Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

BÌNH SƠN TRONG CÔNG CUỘC XÁC LẬP VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO (TS. Nguyễn Đăng Vũ)

(qua sự kiện thành lập đội Hoàng Sa trong lịch sử)

1. Đặt vấn đề

Lâu nay, khi nói đến công lao to lớn của người Quảng Ngãi trong công cuộc bảo vệ và xác lập chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa, nhiều người thường chỉ đề cập chủ yếu đến công lao của các binh phu người Lý Sơn là chính, nhưng lại ít khi chú ý đến công lao của người Bình Sơn, bởi trong lịch sử, Cù Lao Ré – Lý Sơn trước đây thuộc huyện Bình Sơn.

Theo gợi ý của Ban tổ chức hội thảo lần này, do nhiều điều kiện khác nhau nên chúng tôi chỉ xin trình bày khái lược về việc người Bình Sơn góp phần xác lập và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, qua sự kiện thành lập và hoạt động của đội Hoàng Sa trong lịch sử.

2. Đội Hoàng Sa trong lịch sử

2.1. Làng/xã An Vĩnh – nơi lập đội Hoàng Sa, từ ghi chép trong Phủ biên tạp lục và vài tài liệu khác

Trước hết cũng cần trích dẫn lại vài đoạn ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Phủ biên tạp lục (1776), là một trong những tài liệu viết sớm nhất liên quan đến đội Hoàng Sa, vốn được thành lập từ thời chúa Nguyễn:

“Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù Lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để đi lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải”(…)

(…) “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 230 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy…” (…)

“Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở chỗ này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy…”[1]

Cùng với Phủ biên tạp lục, sách Đại Việt sử ký tục biên của Quốc sử viện thời Lê – Trịnh (do Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Vũ Miên làm Tổng tài), là bộ sách sử viết về lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1676 đến năm 1753[2], và cả sau này, trong Lịch triều hiến chương loại chí (được dâng lên vua Minh Mạng năm 1821), của Phan Huy Chú (1782 – 1840)[3], cũng ghi chép về việc thành lập đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh huyện Bình Sơn không khác với những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục và Đại Việt sử ký tục biên.

Sau này, khi biên soạn bộ lịch sử đồ sộ là Đại Nam thực lục - bộ chính sử của triều Nguyễn, trong phần tiền biên, xuất bản năm 1844, Quốc sử quán triều Nguyễn còn nêu khá cụ thể về hoạt động của đội Hoàng Sa: “Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa (…). Buổi quốc sơ đặt đội Hoàng Sa 70 người, lấy dân An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 thì đi thuyền ra, độ 3 đêm ngày thì đến bãi, tìm lượm hoá vật, đến tháng 8 thì về dâng nộp”.[4]

Trong cuốn sách Sử học bị khảo (1876), tại quyển 2, mục về Quảng Ngãi, một lần nữa, tiến sĩ Đặng Xuân Bảng (1828 – 1910) có viết: “Đảo Hoàng Sa ở giữa bể, thuộc huyện Bình Sơn, dài rộng vài nghìn dặm” [5].

Còn nhiều tài liệu khác có nêu về sự kiện thành lập đội Hoàng Sa, nhưng sở dĩ ở đây chỉ tạm nêu các tài liệu ở trên, vì các tài liệu đó có nói rõ địa điểm thành lập đội Hoàng Sa vào thời chúa Nguyễn, mà theo các nhà sử học hiện nay, đã có từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635)[6] hay muộn nhất là thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687)[7], chính là những dân binh của huyện Bình Sơn, thuộc phủ Quảng Nghĩa/Ngãi, hay cụ thể hơn, là 70 dân binh của xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn.

Nhưng, dân binh xã An Vĩnh là dân binh ở đâu, An Vĩnh trong cửa Sa Kỳ hay An Vĩnh ngoài Cù Lao Ré?

