Nguyễn Chí Bền vừa ra mắt bạn đọc một cuốn sách chuyên khảo “Lịch sử văn hóa biển Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, tháng 9, 2024), gồm 351 trang chính văn, 63 trang phụ lục, 30 trang ảnh màu.
Sách gồm các nội dung sau:
-Mở đầu.
-Chương 1: Tình hình nghiên cứu văn hóa biển Việt Nam ở trong nước và nước ngoài.
-Chương 2: Việt Nam là một quốc gia biển.
-Chương 3: Chủ thể và khách thể văn hóa biển Việt Nam.
-Chương 4: Các loại hình, thể loại và thành tố của văn hóa biển Việt Nam.
-Chương 5: Diễn trình lịch sử của văn hóa biển Việt Nam.
-Chương 6: Sự biến đổi văn hóa biển Việt Nam trong không gian.
-Chương 7: Bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa biển Việt Nam.
-Kết luận.
Một cuốn sách mang tính khái luận, bao quát về lịch sử văn hóa biển Việt Nam là rất cần thiết trong bối cảnh đất nước có chiến lược về phát triển biển trong bối cảnh thế giới xem thế kỷ XXI là “thế kỷ của đại dương”.
Nhận thấy cuốn sách “có nhiều vấn đề” trong cách tiếp cận, biên soạn, tôi xin trao đổi về một số nội dung chính yếu mà tác giả đã thể hiện.
1. Sai về phương pháp biên soạn
Nhìn qua mục lục cuốn sách chúng ta thấy rõ tác giả không phải tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng lịch sử, mà chủ yếu trình bày các thành tố, nội dung về văn hóa biển. Chỉ có duy nhất chương 5 “Diễn trình lịch sử của văn hóa biển Việt Nam” là trình bày theo lịch đại. Trong chương này, tác giả chia lịch sử văn hóa biển Việt Nam làm 4 giai đoạn: tiền sử, sơ sử; thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên; thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên; những năm đầu thế kỷ XXI.
Các chương 3, 4, 6, 7 được tác giả trình bày theo cắt lớp ngang, tức theo đặc điểm của văn hóa biển. Như chương 4 “Các loại hình, thể loại và thành tố của văn hóa biển Việt Nam” gồm các nội dung về: văn hóa khai thác biển, đảo; văn hóa thích ứng biển cả (sáng tác ngữ văn, thiêng hóa các loài vật từ biển và các nhân vật lịch sử, thờ nhân thần, sáng tạo các tri thức bản địa, xây dựng các thiết chế văn hóa (vạn chài, nhà văn hóa); văn hóa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Đây lại là chương thể hiện những đặc điểm của văn hóa biển Việt Nam.
Nếu tên sách đã là “lịch sử văn hóa biển” thì các nội dung trong sách phải trình bày theo diễn trình lịch sử. Ví dụ như lịch sử khai thác biển đảo, lịch sử tín ngưỡng, lịch sử tri thức bản địa… mới phù hợp với cách thức tiếp cận mà mình đã đề ra ngay từ đầu; chứ không thể chỉ có 1 chương “cắt dọc” (lịch đại), còn các chương khác thì “cắt ngang” (đồng đại). Điều này cho thấy sự lúng túng, bất nhất, không định hướng được phương pháp nghiên cứu căn bản của tác giả. Viết lịch sử là phải cho bạn đọc thấy được lịch sử phát triển của đối tượng theo hướng tuyến tính của vấn đề.
Những công trình như Lịch sử văn hóa Việt Nam (2015), Văn hóa Việt Nam (1945-1975) (2019) do Nguyễn Xuân Kính chủ biên đã phân kỳ rất rõ lịch sử văn hóa Việt Nam. Trong mỗi thời kỳ chia thành các giai đoạn, trong một giai đoạn có nhiều thời đoạn; rất tường minh. Về nội dung trong mỗi thời kỳ chia thành: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần. Thiết tưởng đó là những tham khảo hữu ích cho tác giả khi thực hiện công trình về lịch sử văn hóa biển này.
2. Cấu trúc lộn xộn
Văn hóa biển gồm các giá trị về văn hóa hóa xã hội, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân biển đảo.
Trong chương 4 “Các loại hình, thể loại và thành tố của nền văn hóa biển Việt Nam”, Nguyễn Chí Bền chia thành 3 mục: “Văn hóa khai thác biển, đảo”, “Văn hóa thích ứng biển cả”, “Văn hóa bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển”.
