rất giỏi trong việc săn bắt thú rừng, chim muông (trong khôn khổ cho phép của Luật tục), đánh bắt cá nước ngọt ở các con suối. Người Raglai thường săn bắt các loại động vật và bò sát như nhộng kiến đỏ (anảq vu sudơp amur), các loại mối cánh (chacalàq), cúi lúi (anu), con mển (djuah), nai rừng (rusa), heo rừng (pa buai glai), trăn, tắc kè, rắn, kỳ đà… để chế biến thức ăn hàng ngày hoặc trong các lễ cúng tế ở cộng đồng.

Hái lượm: các loại lá bép (djaq viaq), lá ôchao, lá paranhau, lo khăn,… những loại hạt cây săng, cây plàc, cây càt, sung (hara), vỏ cây lapá (lapah), các loại khoai rừng (havuơi cailh), khoai từ (havuơi capùc), củ nằn (havuơi janĩng), củ do (havuơi yo), củ racai), măng tre… Các loại quả rừng: quả thị (boh makia), trái da đá (boh djau), quả xay (boh djuai), mằn tăn (boh tăh), trái nâu (boh jamau), mía lau (tabau krang).

Sản xuất nông nghiệp: Người Raglai đã đúc kết kinh nghiệm hàng ngàn năm trong việc trồng lúa rẫy là đất đồi thấp đã ra sức cải tạo tự nhiên, biến đất hoang thành nương rẫy, từng bước biến đổi bộ mặt hoang vu của vùng đất Khánh Sơn thành những rừng núi với bao vạt rừng cây nguyên sinh và tầng lớp nương rẫy của đồng bào Raglai và những quả đồi chuối xanh mơn mởn. Phương pháp canh tác lúa rẫy của cộng đồng người Raglai ở Khánh Sơn là chọc lỗ trỉa hạt trồng xen canh với các loại cây lương thực khác (bắp, bo bo, cao lương, kê…) và hoa màu như rau, khoai mì, bầu, bí, dưa gang, đậu và các loại cây ăn trái như mít, đu đủ, chuối, khóm (thơm). Người Raglai cũng dùng trâu bò để kéo cày, bừa và trục, phát triển việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả. Nếu trước đây, gia súc, gia cầm nuôi thả rong vào rừng, chứ không làm trại nuôi nhốt thì ngày nay, người Raglai đã biết làm chuồng nuôi nhốt động vật nuôi. Hiện nay, người Raglai đang khôi phục lại nghề chăn nuôi trâu, bò, dê… vừa làm sức kéo phục vụ sản xuất vừa làm thực phẩm cho bữa ăn hằng ngày và giết lấy thịt đem bán. Nông nghiệp nương rẫy vốn là phương thức chủ đạo trong hoạt động kinh tế của người Raglai. Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Raglai là nông nghiệp, đa số các làng Raglai đều làm nông nghiệp. Hiện nay, nhiều làng đã có khá đông hộ sản xuất nông nghiệp kết hợp với nghề thủ công và chăn nuôi.

Người Raglai vốn là những cư dân nông nghiệp có kinh nghiệm sản xuất phong phú, nương rẫy Khánh Sơn bao la bát ngát nhưng thiếu thị trường tiêu thụ ổn định, do đó, để phát triển kinh tế, đời sống cộng đồng Raglai, việc quan tâm giải quyết tìm thị trường tiêu thụ nông sản là điều rất cần thiết. Lễ hội trái cây Khánh Sơn[9] được tổ chức định kỳ 2 năm/lần đã hội tụ các nhà vườn trái cây đang độ trĩu cành; thưởng thức các loại trái cây ngon, đặc sản của địa phương, nhất là sầu riêng; đắm mình trong không gian sinh thái, bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số Raglai bản địa… Những năm qua, nông nghiệp Khánh Sơn với thế mạnh là các loại cây ăn trái giá trị kinh tế cao, trong đó nổi bật là cây sầu riêng đã góp phần rất lớn trong thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội địa phương. Chính quyền tỉnh Khánh Hoà từng bước có những biện pháp nhằm ổn định đời sống, phát triển sản xuất ở vùng đồng bào Raglai như cấp mã số vùng trồng, tổ chức Lễ hội trái cây huyện Khánh Sơn, phát triển du lịch sinh thái kết hợp tiêu thụ nông sản nhằm mở rộng thị trường đưa thương hiệu trái cây Khánh Sơn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

Nghề thủ công: sống dựa vào rừng nên những nghề thủ công truyền thống của người Raglai cũng mang đậm dấu ấn của núi rừng, dẫu còn thô sơ nhưng đảm bảo cho sản xuất, sinh hoạt và ngày nay còn làm ra để bán cho khách du lịch. Các nghề thủ công chủ yếu là đan lát, chế tạo nông cụ sản xuất với các sản phẩm: đan gùi, đan nia, đan thúng làm đàn Chapi, làm nỏ…; người Raglai cho rằng: “trưởng thành là khi biết đan cái gùi để đi rẫy, biết làm cái nỏ để đi săn, biết làm đàn, làm sáo để đi vui chơi”[10]. Hiện nay, tại Khánh Sơn đã hình thành Câu lạc bộ Đan lát truyền thống Raglai và khu vực chuyên làm nghề đan lát, làm nỏ ở xã Sơn Hiệp. Sản phẩm đan lát với độ tinh xảo ngày càng cải tiến, mẫu mã đặc trưng được sử dụng với nhiều mục đích sử dụng khác nhau: từ loại phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hằng ngày đến bán cho khách du lịch. Trong những năm gần đây nghề đan lát thủ công của Raglai phát triển mạnh theo tinh thần của Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030. Hiện nay, chính quyền địa phương đang nỗ lực tìm biện pháp hỗ trợ để người dân nơi đây xây dựng làng nghề truyền thống, cải thiện kỹ thuật để đẩy mạnh sản xuất với kiểu dáng đa dạng, mẫu mã phong phú và có tính cạnh tranh trên thị trường.