Theo truyền thuyết dân gian còn lưu truyền và gia phả của các tộc họ trên đảo Lý Sơn, vào thời Hoằng Định (1601 - 1619)[8], có 15 vị tiên công, là các ngư dân, nông dân, ở vùng cửa biển Sa Kỳ, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa đi thuyền ra đảo Cù Lao Ré khai phá rồi chiếm hữu đảo này. 8 ông ở làng An Hải ra chiếm hữu phía nam đảo lập nên phường An Hải, gồm các ông họ: Nguyễn, Trương, Dương, Nguyễn (Đình), Nguyễn (Văn), Trần, Lê, Võ; 7 ông ở làng An Vĩnh ra chiếm hữu phần phía bắc đảo, lập nên phường An Vĩnh, gồm các ông họ: Phạm (Văn), Phạm (Quang), Võ (Văn), Võ (Xuân), Lê, Nguyễn, Trần. Nhưng sau này, vì nhiều lý do khác nhau, mỗi phường phế truất một ông tiền hiền (An Hải phế truất ông họ Lê, An Vĩnh phế truất ông họ Trần), nên hiện nay ở Lý Sơn chỉ có 13 dòng họ tiền hiền.

Đó là buổi đầu người An Vĩnh và An Hải ở vùng cửa biển Sa Kỳ ra khai phá xứ Cù Lao Ré.

Dựa trên các tài liệu Hán Nôm về đất đai mà chúng tôi sưu tầm được ở Lý Sơn, thì đến năm Cảnh Trị thứ 9 (1669), theo chỉ dụ của chúa Nguyễn Phúc Tần, các Tướng thần xã An Vĩnh lẫn xã An Hải mới chính thức đo đạc đất đai mà cha ông họ khai phá ở Cù Lao Ré – Lý Sơn, để chịu nộp thuế. Đến thời điểm này, đất đai khai phá trên Cù Lao Ré chưa nhiều, nên cũng chỉ kê khai được một ít ruộng tư điền. Nhưng đến năm Giáp Dần (1734), qua bản kê khai ruộng đất của các Tướng thần xã An Hải, gồm 79 trang chữ Hán, kê khai đất đai đã khai phá ở phường An Hải xứ Cù Lao Ré, thì đã có 181 thửa, chia làm 3 hạng thổ, trong đó có nhiều thửa giáp ranh với đất đai phường An Vĩnh, phải chịu các loại thuế như trong đất liền.[9]

Rõ ràng là đến thời điểm này, mặc dầu công cuộc khai phá và định cư của các tộc họ có gốc ở vùng cửa biển Sa Kỳ ra Cù Lao Ré khai chiếm hơn một thế kỷ, nhưng phường An Vĩnh, lẫn phường An Hải trên hòn cù lao này vẫn chịu sự quản lý của chính quyền xã An Vĩnh và An Hải trong đất liền, và chắc hẳn đội Hoàng Sa mà Lê Quý Đôn nêu chính là đội dân binh của xã An Vĩnh trên đất liền lẫn dân binh phường An Vĩnh trên đảo Cù Lao Ré.

Có lẽ công cuộc định cư và khai phá đã được ổn định nên cũng bắt đầu từ thời điểm này, các chức sắc của phường An Vĩnh đã làm đơn xin tách khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền xã An Vĩnh trong đất liền. Rõ ràng nhất là trong 2 tờ đơn của phường An Vĩnh ở Cù Lao Ré, được lưu ở nhà thờ họ Võ Văn, một tờ được lập vào năm Kỷ Tỵ (1773), và đặc biệt là tờ viết vào năm Gia Long thứ 3 (1804), đều có nội dung xin tách phường An Vĩnh ra khỏi xã An Vĩnh trong đất liền, thành một đơn vị hành chính độc lập. Tờ đơn năm Gia Long thứ 3 (1804), đề ngày 11 tháng 2, do Cai đội Hoàng Sa Nguyễn Văn Giai cùng chức dịch và toàn phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, là nội phủ, thuộc huyện Bình Sơn còn nêu khá rõ lý do xin tách khỏi xã An Vĩnh để thành một đơn vị hành chính độc lập, như: Đã có chùa, đình, miếu riêng; so với “xã An Vĩnh (trong vùng cửa biển Sa Kỳ) thì hải trình ngăn cách xa xôi, sợ khi xảy ra công vụ, việc giúp đỡ lẫn nhau sẽ khó khăn..”, và cũng thuận tiện trong việc “tuyển lập các đội”, v.v…[10].