Trong mục “Văn hóa khai thác biển, đảo” gồm các thể loại: “Đóng tàu thuyền và sửa chữa tàu thuyền để ra khơi” (tr.162-170), “Đánh bắt thủy, hải sản” (tr.168-171), “Chế biến hải sản từ biển khơi về” (tr.171-173), “Khai thác nước biển làm muối” (tr.173-174), “Nuôi trồng thủy sản” (tr.175), “Khai thác mặt biển làm đường vận chuyển hàng hóa, quân sự” (tr.175-176).
Quả thật tôi không hiểu khái niệm “thể loại” mà tác giả đưa ra để chỉ cái gì?
Mục 4.2.2 “Thiêng hóa các loài vật từ biển và các nhân vật lịch sử có mục a. “Thờ thần tự nhiên”(tr.180-216) mà không có các mục tiếp theo như b, c… Đến trang 216 lại là mục 4.2.3 Thờ nhân thần”. Không hiểu sao tác giả lại cấu trúc lộn xộn chỗ này.
Kết luận chương này, tác giả viết:”Như vậy, văn hóa biển Việt Nam đa dạng về loại hình, phong phú về thành tố và tác phẩm” (tr.244).
Đọc hết chương này tôi cũng không thể hình dung được thế nào là “loại hình”, “thành tố”, “thể loại”, “tác phẩm” về văn hóa biển Việt Nam với cách phân chia lẫn lộn của ông Bền như thế. Tác giả đã dùng thuật ngữ văn học (thể loại) để chỉ các nội dung của thành tố văn hóa biển là không phù hợp.
Cách phân chia này của tác giả đã bỏ qua những thành tố quan trọng của văn hóa biển về khía cạnh vật chất như nhà ở, trang phục, ẩm thực, ngư cụ. Ở dạng thức văn hóa tinh thần, cuốn sách cũng không đề cập một cách đầy đủ đến đời sống tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, diễn xướng dân gian của cư dân vùng biển đảo Việt Nam vốn rất phong phú, đa dạng suốt từ Bắc chí Nam.
3. Sai về nội dung nghiên cứu
Chú thích sai cửa biển Tư Dung ở Huế thuộc thành phố Đà Nẵng. Cho rằng Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến đem binh thuyền vào cửa Soài Rạp và cửa Đại vào Mỹ Tho và Cai Lậy (tr.127). Ông Bền đã “có công” khi đem cửa biển Tư Dung ở xã Lộc Bình (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) về với Đà Nẵng. Người Hoa có vào Cai Lậy (Tiền Giang) thời chúa Nguyễn đâu mà viết như vậy.
Tác giả Nguyễn Chí Bền đã rất khiên cưỡng khi biến các nhà chính trị, quân sự trong lịch sử thành các “danh nhân văn hóa biển”: Ngô Quyền là “nhà văn hóa biển đầu tiên của Việt Nam” (tr.133-138); Trần Quốc Tuấn là “nhà văn hóa biển của thế kỷ XIII” với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 (tr.138-140); Nguyễn Hoàng là “nhà văn hóa biển đều tiên ở Đàng Trong của người Việt (Kinh), khiến văn hóa biển Việt Nam thành dòng chảy ở Trung Bộ” (tr.140-142); Nguyễn Phúc Nguyên là “một nhà văn hóa biển lớn của Việt Nam” (tr.142-146); Nguyễn Huệ là “nhà văn hóa biển” với chiếu dụ giặc Tàu Ô, chiến công đánh quân Xiêm năm 1875, quan tâm đến cù lao Ré (Lý Sơn) (tr.146-150); vua Gia Long là “nhà văn hóa biển xuất sắc của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX” (tr.150-153); vua Minh Mạng là “nhà văn hóa biển xuất sắc của Việt Nam ở thế kỷ XIX” (tr.153-156); Bùi Viện “đưa văn hóa biển Việt Nam phát triển” dưới thời Tự Đức (tr.156-161).
Các danh nhân văn hóa lịch sử Việt Nam từ bao đời nay đã ăn sâu qua bao thế hệ người Việt Nam. Ai cũng biết các danh nhân ấy sản sinh từ văn minh sông Hồng - văn minh lúa nước có truyền thống trị thủy và chống giặc ngoại xâm suốt mấy ngàn năm. Nhưng rõ ràng việc tự dán nhãn “danh nhân văn hóa biển” là sự gán ghép bừa bãi, không có cơ sở khoa học là điều Nguyễn Chí Bền thể hiện trong cuốn sách này.