3.2. Về văn hóa - xã hội

Những năm qua, ở các khu vực đồng bào Raglai, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, phát triển. Cầu, đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, điện lưới quốc gia, hệ thống cấp nước sinh hoạt… được đầu tư xây dựng; các trung tâm xã đều có chợ để việc mua bán của bà con được thuận lợi. Nhiều chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh như các chương trình 135, 134, chương trình điện nước nông thôn, chương trình hỗ trợ vốn để khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống, đào tạo nghề, tạo việc làm, phát triển du lịch cộng đồng… đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được bà con dân tộc Raglai hưởng ứng thiết thực. Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam của đồng bào Raglai không ngừng được cải tiến về nội dung và hình thức, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của bà con, thấm đẫm tinh thần đoàn kết của 36 dân tộc trên địa bàn tỉnh, thể hiện nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

Hoạt động văn hóa - văn nghệ của người Raglai ở Khánh Sơn rất phong phú. Trong năm, lễ Bỏ mả là một trong những nghi lễ lớn nhất của đồng bào Raglai ở Khánh Sơn. Người Raglai quan niệm, có hai thế giới song song tồn tại là thế giới của người sống và thế giới của những người đã khuất. Khi người chết đã được chôn cất, vẫn còn mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn của người chết vẫn còn lẩn khuất trong cõi nhân gian, nên phải làm Lễ Bỏ mả để chính thức chấm dứt mối quan hệ này. Đây là nghi lễ quan trọng nhất trong các nghi lễ vòng đời của người Raglai - lễ chia tay vĩnh viễn giữa người sống và người chết để người chết được trở về thế giới vĩnh hằng. Lễ Bỏ mả thường được tiến hành trong 3 ngày với những nghi lễ, nghi thức, nghi trượng và nghi vật truyền thống mang tính biểu tượng cao, thể hiện đặc trưng dân tộc và mang giá trị gắn kết cộng đồng. Năm 2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa Lễ Bỏ mả của người Raglai ở huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng.

Người Raglai không có chữ viết, ngữ văn dân gian chủ yếu là truyền khẩu với các thể loại: Sử thi akhàt jucar, truyện cổ (akhàt ter), lời nói vần (đờp pacap, pađic pajơu), câu đố (đờp paduah).

Qua câu chuyện trong sử thi akhàt jucar Raglai người nghe thấy được hình ảnh núi rừng, con sông, dòng suối, nông cụ, kiến trúc nhà truyền thống… cũng như cảm động được các số phận khác nhau, những bài học đạo lý làm người qua những lời hát kể.

Truyện cổ của người Raglai rất phong phú và đặc sắc, gồm: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích,… Truyện kể Thần thoại Raglai phản ánh thời kỳ lịch sử xa xưa, mang tính chất hoang đường, huyễn hoặc. Người Raglai cho rằng Trời và Đất là hai vị Thần “Nhang”: Thần Bung sáng tạo vũ trụ; Thần mưa, Thần gió, Thần sấm trồng cây xây núi tạo ra mặt đất.

Truyền thuyết, sự tích: Truyền thuyết Raglai lý giải nguồn gốc loài người, tộc người, lý giải sự ra đời của các họ, các địa danh, đặc biệt nhấn mạnh đến nhân vật và hoạt động luôn thể hiện mối quan hệ mật thiết đến địa bàn cư trú, cùng với quá trình phát triển của tộc người Raglai. Ngoài ra, truyền thuyết của người Raglai còn phản ánh nguồn gốc giữa hai tộc người Raglai và Chăm mà người Raglai luôn nhận mình là em (Chãp sa-ai Raglai adơi: Chăm anh, Raglai em).

Qua truyện cổ tích, người ta biết được người Raglai xưa nhờ học ở loài khỉ, đười ươi mà biết “làm Bà mụ”[11] đỡ đẻ, giữ cho “mẹ tròn con vuông”, phát triển giống nòi chứ không “mổ bụng lấy con ra” như trước. Bên cạnh đó, cũng nhờ học loài khỉ mà con người biết làm cung tên[12], nhờ nhím dạy biết cách dùng gạo nấu cơm, làm rượu[13].

Lời nói vần (đờp pacap, pađic pajơu) gồm các thể loại: thành ngữ, tục ngữ, ca dao; tập trung nhiều nhất là quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của người Raglai. Lời nói vần Raglai còn hướng đến các chuẩn mực đạo đức, lễ nghĩa truyền thống của người Raglai trong việc răn dạy con cái; thể hiện tình yêu nam nữ, quan hệ gia đình, ước mong một gia đình hạnh phúc, tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn” có nhau…

Câu đố (đờp paduah): câu đố của người Raglai xây dựng hình tượng phản ánh dấu hiệu đặc trưng và chức năng của các sự vật và sự việc cụ thể với mục đích kiểm tra, truyền đạt kiến thức về thế giới khách quan.

Chính quyền địa phương cũng đặc biệt quan tâm và luôn tạo điều kiện cho cộng đồng người Raglai tham gia các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian, gồm biểu diễn đàn đá, hát kể sử thi, lễ ăn đầu lúa mới với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ định kỳ hằng năm, như: Hội diễn nghệ thuật quần chúng; liên hoan các làn điệu dân ca Raglai; liên hoan các đội mã la và múa dân gian Raglai; hội thi tìm hiểu di sản văn hóa; Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam...

Hiện nay nhiều xã, thị trấn trong huyện thành lập các đội biểu diễn mã la, đàn đá, đội văn nghệ truyền thống và sẵn sàng phục vụ khách du lịch. Thực hiện Dự án 6 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Khánh Sơn đã trang bị cơ sở vật chất cho các nhà sinh hoạt cộng đồng; hỗ trợ hoạt động cho đội văn nghệ truyền thống tại các thôn; tổ chức phục dựng lễ hội truyền thống; tập huấn, truyền dạy văn hóa phi vật thể.

Sinh hoạt âm nhạc người Raglai Khánh Hoà có nhiều điểm tương đồng với người Chăm, người Ê-đê ở một số nhạc cụ. Nhạc cụ truyền thống của người Raglai ở Khánh Hoà gồm: bộ gõ (Mã la - Chhar), bộ hơi (khèn bầu, sáo…), bộ gảy (Chapi),…

Người Raglai Khánh Hoà thường dùng bộ Mã la 05 chiếc để diễn tấu độc lập hoặc đi kèm với các nhạc cụ khác hoặc dùng để đệm theo các bài hát dân ca. Trong dàn Mã la gồm các mặt chiêng: (1) Char Yna - Chiêng Mẹ, (2) Char Ato - Chiêng Cha, (3) Char Maloá - Chiêng Con gái lớn, (4) Char Dướp - Chiêng Con gái thứ, (5) Chiêng Con gái út[14]. Mã la của người Raglai được diễn tấu theo hình thức tập thể, nếu người Ê-đê đánh chiêng trong tư thế ngồi thì vừa đi vừa nhún nhảy rất độc đáo. Mã la là nhạc cụ quan trọng nhất của người Raglai, có mặt hầu hết các lễ hội, lao động, sản xuất, sinh hoạt; là “vật thiêng” trung gian giao tiếp giưa người với người, giữa người với thần linh. Đàn đá (Patơu tuleng) của người Raglai ở Khánh Hoà lần đầu tiên phát hiện năm 1979 do già làng Bo Bo Ren cất giữ. Bộ đàn đá gồm 12 thanh, ký hiệu A & B, niên đại khoảng 2.500-3.000 năm cách ngày nay đã được công nhận là bảo vật quốc gia (đợt 12) tại Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 18/01/2024; hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Khánh Hoà. Bộ đàn đá trở thành thứ yếu, là công cụ “quyền lực” được mang ra nương rẫy để đuổi chim, đuổi thú bảo vệ mùa màng. Giống như các tộc người Tây Nguyên, người Raglai xem bộ Mã la và đàn đá vừa là nhạc cụ vừa biểu thị sức mạnh tâm linh, là vật thiêng nên được giữ gìn như vật quý.