Từ các tài liệu này, có thể thấy, 70 suất đi Hoàng Sa theo ghi chép của Lê Quý Đôn và các tác giả trong những bộ sử vừa nêu, chính là dân binh được “tuyển lập” trong xã An Vĩnh trong đất liền lẫn dân binh phường An Vĩnh trên Cù Lao Ré – Lý Sơn, nhưng vào đầu thời chúa Nguyễn thì dân binh đi Hoàng Sa chủ yếu là dân binh ở vùng cửa biển Sa Kỳ. Phải đến thời điểm sau năm 1773, hoặc muộn hơn vào năm 1804, thì số dân binh đi Hoàng Sa chủ yếu là dân binh trên đất đảo Lý Sơn và lúc này – thời Tây Sơn, đội Hoàng Sa đã mang dáng dấp của một tổ chức quân đội của nhà nước, khác đội Hoàng Sa từ khi mới thành lập, chỉ là một lực lượng bán quân sư.[11].

2.2. Nhưng, phải chăng việc đi Hoàng Sa không chỉ có dân binh xã An Vĩnh?

Trong Việt sử cương giám khảo lược (in 1877), Nguyễn Thông (1827–1884), cho biết: “Bãi cát dài muôn dặm từ đảo Lý Sơn (tục gọi là Ngoại Lao, người Trung Quốc gọi là Ngoại La) tỉnh Quảng Ngãi, trông hướng đông đi thuyền 3 ngày 3 đêm thì có thể đến nơi được. Nước Đại Việt Nam ta khi mới dựng nước thường chọn đinh tráng 2 bộ An Hải, An Vĩnh đặt làm đội Hoàng Sa đi ra lấy hải vật ở bãi cát ấy, mỗi năm cứ tháng 2 đi tháng 8 về” [12].

Qua đoạn ghi chép này, có thể biết thêm: Sứ mệnh đi Hoàng Sa, tham gia vào đội Hoàng Sa, không chỉ có dân binh ở xã An Vĩnh mà còn có dân binh xã An Hải, ngay từ “thời mới dựng nước” (tức thời đầu chúa Nguyễn vào phía Nam).

Và cũng căn cứ ghi chép của Nguyễn Thông, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Nguyễn Thông có nêu dân binh An Hải (tức xã Bình Châu hiện nay) tham gia trong đội Hoàng Sa từ thời mới dựng nước (tức thời chúa Nguyễn) là có cơ sở so với thực tế lịch sử lúc bấy giờ. Bởi Nguyễn Thông từng làm Bố chính tỉnh Quảng Ngãi trong khoảng thời gian từ năm 1868 đến 1871 nên có lẽ ông không chỉ hiểu về hoạt động của đội Hoàng Sa mà còn hiểu về lịch sử khai mở đất đai trên Cù Lao Ré ngay từ đầu thế kỷ XVII của các tộc họ xã An Vĩnh và xã An Hải nằm bên bờ nam và bờ bắc cửa biển Sa Kỳ.

Trong Hồng Đức bản đồ (洪德版圖) là bản đồ được thực hiện vào năm Quang Thuận thứ 7 (1467) và được ban hành vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490) thời Lê Thánh Tông, đã có địa danh An Vĩnh (Thị) và An Hải đối diện qua cửa Sa Kỳ (Sa Kỳ hải môn), thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa. Qua bản đồ này, có thể hiểu: Địa danh An Vĩnh và An Hải đã có từ thời Lê Thánh Tông – tức thời vùng đất phía Nam vừa được sáp nhập vào lãnh thổ nước ta.

Dưới đây là phủ Quảng Nghĩa trong Hồng Đức bản đồ (1490), lưu tại Đông Dương văn khố, Tokyo, Nhật Bản:


Xem bản đồ này, có thể thấy, dường như trong toàn phủ Quảng Nghĩa thời đó với 3 huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa (tức tương đương phần đất tỉnh Quảng Ngãi hiện nay) có rất ít địa danh được ghi trong bản đồ này, nhưng lại có địa danh An Vĩnh và An Hải (chúng tôi có đánh dấu trong ô tròn)[13].

Từ điều này, ta có thể suy luận, chắc hẳn làng An Vĩnh lẫn An Hải của huyện Bình Sơn phải là những làng quê khá đặc biệt, có thể là vì vị trí địa lý, cảnh quan, hoặc vì gắn liền với sự kiện lịch sử nào đó mà người vẽ bản đồ muốn nhấn mạnh đến 2 địa danh này, hoặc cũng có thể đây là nơi buôn bán, giao thương trên biển đã khá sầm uất lúc bấy giờ (qua tên gọi An Vĩnh Thị 安 永市 bên cửa biển Sa Kỳ, mà bằng chứng có thể thấy qua dấu tích của khá nhiều tàu cổ đắm có niên đại thế kỷ 15, 16, 17… quanh vùng cửa biển này).

2.3. Có 2 đội Hoàng Sa ở Bình Sơn xưa?

Lâu nay, nhiều người gọi chung cho đội dân binh đi Hoàng Sa để tìm kiếm hải vật, khí cụ, đồ dùng từ các tàu đắm…, tức là vừa khai thác tài nguyên, nhưng cũng vừa kiểm soát vùng biển đảo và góp phần đặc biệt quan trong việc xác lâp chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa sau này, là đội Hoàng Sa (sau này còn có đội Quế Hương, đội Bắc Hải cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản). Nhưng qua ghi chép của Nguyễn Huy Quýnh, trong Thuận Quảng đạo sử tập thì một số nhà nghiên cứu cho rằng, ngay thời Chúa Nguyễn đã có 2 đội Hoàng Sa.

Thuận Quảng đạo sử tập là cuốn sách của tiến sĩ Nguyễn Huy Quýnh được viết trong khoảng thời gian ông làm quan ở Thuận Quảng (Thuận Hoá, Quảng Nam), từ 1774 – 1785. Trong sách này, ông có đề cập đến đội Hoàng Sa Nhị. Ông viết: “Từ cửa Đại Chiêm đến cửa Hạp (Hiệp) Hoà là 4 canh giờ. Từ cửa Hạp Hoà đến Châu Ổ là 3 canh giờ. Từ Châu Ổ đến Sa Kỳ là 3 canh giờ. Từ cửa Sa Kỳ đến cửa Đại Quảng Nghĩa là 3 canh giờ. Ngoài cửa này có núi Cù Lao Ré, trên núi (đảo) có cư dân sinh sống, gọi là xã Yên Vãng (An) Vĩnh, sản xuất nhiều dầu phụng…; xã này có đội thuyền là đội Hoàng Sa Nhị, hàng năm thuyền 8 chiếc lại ra biển, đến xứ Hoàng Sa lấy các hàng hoá, châu báu đem về nạp tại dinh Phú Xuân, tháng 4 ra đi, tháng 7 quay về”.[14]

Dựa vào ghi chép trong Thuận Quảng đạo sử tập, và đơn của phường An Vĩnh ngoài Cù Lao Ré về việc xin tách khỏi làng An Vĩnh trong cửa Sa Kỳ vào năm Quý Tỵ - 1773 (nhưng vẫn trực thuộc huyện Bình Sơn), còn lưu ở nhà thờ họ Võ (Văn) ở Lý Sơn, GS Nguyễn Quang Ngọc và vài người khác “đoán định” rằng, phải sau năm 1773, “khi phường An Vĩnh trên phường Cù Lao Ré đã trở thành làng riêng, thì đội Hoàng Sa được phép tách thành 2 bộ phận tương đối độc lập, là đội Hoàng Sa Nhất ở cửa biển Sa Kỳ gồm 10 thuyền và đội Hoàng Sa Nhị ở Cù Lao Ré gồm 8 thuyền” và “cửa biển Sa Kỳ vẫn là bến chính cho các thuyền bè ra Hoàng Sa lẫn Trường Sa” [15], tức địa điểm chính cho đội Hoàng Sa xuất quân đi khai thác tài nguyên, kiểm soát vùng biển đảo, rồi sau còn cùng với thuỷ quân đi đo đạc, vẽ bản đồ vào đầu thế kỷ XIX (đặc biệt là sự kiện Phạm Quang Ảnh cùng các binh phu được vua Gia Long phái đi đo đạc thuỷ trình để đo vẽ bản đồ vào năm 1815, và để đến năm 1816 vua Gia Long tuyên bố với thế giới là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam).


Bản đồ trong Thuận Quảng đạo sử tập, do Nguyễn Huy Quýnh vẽ, có cửa Sa Kỳ và đảo Cù Lao Ré, và chú thích như đã nêu ở trên.

Tuy nhiên, cũng căn cứ ghi chép của Nguyễn Huy Quýnh, đối chiếu với ghi chép của Đỗ Bá Công Đạo trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (soạn năm Chính Hoà thú 7 -1686)[16], có nói đến sự kiện chúa Nguyễn hàng năm phái 18 thuyền buồm từ cửa Sa Kỳ để đi Hoàng Sa, là quần đảo mà trong sách này ghi là Bãi Cát Vàng, thì chúng tôi cho rằng, có lẽ thời điểm có 2 đội Hoàng Sa, là Hoàng Sa Nhất và Hoàng Sa Nhị, phải sớm hơn, ít nhất là vào thời điểm Đỗ Bá Công Đạo vẽ Toản tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (tức trước đó hơn một thế kỷ).

Về vấn đề này, chắc hẳn cần phải có bài nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, vì phải còn đối chiếu với nhiều tài liệu khác nữa.

3. Vài lời kết và gợi mở thêm

Từ những trình bày ở trên, có thể tóm lược: Đội Hoàng Sa được thành lập từ thời đầu chúa Nguyễn vào khai mở vùng đất phía Nam, và hoạt động liên tục trong nhiều thế kỷ, từ đầu thế kỷ thứ XVII, đến đầu thế kỷ XIX, tức khoảng gần 400 năm có dân binh ở làng An Vĩnh, làng An Vĩnh ở vùng cửa biển Sa Kỳ và cả dân binh trên Cù Lao Ré. Bởi vậy, khi nói đến lịch sử xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo cũng cần phải nhấn mạnh đến công lao to lớn của người huyện Bình Sơn nói chung, chứ không chỉ là người trên đất đảo Lý Sơn, vì ngay từ khi lập đội Hoàng Sa (cả đội Hoàng Sa Nhất lẫn Hoàng Sa Nhị), thì lúc bấy giờ Cù Lao Ré – Lý Sơn, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Nghĩa, và Lý Sơn vẫn thuộc huyện Bình Sơn mãi đến năm 1993 (từ ngày 01/1/1993 thì Lý Sơn mới tách ra khỏi huyện Bình Sơn thành đơn vị hành chính cấp huyện, trực thuộc tỉnh).