Không hiểu tác giả cuốn sách đã dựa vào những tiêu chí nào để gán cho các nhân vật trên là những “nhà văn hóa biển”, trong khi đó là những nhà chính trị, quân sự có tư duy về biển trong việc kỹ trị đất nước, chứ không đóng góp về mặt văn hóa. Nghiên cứu khoa là để tìm ra những tri thức mới và đúng. Đằng này, những điều ông Bền đưa ra thì “mới” nhưng lại không đúng!
Trình bày mục 4.2.5 “Xây dựng các thiết chế văn hóa (vạn chài, nhà văn hóa…) mà tác giả chỉ viết có đúng 1 trang, nói về vạn chài và không viết gì về nhà văn hóa, là không thỏa đáng. Kiểu viết hời hợt đó không giúp ích thêm điều gì cho hiểu biết của bạn đọc. Nguyễn Duy Thiệu đã từng xuất bản công trình nghiên cứu khá kỹ về vạn chài Việt Nam (Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, 2002). Người đọc sẽ rất thất vọng khi đọc trang sách này trong “chuyên khảo” của giáo sư Nguyễn Chí Bền ở năm 2024.
Ông Bền không phân biệt được Đại Càn và cá Ông, không có chuyện cá Ông “thiêng hóa” thành Đại Càn Quốc Gia Nam Hải khi viết: “Cá voi / cá Ông thiêng hóa thành Đại Càn Quốc Gia Nam Hải” (tr.300), vốn là 2 thần linh biển khác nhau nhưng rất dễ nhầm lẫn do sự tích hợp vào nhau. Người nghiên cứu phải có kiến thức hơn bạn đọc phổ thông và cũng không nên đưa ra những kiến thức sai.
Tác giả còn cho là “do còn hạn chế trong phương tiện và kỹ thuật mà ngư dân Việt nam hiện nay chủ yếu vẫn đánh bắt vùng trong lộng và ven bờ, ít dám tiến ra biển khơi, chưa nói là đại dương. Như vậy, một mặt sẽ khó có thể đánh bắt được những loài cá lớn, trong khi nguồn hải sản gần bờ đang bị khai thác ngày càng cạn kiệt, nên sản lượng đánh bắt sẽ thấp, không mang lại giá trị kinh tế cao” và ngư dân Nam Trung Bộ đánh cá ngừ đại dương không phổ biến, phải có sự hỗ trợ kỹ thuật của ngư dân Nhật Bản (tr.308). Trên thực tế ngư dân Việt Nam chủ yếu đánh bắt ở các ngư trường xa như Hoàng Sa, Trường Sa, ở các vùng biển giáp ranh các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia… với những chuyến đi kéo dài nhiều tháng. Ngành thủy sản đã đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách quốc gia.
Văn hóa ở các hải đảo gần như bị tác giả bỏ quên, không đề cập đến.
4. Sự hụt hơi, thiếu dữ liệu trong nội dung nghiên cứu
Bạn đọc sẽ thấy rất rõ nhược điểm “nổi bật” của tác giả trong toàn bộ cuốn sách. Ông Bền đã viết sách theo phương châm “có gì dùng nấy”, “biết gì viết nấy”, tức không có sự đầu tư, chủ quan trong nghiên cứu.
Viết về cộng đồng người Hoa ở vùng biển mà chỉ đề cập đến người Hoa ở Nam Bộ và chỉ viết về lịch sử di dân trong 3 trang viết thì đâu có đúng với tính chất của một chuyên khảo về lịch sử văn hóa. Tác giả đã bỏ ra ngoài văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Huế (Thanh Hà), Hội An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phan Thiết… Tìm đỏ con mắt cũng không thấy chỗ nào trong sách viết, dù là một chút xíu đề cập đến tín ngưỡng thờ Thiên Hậu của người Hoa ở Việt Nam, khoan nói đến các tín ngưỡng khác của họ, một tín ngưỡng nổi bật của người Hoa ở ngoài lãnh thổ.