Ngoài ra, người Raglai còn có các nhạc cụ khác: Ku-puốc (còn gọi là Saraken), Tale-kung (sáo dọc), đàn Chapi... Trong đó, Ku-puốc thuộc họ hơi, chi lưỡi gà tự rung và có nguồn gốc với Đinh - năm của người Ê-đê; đàn Chapi thuộc chi búng gảy, cách chế tác như đàn goong cổ của người Ê-đê.

Dân ca Raglai phong phú về làn điệu, bên cạnh các làn điệu chính cổ truyền, còn có một số làn điệu đã được cách tân phát triển thành làn điệu mới. Các điệu alơu sa-ư - hò, ru con, ru em, đồng dao, lời văn cầu cúng trong các nghi lễ… Các làn điệu dân ca không chỉ nhằm chuyển tải tâm tư tình cảm, giao lưu đối đáp trong lao động sản xuất, sinh hoạt thường nhật và trong các lễ hội cộng đồng mà còn sử dụng diễn xướng dân gian, trong đó có những thiên sử thi hấp dẫn người nghe “năm ngày mười đêm” chưa hết.

3.3. Về kiến trúc

Người Raglai Khánh Hòa còn thể hiện sự tài hoa, khéo léo trong nghệ thuật kiến trúc độc đáo của mình, đó là các nhà mồ mà linh hồn nằm ở tầng mái-tầng trời là chiếc thuyền Kagor và nhà sàn. Những công trình nghệ thuật này hầu hết đều do người Raglai tự thiết kế, xây dựng hay bảo quản tu bổ.

Quy mô nhà mồ tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của chủ nhân. Ở huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh trước kia mái nhà mồ lợp tranh hay lá mây, ngày nay còn lợp bằng tôn, ngói. Cột trong nhà mồ nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nhà lớn hay nhỏ nhưng trong mỗi nhà mồ nhất thiết phải có cột đầu[15] (gưc acoq) và cột chân[16] (gưc tacai); các cột được chạm khắc, trang trí hoa văn núi non, sông suối, con vật và đặc trưng là trái bầu mẹ (cadoh viluai). Trên nóc mái nhà mồ Raglai thường gắn mô hình biểu tượng con thuyền Ahòq (gồm 2 loại: Kagor/kagoq và Kagau) với mục đích là đưa linh hồn của người chết về với ông bà, tổ tiên. Mũi và đuôi con thuyền trang trí hình rồng, rắn garai; cột buồm dựng ngược từ phía đáy thuyền lên với hoa văn trang trí hình mặt trời, mặt trăng, các vì sao, chim cu, trái bầu, hình thoi,… với màu sắc được nghệ nhân sửu dụng lấy từ tự nhiên như lá trầu giã ra trộn với củ nghệ, màu sắc từ đá, sỏi, cây củ có ở trong núi rừng.

Nhà ở truyền thống của người Raglai là nhà sàn (còn gọi là nhà dài). Nhà dài truyền thống của người Raglai Khánh Hoà có nhiều điểm tương đồng với nhà sàn của các tộc người thiểu số ở Việt Nam: cao hơn so với mặt đất, nghiêng và cao dần về phía sau. Mỗi căn nhà đều có cầu thang chính (ở cửa chính) và hai cầu thang phụ ở hai bên đầu hồi, cầu thang này nhỏ hơn chiều ngang của cầu thang chính. Các cầu thang (cả chính và phụ) được làm bằng cây gỗ, có hình giống cái thang và đều có bậc là các số lẻ 5, 7 hoặc 9. Kết cấu nhà gồm: cột cái, cột con, cột chống sàn, xuyên, trính, đòn dông, đòn tay, rui, mè… trong nhà, gian chính là nơi ở của chủ nhân (ông bà, cha mẹ ở bên phải; vợ chồng gia chủ ở bên trái); gian bên phải dành cho con gái mới cưới chồng về; bên trái là nơi nối dài của ngôi nhà khi con gái thứ lấy chồng về ở; nối liền với chái nhà là nhà kho.

Thuyền Kagor được đặt trên nóc nhà mồ trong Lễ bỏ mả người Raglai là biểu tượng chuyển tải thông điệp chia tay vĩnh viễn của người chết với người thân để về với ông bà, tổ tiên. Do chứa đựng nhiều thông điệp, vừa là biểu tượng của thế giới tâm linh vừa là bộ mặt của gia chủ, thuyền Kagor hay Kagau trên nóc nhà mồ do nghệ nhân Raglai đảm trách.

3.4. Về y tế, giáo dục và đào tạo

Để chăm sóc sức khỏe cho bà con, ở tất cả các xã có đồng bào Raglai đều có Trạm y tế kiên cố, mỗi trạm đều có các bác sĩ, hộ sinh, dược sĩ… theo qui định, được trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị và kinh phí hoạt động. Ngành y tế còn thường xuyên tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho các hộ diện chính sách, hộ nghèo là người Raglai ở các địa phương trong tỉnh. Các hoạt động tuyên truyền về vệ sinh phòng bệnh, dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, nuôi con khỏe dạy con ngoan, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm… được tiến hành thường xuyên, góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức bảo vệ sức khỏe trong cộng đồng dân tộc Raglai. Các lớp y sĩ dành cho người dân tộc thiểu số, trong đó có người Raglai luôn được chính quyền địa phương quan tâm và thực hiện, sau khi học viên tốt nghiệp đều được phân công, bố trí việc làm ổn định. Đối với người Raglai Khánh Hoà, vấn đề giáo dục Luật tục được đặt lên hàng đầu. Ngay từ khi đứa trẻ ra đời, cha của đứa trẻ dạy dỗ những điều quy định trong Luật tục. Đến tuổi đến trường, trẻ em Raglai học mẫu giáo và tiểu học với trẻ em Việt tại các trường mầm non và tiểu học ở địa phương. Trong những năm qua, tại các huyện có đồng bào Raglai tập trung sinh sống là: huyện Cam Lâm, thành phố Cam Ranh, huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh có tổ chức lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số (Raglai) cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm nâng cao kỹ năng trong tiếp xúc và làm việc trực tiếp với đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng đã ban hành Kế hoạch số 4866/KH-UBND ngày 02/6/2022 về việc triển khai Chương trình “Nâng cao chất lượng dạy học các môn tiếng dân tộc thiểu số trong chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2021 - 2030” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Học sinh dân tộc Raglai trong tỉnh được miễn học phí và miễn đóng góp các loại quỹ. Hằng năm nhiều học sinh người Raglai được cử tuyển vào đại học và dự bị đại học.

3.5. Về trang phục, ẩm thực

Trang phục truyền thống của người Raglai nói chung có thiết kế kết hợp với chất liệu vải dệt riêng tạo nên một nét khá độc đáo bởi nó làm cho chúng ta dễ nhận ra đó là trang phục của người Raglai. Phụ nữ Raglai mặc cà chăn/váy màu đen hoặc màu xanh đậm, có từ năm đến mười đường hoa văn vòng quanh từ gấu váy lên ngang gối; vòng hoa văn dưới cùng màu đỏ, các vòng bên trên màu trắng. Người Raglai có hai kiểu áo khoang là áo chui đầu và áo có hai vạt trước. Áo chui đầu (gọi theo kiểu dáng) có nguồn gốc từ những chiếc áo làm bằng hai mảnh vỏ cây từ thuở con người chưa biết trồng bông dệt vải. Từ kiểu áo chui đầu, về sau người Raglai sáng tạo ra loại áo xẻ thân trước thành hai vạt, riêng áo nữ có gài nút bên dưới ngực. Chi tiết mà người già lưu ý là: lớp trẻ phải mặc áo chui đầu cho kín đáo, những người có con mới mặc áo xẻ thân trước thành hai vạt để tiện mở ra khi cho con bú. Bên trong áo, phụ nữ Raglai mặc lót cái yếm, hai dây yếm buộc quàng qua cổ thả sau lưng. Về sau dây yếm trở thành trang sức, may riêng và gắn vào vòng kiềng đeo cổ. Đồ trang sức của nữ có cong vòng đeo cổ tay, vòng đeo cổ, các loại vòng cườm, bông tai bằng đồng thau hay bằng bạc (trong sử thi còn thấy có lục lạc). Đàn ông Raglai mặc áo khoang, cà giọt/khố, một số ít mặc quần. Lưng buộc dây thắt lưng. Cả nữ và nam đều có khăn quấn đầu. Ngoài trang phục sử dụng thường ngày cho từng giới còn có trang phục lễ hội, trang phục cho từng đối tượng khác nhau trong xã hội.

Chất liệu dùng nhuộm màu là những cây cỏ sẵn có trong thiên nhiên. Những chất liệu này còn dùng trang trí hoa văn hình tượng trên nhà mồ, trên các con thuyền trong nghi lễ cầu cúng và trên những cánh diều, góp phần thư giãn vào những ngày nhàn rỗi.

Ẩm thực người Raglai chủ yếu lấy từ núi rừng, nương rẫy và mang tính tự cung tự cấp. Những món ăn truyền thống của người Raglai Khánh Hoà còn được duy trì, được khách biết đến, đó là:

* Các món ăn từ gạo, bắp, khoai: Người Raglai chủ yếu trồng lúa rẫy nhưng năng suất không cao. Do thường xuyên thiếu gạo, người Raglai nấu cơm độn với các loại hạt, củ khác như­ bắp, đậu, khoai mì, khoai chạp, khoai sáp, khoai từ, khoai mài. Khoai, sắn được gọt vỏ, cắt thành khúc, đem luộc hoặc giã nhuyễn làm bánh, nấu cháo hoặc cắt thành từng lát mỏng, phơi khô để ăn lâu dài, cũng có thể để cả lát khô luộc ăn hoặc giã thành bột làm bánh.

Người Raglai cũng thường dùng một số loại khoai rừng có độc tố: Củ nằn, củ do, củ lakai, đào lên, gọt vỏ, thái thành lát mỏng, ngâm nước 2-3 ngày, xả nước nhiều lần để khử bớt chất độc, rửa sạch, đem luộc ăn hoặc phơi khô cất ăn dần. Nếu bị ngộ độc, cho uống nước dây máu để giải độc.

Hạt cây luăk, cây kăt, cây kuh, cây săng đem giã bỏ lớp vỏ, luộc bỏ một nước, luộc lần hai mới ăn. Có thể ăn ngay hoặc phơi khô nấu với bắp. Vỏ cây la pá, cạo sạch lớp vỏ ngoài, cắt thành miếng, luộc xả nước rồi luộc lần 2, có thể thái mỏng ăn hoặc băm nhỏ nấu với bắp.

Ngoài ra, người Raglai còn ăn các loại hoa quả rừng: quả thị, trái da đá, quả xay, mằn tăn, trái nâu... Mía lau là loại mía người Raglai trồng ở những vạt đất cạnh các bờ suối, để ăn cả cây hoặc làm đ­ường theo phương thức cổ truyền: róc vỏ, dát mỏng nấu cho ra chất đ­ường rồi cô lại vào chén, dùng để nấu chè như­ người Chăm.

Canh là món thường thấy trong bữa ăn của người Raglai. Canh được chế biến từ các loại rau, bầu, bí, đu đủ, mít hoặc ngọn bầu, ngọn bí, sung và các loại lá cây rừng như­ lá bép, lá klăn, lá ô chao, lá paranhau, các loại măng, nấm. Thông thường có 3 loại canh:

Canh lỏng: nấu bằng các loại rau, quả, và để có vị ngọt, bỏ thêm lá hoặc bột lá paranhau. Lá paranhau vừa ngọt vừa thơm, phơi khô giã nhỏ và được coi như­ một loại bột ngọt.

Canh đặc: nấu nh­ư canh lỏng nhưng bỏ thêm bột bắp hoặc gạo, nấu đặc sền sệt, có thể ăn thay cơm, cháo.

Canh chua: ngâm gạo một đêm, đem giã với lá bép rồi vo thành viên, dùng lá chuối ủ 3 ngày đêm cho lên men. Loại này có thể xâu thành từng xâu treo trên giàn bếp, khi dùng giã thành bột cho vào nồi canh tăng thêm chất chua.

Ngoài ra, còn có các loại canh như­ lá khoai mì non, lá đu đủ, luộc lên, giã nhuyễn với muối rồi nấu thành canh.

* Các món ăn từ cá, thịt:

Cá nước ngọt bắt từ suối. Cá được chế biến bằng cách kho, n­ướng, nấu canh, làm mắm. Cách làm cá là mổ bỏ ruột, rửa sạch kho với muối ớt hoặc nướng cả con trên bếp than. Nếu để dự trữ, họ phơi khô, treo lên giàn bếp để nướng hoặc nấu canh ăn dần.

Người Raglai thường săn bắt nhộng kiến đỏ để nấu cháo hoặc nấu canh. Các loại trăn, rắn, tắc kè, kỳ đà hoặc các loài bò sát khác thường chế biến bằng cách bỏ đầu, lột da, chặt thành khúc nướng hoặc băm kho muối ớt hay nấu canh rau. Các loại thú rừng khác cũng được chế biến như­ trên.

Các loại mối cánh, thường xuất hiện vào mùa mư­a ở các gò mối, được rang lên cho rụng cánh rồi kho hoặc nấu canh. Các loại ếch, ễnh ­ương, nhái khi bắt về được mổ bỏ ruột, trụng nước sôi cho sạch nhớt, có thể luộc, kho, nấu canh hoặc nướng nguyên con. Nếu bắt được nhiều, họ xỏ xâu treo trên giàn bếp.

Những món ăn từ thịt thú rừng:

Con cúi lúi người Raglai xem như­ con heo đất, thịt rất ngon, ăn thịt, ăn cả bộ lòng lẫn phân. Cách chế biến là thui con vật rồi cạo sạch lông, ngoài thịt được cắt thành từng miếng lớn hoặc băm nhỏ để kho hay nấu canh, họ nướng nguyên cả bộ lòng chấm muối ớt ăn rất thơm. Đây là món ăn độc đáo của người Raglai bởi nó dùng làm vật hiến sinh trong lễ tế thần lúa và ngoài thịt thì phân con lúi cúi còn được người Raglai dùng làm thuốc chữa nhiều chứng bệnh, như: làm giảm đau nhức, sây sẩm mặt mày...

Con mẻn làm thịt, lột da, phần da họ dùng làm mặt trống, bộ lòng làm sạch, chấm muối, nước luộc thịt dùng nấu canh rau. Phần thịt cắt miếng kho muối ớt hoặc xiên nướng. Nếu có nhiều thịt mẻn, họ xẻ phơi khô để dành ăn lâu dài. Thịt khô chỉ dùng nấu canh. Cách nấu canh thịt khô của họ khác tộc người Chăm là không thái nhỏ mà chỉ để nguyên miếng to vào nồi canh, khi chín họ vớt ra, xé nhỏ giã với muối ớt. Phần xương, đầu họ hầm với bầu, bí hay đu đủ, còn xương cũng phơi khô để dành ăn dần.

Nai rừng làm thịt, xẻ da ra từng miếng thui cho sạch lông, đem phơi khô. Khi ăn luộc nhừ rồi cắt thành miếng nấu canh với cá khô hoặc muối ớt. Có một cách chế biến khác là xẻ thịt thành những miếng nhỏ, kho với muối ớt, cũng có thể luộc hoặc nướng. Nước luộc thịt nấu canh, thịt xắt miếng chấm muối ớt. Nếu nhiều họ phơi khô cả thịt lẫn xư­ơng để dành nấu canh rau hay hầm đu đủ, măng, mít.

Heo rừng (còn gọi là ul keh) thui nguyên con, cạo sạch lông, làm sạch bộ lòng rồi luộc, nước luộc để nấu canh (lỏng, đặc, chua) tùy thích, phần thịt họ xẻ cả da lẫn thịt cắt nhỏ kho muối ớt, phần x­ương có thể hầm với đu đủ, mít, bí, bầu. Nếu có nhiều thịt thì đem phơi khô ăn dần. Thịt heo rừng khô họ thường nấu canh, ăn rất ngon.

Ngày nay, rừng nguyên sinh ngày càng thu hẹp, thú rừng ngày càng khan hiếm công với việc săn bắt thú rừng đã bị cấm, người Raglai hiện nay chủ yếu ăn thịt từ chăn nuôi như­ heo, trâu, bò, gà, vịt, ngan... cách chế biến ảnh hưởng nhiều của người Chăm và người Kinh, chủ yếu là nướng nguyên con hoặc làm thịt rồi xiên nướng, luộc chấm muối ớt hoặc nấu với các loại rau hoặc lá cây như­ lá đu đủ, lá bép, sả... Thịt trâu, bò chế biến chủ yếu là xiên nướng, luộc, nấu canh hoặc phơi khô ăn dần.

* Các loại bánh: Quá trình cộng cư với người Việt, người Raglai tiếp thu cách làm bánh của người Chăm và người Kinh. Các loại bánh gồm: Bánh tét, bánh đúc, bánh ngọt, bánh tổng hợp…

* Các loại đồ uống: rượu cần là đặc sản của người Raglai, được dùng trong sinh hoạt hằng ngày, trong giao tiếp, cúng tế thần linh và lễ hội làng. Rượu cần được chế biến từ các loại bắp, bo bo, cao lương, khoai mì; ủ trong các ché từ 2-3 tháng là có thể dùng được.

3.6. Về tín ngưỡng, tôn giáo

Tôn giáo truyền thống của người Raglai là thờ cúng tổ tiên (Mok kei, awei ama), thần đất (Yang tanah), thần rừng (Yang lakaik) thông qua các lễ nghi hằng năm gắn liền với vòng đời người và mùa rẫy rừng.

Người Raglai ở Khánh Hoà quan niệm có ba thế giới: trần gian, ông bà và thần linh. Ranh giới để phân biệt thế giới trần gian và thế giới ông bà là cái chết. Thế giới trần gian có các vị thần đại diện cho ba tầng: tầng Trời (thần Mặt Trời, thần Mặt Trăng, thần Tinh Tú, thần Mưa, thần Sấm Sét…); tầng mặt đất (thần Sông Biển, thần Rừng, thần Núi…); tầng dưới mặt đất (thần Lửa thiêng lòng đất, thần Mãng xà…). Thế giới ông bà/tổ tiên có các vị thần: tầng Trời là Tổ sanh; tầng mặt đất là vị thần trong nhà ông bà, thần sông, thần rừng, thần núi; tầng dưới mặt đất là nơi cư ngụ của quỹ sứ. Thế giới thần linh có mặt ở cả hai nơi: thế giới trần gian và thế giới ông bà. Người Raglai quan niệm, Tổ sanh ban cho mỗi người thể xác, vía, hồn, tinh.

Tín ngưỡng của người Raglai ở Khánh Hòa là tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh (Animism), mọi sự vật, hiện tượng chung quanh đều có thần linh (Nhang, yàc) cai quản.

Người Raglai tin rằng, mọi hiện tượng thiên nhiên đều do thần linh tạo ra để hỗ trợ hoặc trừng phạt những hành vi sai trái làm ô uế thần linh, vi phấm điều cấm trong Luật tục. Người vi phạm ngoài việc nạp “cheo” cho làng còn kèm theo lễ vật[17] cúng thần linh; Luật tục cũng nêu rõ, loạn luân là tội nặng nhất phải nộp phạt một hoặc hai trong năm loại tài sản quý giá[18] nhất của người Raglai.

Luật tục Raglai được hình thành từ phong tục tập quán, nhưng mang tính khái quát chung của cộng đồng tự quản và có quy định chế tài đối với người vi phạm. Phong tục tập quán của người Raglai được thể hiện rõ nét qua:

Thứ nhất, phong tục sinh nở: được tính từ khi người đó được sinh ra đến lúc 9 tuổi, với các lễ: khai sinh, đặt tên, lễ cúng đeo vòng, lễ cầu buộc dây thắt nút lãnh thuế đời.

Lễ khai sinh, đặt tên thường được tổ chức vào buổi sáng. Nếu đứa trẻ là con trai thì người cha đem cây ná bắn 6 mũi tên về phía mặt trời mọc và 3 mũi tên về phía mặt trời lặn với mong muốn đứa trẻ khoẻ mạnh, thông minh, khéo léo. Lễ này còn mục đích là để tạ ơn Nhang Bà Mụ và các Nhang liên quan khác đã phù hộ cho sinh đẻ “mẹ tròn con vuông”. Lễ cầu buộc dây thắt nút lãnh thuế đời nhằm thông báo cho ông bà, tổ tiên và thần linh từ nay đứa trẻ bắt đầu gánh trách nhiệm của một con người. Lễ cúng đeo vòng được tiến hành khi đứa trẻ chuẩn bị tập đi (từ 1-2 tuổi) nhằm mục đích cầu mong đứa trẻ khoẻ mạnh, không ốm đau, bệnh tật, mau ăn chóng lớn. Qua thời gian, nghi lễ này cũng biến đổi với nghi thức đơn giản hơn, nơi làm nơi không.

Thứ hai, phong tục trưởng thành được tiến hành nhằm cầu Nhang Tổ Sanh ban cho sức khoẻ, may mắn và khấn để biết mình bị vị thần nào quở phạt để xin tạ lỗi. Đây là nghi lễ quan trọng và bắt buộc nên được tiến hành ở nơi trang trọng nhất trong nhà, đó là nơi có cột cái nhà. Lễ vật dâng cúng để trên chiếc mâm bằng gỗ hoặc tre có chân cao, thông thường gồm: mấy xấp trầu nguyên lá, cau nguyên trái, đĩa cau têm trầu, đèn cầy đổ bằng sáp ong, một ché rượu; nhà khá giả, giàu có thfi có thêm rượu nếp, hai ché rượu cần, bốn con gà, con heo, cơm nếp, rượu bầu,…

Thứ ba, phong tục hôn nhân: người Raglai quan niệm có vợ có chồng là có sự sống, có giống nòi.

Đến tuổi lập gia đình, trai gái thích nhau, tìm hiểu nhau qua lao động nương rẫy hoặc lễ hội làng. Tuy nhiên, dù là chế độ mẫu hệ nhưng con trai vẫn là người chủ động trước, nếu con gái tỏ tình trước bị coi là “con gái sắt hư, con gái sắt thúi”. Đàng trai là người tìm ông mai ông mối để giúp việc dạm ngõ, hỏi, cưới và cả giải quyết các vướng mắc phát sinh trong suốt đời sống vợ chồng sau này.

Lễ hỏi, lễ trao đồ cho cô dâu, lễ cưới đều do nhà trai lo và tổ chức lễ hỏi là tại nhà gái, vào lúc nông nhàn (thu hoạch lúa xong). Lễ vật gồm trầu, cau, cuộn dây cườm (màu trắng, xanh hoặc đen), vòng đeo tay, khăn, áo, vải (nếu có) được nhà trai trao cho nhà gái và được nhà gái lại quả vào sang hôm sau khi nhà trai ra về. Lễ cưới của người Raglai được diễn ra sau lễ trao đồ cho cô dâu. Nếu trai gái còn trong trắng (chưa có quan hệ tình dục) thì tiến hành lễ cưới trang trọng, ngược lại thì cưới phạt. Ngày nay, đám cưới người Raglai đã ảnh hưởng đám cưới người Kinh, nhiều phong tục và nghi lễ truyền thống đã biến đổi, những bài dân ca và tiếng Mã la do người Raglai biểu diễn dần thay thế dòng nhạc Việt, nhạc Tây với loa phát thanh hết công suất.

Thứ tư, phong tục báo hiếu (lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ): mang ý nghĩa tỏ lòng hiếu thảo và khắc ghi công ơn trời biển của cha mẹ, đồng thời giáo dục con cháu về đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ. Lễ được tiến nơi đặt cột nóc nhà, cha mẹ ngồi vị trí trang trọng nhất cạnh mâm cỗ lễ, hai bên là người già, dòng họ và xóm làng ngồi xung quanh. Sau lời khấn vái của người con, cha mẹ cầu xin Nhang phù hộ cho con và gia đình khoẻ mạnh, no đủ. Đây là nét đẹp văn hoá truyền thống của người Raglai, mang tính nhân văn sâu sắc.

Thứ năm, phong tục tang ma

Người Raglai quan niệm rằng, trong cõi nhân gian có hai thế giới cùng tồn tại song song, đó là thế giới của người đang sống (cõi tạm) và thế giới của những người đã khuất (vĩnh hằng). Người chết đã chôn rồi, vẫn chưa dứt mối quan hệ với người đang sống, bởi linh hồn của người chết vẫn còn lẫn khuất trong cõi nhân gian. Vậy là phải có một lễ cuối cùng nữa, đó là Lễ Bỏ mả[19]. Người chết và người sống chỉ chấm dứt mối quan hệ sau khi tiến hành xong Lễ Bỏ mả. Người Raglai tin rằng, chết không phải là điểm kết thúc của một đời người, mà chỉ là sự chuyển hoá từ thế giới này sang thế giới khác. Do đó, Lễ Bỏ mả là lễ quan trọng nhất trong đời sống của một con người - là ngày chia tay vĩnh viễn giữa người đang sống và người đã chết để người chết thực sự trở về với cõi vĩnh hằng. Đây là lễ quan trọng của cộng đồng và được quy định trong Luật tục.

Theo tập tục truyền thống của người Raglai, Lễ Bỏ mả (còn gọi là Lễ Bỏ ma) có thể tổ chức theo hai hình thức: Bỏ mả cùng lúc với đám tang và Bỏ mả có thời gian chuẩn bị. Bỏ mả cùng lúc với đám tang sẽ có nhiều mặt thuận lợi cho gia đình hơn, song hiện nay, ở Khánh Sơn nhiều gia đình có người chết vẫn chọn hình thức bỏ mả có thời gian chuẩn bị, vì nó phù hợp với tình cảm của con người khi buộc phải dứt đứt mọi quan hệ với người thân. Lễ Bỏ mả được tiến hành trong 3 ngày, với nhiều lễ thức khác nhau. Mỗi lễ thức mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, được truyền từ đời này sang đời khác và hầu hết còn được bảo lưu nguyên vẹn.

Một số nghi lễ truyền thống đặc trưng của tộc người Raglai ở Khánh Hoà

- Lễ Cải sanh: Thông thường, sau Lễ Bỏ mả người chết về với thế giới ông bà và đầu thai trở lại trần gian làm con cháu trong gia đình; cũng do đứa trẻ “xấu số” nên thường xuyên bệnh tật, thậm chí tử vong. Do đó, để đứa trẻ khoẻ mạnh, cần phải làm lễ Cải sanh. Lễ vật gồm: trầu cau, rượu cần, trứng gà sống, gà để bói lưỡi, heo (nếu người khá giả), đặc biệt là chiếc bè làm bằng bẹ chuối kết lại. Thầy cúng là người có khả năng giao tiếp với thần linh (gọi là thầy Cati/toòng teng). Sau khi cúng xong, người nhà mang chiếc bè ra rừng, suối thả. Để trả ơn thầy Cati, người nhà cúng thần hồn của thầy cúng ba con gà hoặc một cái đùi heo và một bầu rượu cần.

- Lễ mừng thọ: người Raglai tiến hành khi thấy mình già yếu để cầu xin Nhang cho khoẻ mạnh hoặc từ 50 mùa rẫy trở lên, thông thường chỉ làm cho đàn ông hoặc một vài phụ nữ có tài ăn nói được xóm làng chấp nhận. Lễ vật gồm: trầu cau, gà, trứng gà sống, rượu cầu, heo hoặc trâu bò. Người Raglai dựng cây nêu trước nhà và cột heo (hoặc trâu bò) tại gốc nêu và đập cho cho vật chết, sau đó đem vào thọc tiết. Lễ này cũng được bày tại cột cái nhà để cúng tạ ông bà, tổ tiên.

- Lễ cầu phúc, chúc phúc: được tiến hành khi có khách quý đến làng hoặc đến nhà tộc họ để tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ của cộng đồng làng hoặc gia tộc đối vơi vị khách quý. Lễ này được tiến hành nơi trang trọng nhất với sự chứng kiến của các thành viên trong làng. Chủ lễ là người có vị trí quan trọng trong làng (có thể là Chủ làng, đầu khôn làng hoặc tộc trưởng) hoặc là người có đạo đức, uy tín trong làng. Lễ vật nhất thiết phải có là nước mối đựng trong chén đồng – loại chén quý dùng trong nghi lễ cầu cúng. Nước mối được búng, xoa lên đầu, mặt người hưởng lễ một cách tượng trưng và cẩn trọng.

Ngoài các nghi lễ chính của vòng đời người, người Raglai còn nhiều nghi lễ cầu cúng khác phản ánh đa dạng nhu cầu tâm linh trong đời sống hiện sinh, do gia đình (chủ Nhang) hoặc mời thầy cúng thực hiện. Lễ cúng do chủ Nhang tự thực hiện, gồm các lễ: cúng Tổ thần ông bà cha mẹ, Tổ tông dòng dõi, cúng ông bà, cúng hồn ma, cúng các vị thần bổn mạng. Lễ do thầy cúng thực hiện giúp gia chủ, như: cúng chữa bệnh đau do Nhang quở phạt hoặc vướng phải Nhang độc (Ó ma lai), cúng cầu hồn về, cúng lên đồng…

Từ sau giải phóng, cuộc vận động chống mê tín, giảm cúng tế, một số người Raglai đã đi tìm một đức tin mới, là Công giáo hoặc Tin Lành như xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh hiện nay có 2.972 người/648 hộ, trong đó có 336 người/68 hộ theo Tin Lành và 284 người/60 hộ theo Công giáo[20]; xã Diên Tân, huyện Diên Khánh có 3.296 người/858 hộ, trong đó 276 người Công giáo và 38 người theo Tin Lành[21].

Kết luận

Trải qua hơn 370 năm xây dựng và phát triển (1653-2024), người Raglai Khánh Hoà đã có mặt trên vùng đất này từ rất sớm. Từ truyền thống đến đương đại, cùng với yếu tố cộng cư, giao lưu, tiếp biến, nhiều đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội… người Raglai ở Khánh Hoà đã tạo nên những giá trị văn hóa độc đáo, thích ứng với yêu cầu vì sự phát triển bền vững được cộng đồng chấp nhận, chia sẻ, nuôi dưỡng, từ đó chi phối mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào này nơi đây. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, người Raglai Khánh Hoà luôn đoàn kết, kề vai sát cánh cùng với người Kinh và các dân tộc anh em khác lao động sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tạo ra cho cộng đồng những giá trị vật thể và phi vật thể để khẳng định bản lĩnh dân tộc mình, có bản sắc riêng, phong phú và độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức nhưng mang tính thống nhất trong đa dạng của nền nền văn hóa Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển của Khánh Hoà nói riêng và cả nước nói chung.

Việc nghiên cứu tìm hiểu người Raglai ở Khánh Hoà không thể không tính đến những yếu tố mới do quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá tộc người Việt nói riêng, không thể không so sánh với các tộc người khác cùng ngữ hệ và có văn hoá gần với văn hoá Raglai ở Ninh Thuận, Bình Thuận để tìm thấy điểm tương đồng và dị biệt của nó, từ đó khẳng định những giá trị tích cực nhằm kế thừa và phát huy trong bối cảnh kinh tế, văn hóa - xã hội là điều rất quan trọng và cần thiết, tạo điều kiện để đồng bào Raglai vươn lên, đủ bản lĩnh hội nhập và phát triển, cùng 35 tộc người khác đưa Khánh Hoà tiếp tục phát triển.



Tài liệu tham khảo



1. Nguyễn Hữu Bài-Trần kim Hoàng-Lê Văn Hoa-Trần vũ-châmliaq Riya Tiẻnq (2014), Văn hoá dân gian Raglai ở Khánh Hoà, Nxb. Văn hoá-Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Sakaya Trương Văn Món (2014), “Sự biến đổi văn hóa và tôn giáo của người Raglai ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 5 (131).

3. UBND tỉnh Khánh Hoà (2003), Địa chí Khánh Hoà, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Univercity of Forida libbaries (1966), Minorit groups in the republic of Vietnam, contributors: Joann L. Schrock, William Stockton, Jr, Elaine M. Murphy, Mariloa Fromme.

5. Lịch sử Đảng bộ các xã:

- Đảng bộ xã Diên Toàn (2019), Lịch sử cách mạng xã Diên Toàn (1945 – 2015), in tại Cty Cổ phần In và Thương mại Khánh Hòa;

- Đảng bộ xã Diên Đồng (2021), Lịch sử hình thành và phát triển xã Diên Đồng (1976 – 2015), in tại Cty TNHH Kim An Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Đảng bộ xã Diên Thọ (2020), Lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển xã Diên Thọ (1945 - 2015), in tại Cty TNHH Kim An Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Đảng bộ xã Diên Tân (2019), Lịch sử hình thành và phát triển xã Diên Tân (1975 – 2015), in tại xưởng in Quân khu 7, Thành phố Hồ Chí Minh;

6. Tư liệu phỏng vấn sâu:

- Ông Mấu San (sinh năm 1990), Công chức Văn hóa - xã hội xã Sơn Bình, huyện Khánh Sơn;

- Ông Bo Bo Hùng (sinh năm 1976), Viên chức Trung tâm Văn hoá-Thông tin và Thể thao huyện Khánh Sơn;

- Chị Tro Thị Hợp (sinh năm 1991), Bí thư Chi bộ thôn, Trưởng thôn Chi Chay, xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn;

- Chị Bế Thị Lê (sinh năm 1990), Công chức Phòng Văn hóa & Thông tin huyện Khánh Vĩnh.

7. Trang website:






[1] Khoảng 40 con sông, dài từ 10km trở lên; dọc biển cứ khoảng 5-7km có một cửa sông. Sông ngắn và dốc.


[2] Lấy quốc lộ 27 làm ranh giới.


[3] Raglai Bắc nằm ở vùng núi phía Tây Nha Trang và một nửa là nhóm phía Nam sống ở phía Tây Phan Rang. Raglai Nam sống trên một dải đất núi dài gần như song song với bờ biển từ Phan Rang (ở phía Bắc) đến Phan Thiết (ở phía Nam) (Nguồn: Univercity of Forida libbaries (1966), Minorit groups in the republic of Vietnam, contributors: Joann L. Schrock, William Stockton, Jr, Elaine M. Murphy, Mariloa Fromme, tr.573).


[4] Tham khảo:

- Nguyễn Hữu Bài - Trần kim Hoàng - Lê Văn Hoa - Trần vũ - châmliaq Riya Tiẻnq (2014), Văn hoá dân gian Raglai ở Khánh Hoà, Nxb.Văn hoá - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Lịch sử cách mạng xã Diên Toàn (1945 - 2015), Lịch sử hình thành và phát triển xã Diên Tân (1975 - 2015), Lịch sử cách mạng xã Diên Thọ (1945 - 2015), Lịch sử hình thành và phát triển xã Diên Đồng (1976 - 2015),...

- Tư liệu điền dã, phỏng vấn sâu ngày 07/7/2024.


[5] UBND tỉnh Khánh Hoà (2003), Địa chí Khánh Hoà, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.53.


[6] Người Raglai theo chế độ mẫu hệ, con theo họ mẹ và giữ quan hệ huyết thống suốt 7 đời. Con gái cưới chồng, người chồng về sống trong nhà vợ (gọi là bán thân cho nhà vợ) và là trụ cột nhà vợ nhưng người đàn bà là chủ và quán xuyến mọi việc trong gia đình. Người này gọi là Mủq sàc/Po sàc (bà chủ nhà/chúa chủ nhà). Khi làm nhà mới, người đầu tiên bước vào nhà để làm lễ cúng “cột cái nhà” là Mủq sàc. Trong lễ ăn mừng đầu lúa mới (bơc Cakìq), người ăn chén cơm, bát cháo bắp hầm đầu tiên là bà chủ nhà. Người con gái út trong gia đình Raglai được thừa hưởng căn nhà chính (sàc inã - nhà Tổ Mẫu).


[7] Nguyễn Hữu Bài - Trần kim Hoàng - Lê Văn Hoa - Trần vũ - châmliaq Riya Tiẻnq (2014), Văn hoá dân gian Raglai ở Khánh Hoà, Nxb.Văn hoá - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.22.


[8] Có người còn nhận mình là Người của Rừng (Ràc dlai).


[9] Lễ hội trái cây Khánh Sơn năm nay diễn ra từ ngày 10-13/8/2024.




[11] Truyện Bà mụ khỉ, Bà mụ đười ươi


[12] Truyện Con người


[13] Truyện Lời nguyền của nhím


[14] Nguyễn Hữu Bài-Trần kim Hoàng-Lê Văn Hoa-Trần vũ-châmliaq Riya Tiẻnq (2014), sđd, tr.164.


[15] Chôn phía trên đầu người chết


[16] Chôn phía phía chân người chết


[17] Lễ vật gồm: nguyên con heo, gà, ché rượu, trầu, cau, trầu têm và có thêm chén đồng đựng nước mối (người phạm tội nặng), “gà cắt cổ, rượu rót bát” (tội nhé nhất).


[18] Năm loại tài sản quý giá nhất của người Raglai là: mã la, mâm thau, con trâu, nồi đồng và ché cổ.


[19] Lễ Bỏ mả của người Raglai được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia tại Quyết định số 5079/QĐ - BVHTTDL ngày 27/12/2012 thuộc loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng.


[20] Sakaya Trương Văn Món (2014), “Sự biến đổi văn hóa và tôn giáo của người Raglai ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 5 (131), tr.4


[21] Đảng bộ xã Diên Tân (2019), Lịch sử hình thành và phát triển xã Diên Tân (1975 – 2015), in tại xưởng in Quân khu 7, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.15.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...