Tuy nhiên, để khẳng định thêm công lao của người Bình Sơn trong việc xác lập, bảo vệ chủ quyền biển đảo trong lịch sử, cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm thêm nhiều tài liệu khác, không chỉ trong chính sử, các trang ghi chép của nhiều sử gia, các bản đồ…, mà còn phải khẩn trương sưu tầm các văn bản cổ trong thực địa. Một ví dụ cho thấy: Ngay trong “Tờ lệnh” do quan Bố chánh và Án sát tỉnh Quảng Ngãi cử các binh phu phối hợp với thuỷ quân đi Hoàng Sa vào năm Minh Mạng thứ 15 (1834) mà người viết bài này có may mắn được tiếp nhận vào ngày 31/5/2009 từ gia tộc họ Đặng làng An Hải, Lý Sơn (sau đó đã được UBND tỉnh bàn giao cho Bộ Ngoại giao), thì trong số 11 người có tên trong “Tờ lệnh” này, ngoài những người ở làng An Vĩnh, An Hải ở Cù Lao Ré – Lý Sơn có 2 người ở huyện Mộ Đức, 2 người ở trong đất liền thuộc huyện Bình Sơn là Dương Văn Định và Ao Văn Trâm. Trong văn bản cổ này có ghi: ông Ao Văn Trâm, thuộc làng Lệ Thuỷ Đông Nhị (nay thuộc xã Bình Trị), và ông Dương Văn Định thuộc thôn Hoa Diêm (nay là Tuyết Diêm, Bình Thuận)[17]. Để tìm hiểu lai lịch của những người đi Hoàng Sa vào năm 1834, từ giữa năm 2009 người viết bài này còn tìm làng Lệ Thuỷ (mà thuở trước có tên là Lệ Thuỷ Đông Nhị) để tìm gia tộc họ Ao. Tại đây, chúng tôi đã tìm thấy khá nhiều tài liệu Hán Nôm có giá trị của họ Ao ở làng Lệ Thuỷ (do ông Ao Võ, 92 tuổi gìn giữ, nay ông đã mất). Nhưng cũng từ đó đến nay, chúng tôi lại chưa tìm thấy tài liệu Hán Nôm nào của gia tộc họ Dương ở Tuyết Diêm. Hy vọng, các nhà nghiên cứu sẽ tiếp tục sớm sưu tầm, các cơ quan trách nhiệm ở địa phương luôn phối hợp thực hiện, và không phải chỉ sưu tầm tài liệu tại các địa phương vừa nêu hay ở các dòng họ này, mà phải mở rộng việc sưu tầm ở những làng xã lân cận.

Với gần 400 năm người Bình Sơn tham gia trong đội Hoàng Sa, tham gia trong các chuyến hải trình ở các thời kỳ lịch sử, từ thời chúa Nguyễn, sang thời Tây Sơn, lẫn nhà Nguyễn và cả sau này, chắc hẳn sẽ còn nhiều tài liệu quý giá còn được gìn giữ ít nhiều ở đâu đó, trong dòng họ, trong các di tích gắn liền với chiều dài lịch sử xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đó là chưa kể đến lịch sử bảo vệ chủ quyền biển đảo qua việc người Bình Sơn chống sự xâm nhập, cướp bóc của giặc Tàu Ô, hay trong sự nghiệp chống Pháp và chống Mỹ, mà cuốn Địa chí huyện Bình Sơn xuất bản năm 2021, đã có trình bày rất cụ thể./.

---------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1.Đặng Xuân Bảng (1977), Sử học bị khảo, bản dịch Đỗ Mộng Khương, Viện Sử học, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

2. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch Viện Sử học, Nxb Sử học, Hà Nội.

3. Lê Quý Đôn (1977), Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1 “Phủ biên tạp lục”, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

4 . Lê Quý Đôn (2021), Phủ biên tạp lục, bản dịch bổ chính của Trần Đại Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

5. Huyện uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN huyện Bình Sơn (2021), Địa chí huyện Bình Sơn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

6. Nguyễn Nhã (2013), Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nxb Giáo dục Việt Nam – Công ty Sách và Thiết bị giáo dục miền Nam.

7. Nguyễn Quang Ngọc (2014), Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa – tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

8. Nguyễn Huy Quýnh (2018), Quảng Thuận đạo sử tập, Bàn dịch và giới thiệu của Nguyễn Thanh Tùng, Hoàng Ngọc Cương, Nguyễn Thu Hoài, Lê Hữu Nhiệm, Nxb Đại học Vinh.

9. Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng (Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế -xã hội Đà Nẵng) (2016), Biển đảo Việt Nam – lịch sử, chủ quyền, kinh tế, văn hoá, Nxb Văn hoá văn nghệ, tp HCM.

10. Nguyễn Thông (2009), Việt sử cương giám khảo lược, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

11. Nguyễn Đăng Vũ (2011), “Đôi điều suy luận về bằng thời Minh Mạng cấp cho những người đi Hoàng Sa”, Tạp chí Xưa và Nay (Hội Khoa học lịch sử VN), số 282, tháng 6- 2011.

12. Nguyễn Đăng Vũ chủ biên (2020), Di sản Hán Nôm ở Quảng Ngãi – các loại hình và giá trị đặc trưng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2020.


[1] Lê Quý Đôn, Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1 “Phủ biên tạp lục”, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, các trang: 116, 119. Trong sách Phủ biên tạp lục, bản dịch bổ chính của Trần Đại Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2021, cũng dịch tương tự, chỉ có nhấn mạnh chữ Bãi Cát Vàng (nguyên văn là Hoàng Sa chử, trong đoạn trích thứ 2 ở trên), ở trang 134, và cả ở trang 135, khi nói đến vị trí Bãi Cát Vàng và sự kiện 10 quân nhân xã An Vĩnh vào năm Càn Long thứ 18 (1753) bị nạn, sau được trả về nguyên quán, và còn được chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Cai bạ Thuận Hoá làm thư trả lời (bản dịch của Viện Sử học lại ghi là Nguyễn Phúc Chu, nhưng chúa Nguyễn Phúc Chu đã mất từ năm 1725). Ở đoạn trích thứ 3, bản dịch của Viện Sử học, là: “Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở chỗ này”, nhưng bản dịch của Trần Đại Vinh là: “Các thuyền nước ngoài phần nhiều bị gió bão huỷ hoại ở đảo này”. Theo Phạm Hân trong bài “Một lầm lẫn về văn bản học của Phủ biên tạp lục cần được đính chính”, Tạp chí Hán Nôm, số 2-15, 1993, thì phải dịch là: “Thuyền các nước ngoài gặp gió phần nhiều hư hỏng tại đảo này” (do có 4 dị bản chép tay Phủ biên tạp lục), tương tự như cách dịch của học giả Trần Đại Vinh.

Những chỗ in nghiêng, như xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn… trong các đoạn trích trên là do người viết bài này nhấn mạnh.

[2] Xem: Đại Việt sử ký tục biên, 1676-1789, Ngô Thế Long, Nguyễn Kim Hưng (dịch và khảo chứng), Nguyễn Đổng Chi (hiệu đính), Nxb Hồng Đức, 2018.

[3] Xem: Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch Viện Sử học, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960, trang 137.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, trang 164.

[5] Đặng Xuân Bảng, Sử học bị khảo, bản dịch Đỗ Mộng Khương, Viện Sử học - Nxb Văn hoá Thông tin, 1977, trang 164. Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa lẫn Trường Sa còn nhiều bộ chính sử khác, như Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Quốc triều chính biên toát yếu…, các châu bản, đặc biệt châu bản thời Minh Mạng, nhiều tài liệu, bản đồ ở nhiều thời kỳ, trong lẫn ngoài nước, nhiều tài liệu Hán Nôm lưu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các viện nghiên cứu khác, ở các Trung tâm lưu trữ Quốc gia, ở Uỷ ban Biên giới Quốc gia – Bộ Ngoại giao, trong các dòng họ, nhiều sách báo từ xưa nay…, mà ở đây khó có thể liệt kê hay trích dẫn đầy đủ.

[6] Như GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, trong sách Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa – tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Nhã, trong sách Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Nhiều tác giả, Nxb Trẻ, tp HCM, 2012, thì đội Hoàng Sa ra đời sớm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648), hay “chắc chắn hơn” là từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1648 – 1687).

[7] Nguyễn Nhã, Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Nxb Giáo dục Việt Nam – Công ty Sách và Thiết bị giáo dục miền Nam, 2013, trang 95.

[8] Là một trong hai niên hiệu của vua Lê Kính Tông, là Thận Đức 慎德 (1600 - 1601) và Hoằng Định 弘定 (1601 - 1619).

[9] Xin xem: Nguyễn Đăng Vũ chủ biên, Di sản Hán Nôm ở Quảng Ngãi…, sđd, Chương VII: “Đất đai và địa bạ’.

[10] Xem: Nguyễn Quang Ngọc – Vũ Văn Quân (1998), “Tư liệu về nguồn gốc, chức năng và hoạt động của đội Hoàng Sa”, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội.

[11] Đây là đoán định của nhiều nhà nghiên cứu, không chỉ dựa vào các tờ đơn xin tách khỏi sự phụ thuộc trong đất liền mà còn dựa vào đơn của Cai hợp phường Cù Lao Ré, xã An Vĩnh, thuộc Hà Bạc, huyện Bình Sơn là Hà Liễu xin lập thêm 2 đội Hoàng Sa và Quế Hương vào năm Cảnh Hưng 36 (1775), và Chỉ thị của Thái phó Thượng tướng công sai Cai đội Hoàng Sa Hội Đức hầu (Võ Văn Khiết) đốc suất việc đi Hoàng Sa, vào ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786), cùng một số tài liệu khác. Xem thêm: Nguyễn Quang Ngọc (2014), sđd, trang 187.

[12] Nguyễn Thông, Việt sử cương giám khảo lược, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2009, trang 137.

Trong sách Đại Nam nhất thống chí (của Quốc sử quán triều Nguyễn), tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, do Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, có mục Phụ lục, trong phần viết về tỉnh Quảng Ngãi (quyển VIII), có chú thích là mục này do người hiệu đính sưu tầm (tức Đào Duy Anh), cũng trích phần ghi về quần đảo Hoàng Sa trong sách Việt sử cương giám khảo lược (quyển 4) của Nguyễn Thông (bản chữ Hán).

[13] Bởi đây là bản đồ nước ta được vẽ đầu tiên, nên không có nhiều làng xã được ghi trong tập bản đồ này, cũng là lẽ đương nhiên.

[14] Nguyễn Huy Quýnh, Quảng Thuận đạo sử tập, bản dịch và giới thiệu của Nguyễn Thanh Tùng, Hoàng Ngọc Cương, Nguyễn Thu Hoài, Lê Hữu Nhiệm, Nxb Đại học Vinh, 2018, tr.23.

Xem thêm: Trần Văn Quyến trong bài “Hoàng Sa trong Quảng Thuận đạo sử tập”, in trong sách Biển đảo Việt Nam – lịch sử, chủ quyền, kinh tế, văn hoá, Nxb Văn hoá văn nghệ, tp HCM, 2016, trang 92. Trong bài viết này, tác giả đã đính chính địa danh Yên Vãng, thành An Vĩnh.

[15] Xem: Nguyễn Quang Ngọc, sđd, trang 155, 156,157.

[16] Xem bài của Trần Đức Anh Sơn: “Tư liệu bản đồ chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, in trong Biển đảo Việt Nam – lịch sử, chủ quyền, kinh tế, văn hoá, sđd, trang 115, 116.

[17] Xin xem thêm: Nguyễn Đăng Vũ, “Đôi điều suy luận về bằng thời Minh Mạng cấp cho những người đi Hoàng Sa”, Tạp chí Xưa và Nay (Hội Khoa học lịch sử VN), số 282, tháng 6- 2011.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...