Ở mục 5.3 “Thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên” (thế kỷ X-Những năm đầu thế kỷ XXI) thực ra chỉ là trình bày lại lịch sử Việt Nam ở dạng tóm lược, chứ không phải lịch sử văn hóa biển Việt Nam, dù tác giả đã cố đưa vào những cụm từ rất kêu cho nó có tính chất biển như:”văn hóa biển của người Việt trong tiềm thức được thức tỉnh”, “cái nhìn hướng biển, tiếp tục phát triển văn hóa biển”, “chủ thế văn hóa biển ở Đại Việt” (tr.270); “phục hưng sáng chói nhân tố văn hóa biển trong văn hóa dân tộc truyền thống” (tr.271), “diễn trình văn hóa biển của Đại Việt rơi vào một khoảng gẫy” (tr.272). Nhưng tất cả đều không có dữ liệu chứng minh, đó là kiểu nói lấy được, không giúp ích được gì cho bạn đọc, nếu không muốn nói là kéo lùi học thuật.
Chiếc ghe bầu miền Trung được xem là biểu tượng văn hóa biển Việt Nam nhưng ghe thuyền Việt Nam đâu chỉ có thế. Đâu rồi bè mảng Sầm Sơn (Thanh Hóa), những cánh buồm Hạ Long, và vô số các loại ghe thuyền rất phong phú từ Bắc chí Nam, mà Nguyễn Chí Bền chỉ thấy “cây” chứ không thấy “rừng” khi nghiên cứu.
Các loại hình tín ngưỡng biển ở trong sách này tình hình cũng tương tự, theo kiểu “thấy gì viết đó”.
5. Thiếu trích dẫn
Nhan nhản, rất nhiều trang trong cuốn sách, ông Bền viết mà hầu như không dẫn nguồn, trong khi đó là những kết quả nghiên cứu của người khác đã công bố trong nhiều chục năm qua. Tôi chỉ xin đơn cử một số trang như: tr.116, 119, 120, 124-128, 137, 139-141, 143, 144-148, 151-156, 166, 170, 172-176, 180-184, 218-223, 225-229, 264-265, 267-269, 272-274, 276-284, 292-293, 296-298…
Ghi trích dẫn một cách cẩu thả như: “Ngồn: Internet” (tr.74), “Ghi chép của Nguyên Ngọc in trên trang Web Văn Việt” (tr.131). Thiếu tên nhà xuất bản như khi dẫn Đại Nam quấc âm tự vị (tr.84). Thiếu số tạp chí khi trích bài của Nguyễn Khắc Sử trên tạp chí Khảo cổ học (tr.88). Trích dẫn mà ghi không đủ yếu tố xuất bản “Tiểu luận Tù binh Chàm thời Lý in trong Việt sử thời thổ tả” (tr.119).
6. Chiếm dụng của người khác
Phần viết về ghe bầu (tr.120-121), Nguyễn Chí Bền đã chép từ bài “Ghe bầu miền Trung” của tôi trong sách Một góc nhìn văn hóa biển (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004) mà không trích dẫn. Hay chép phần tôi viết về thờ cá Ông ở Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, Cần Giờ (tr.192, 194, 196, 197, 199, 201, 202) trong sách trên.
Chỉ có chương 5 “Diễn trình lịch sử văn hóa biển Việt Nam” (tr.244-287) là được tác giả viết theo phương pháp lịch sử, có phân kỳ, nhưng thật đáng tiếc lại đi “mượn” của người khác. Ông Bền lại “viết theo”, dựa trên 3 bài tạp chí của Nguyễn Khắc Sử đã công bố. Điều này là không thể chấp nhận được. Đã là giáo sư thì Nguyễn Chí Bền thừa hiểu điều đó!
Tóm lại, với những gì thể hiện trong cuốn sách, tác giả Nguyễn Chí Bền đã bộc lộ những nhược điểm căn bản dễ thấy. Đó là không vạch ra được một phương pháp đúng trong việc biên soạn lịch sử chuyên ngành, cụ thể là lịch sử văn hóa biển Việt Nam. Cách thức phân chia đối tượng nghiên cứu của tác giả khá tùy tiện, nên dẫn đến cấu trúc lộn xộn như đã thấy. Sách có nhiều sai sót về nội dung do chưa hiểu đối tượng nghiên cứu, thiếu nguồn tài liệu tham khảo tin cậy, cũng như kiến thức thực tế. Chưa minh bạch trong việc kế thừa thành tựu nghiên cứu của người đi trước.
Không phải tự dán nhãn “sách chuyên khảo” thì nó sẽ thành chuyên khảo đâu, khi biên soạn theo kiểu này.
Nguồn: facebook tác giả

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét