"TRI ÂM TRI KỶ" TRONG NGHIÊN CỨU (PGS. TS. Nguyễn Thị Oanh)
Tôi có cơ duyên lần đầu tiên tiếp xúc với Thám hoa Phan Thúc Trực 潘叔直(1808-1852) qua tác phẩm Quốc sử di biên國史遺編từ năm 2012, rồi từ đó đến với thơ của ông qua tập Cẩm Đình thi văn tập錦亭詩文全集. Cả hai tác phẩm hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Quốc sử di biên (xuất bản năm 2014) được các học giả đi trước đánh giá là một bộ sử không thể thiếu đối với những ai muốn nghiên cứu lịch sử triều Nguyễn. Không những thế, Phan Thúc Trực còn là nhà thơ khá nổi tiếng đương thời.
Cẩm Đình thi tập 錦亭詩集 (xuất bản năm 2022) được ông sáng tác trong thời gian ông chưa thi đỗ (trước năm 1847) cho đến năm ông qua đời (năm 1852) gồm 459 bài thơ, trong đó 382 bài thơ chữ Hán và 5 bài thơ chữ Nôm do ông sáng tác, số còn lại 57 bài thơ thù đáp với các tác giả khác.
Có lẽ vì tài năng làm thơ của ông được giới văn sĩ đương thời hết lời ca ngợi nên năm 1845 ông đã được sung vào Quốc tử giám, và chỉ sau đó hai năm, vào năm 1847 ông đã đỗ Thám hoa và được giữ nhiều trọng trách quan trọng ở triều đình vua Tự Đức. Tài năng và đức độ của ông được nhiều người đương thời ca ngợi trong đó có cả những bài văn, bài thơ của nhiều vị quan nổi tiếng thời bấy giờ và còn được lưu giữ trong cuốn Cẩm hồi thi tập錦回詩集.
Sau khi Quốc sử di biên và Cẩm Đình thi tập ra đời, nhiều nhà nghiên cứu Hán Nôm và văn học và sử học trong nước đã biết đến ông. Cũng nhờ có hai cuốn sách này đã "khiến cho cái tên Phan Thúc Trực đang là một "ẩn số" bỗng hiện lên như một thách thức, làm cho giới khoa học không thể không bằng mọi cách, cố gắng nhận diện và kiếm tìm" (Nguyễn Huệ Chi). Từ đó, một hội nghị về danh nhân Thám hoa Phan Thúc Trực đã được tổ chức; nhiều luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về ông đã ra đời cho thấy sức hút của nhà sử học, nhà thơ được công chúng nồng nhiệt đón nhận.
Trở lại thời gian từ 1851 đến 1852, ông theo lệnh vua với tư cách là "sứ giả" đi sưu tầm thư tịch cổ ở các tỉnh phía Bắc (có lẽ đã đến lúc cần tôn xưng Phan Thúc Trực là ông tổ của ngành sưu tầm Hán Nôm). Trong thời gian gần hai năm đi sưu tầm cổ tịch, ông đã sáng tác tập thơ Tứ phương lan phả四方蘭譜, với gần 200 bài thơ cùng các chú thích, chú dẫn tỉ mỉ. Có thể nói Tứ phương lan phả đã trở thành tác phẩm thi ca du ký hoành tráng lớn nhất của Việt Nam từ trước đến nay, kéo dài liên tục trong hai năm với các địa điểm chạy dài suốt từ Nghệ An ra Thanh Hóa, Ninh Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh...
Các bài thơ ông sáng tác trong Tứ phương lan phả vừa là cảm xúc tức thời mới lạ về cảnh đẹp trên đường đi, vừa bao gồm cả dòng chú thích, hồi ký được ghi chép sau đó, để từ đó chúng ta có thể dựng lại hành trình ông đã đi qua, đặc biệt là các cuộc gặp gỡ giao lưu giữa ông với các nhân vật và tình cảm của ông dành cho họ. Với tài làm thơ kể chuyện, ông không chỉ dẫn dắt người đọc đến những miền đất xa lạ, phong cảnh phong tục của người dân xứ sở ít người biết đến, mà còn cho thấy tình yêu quê hương đất nước con người qua chuyến đi lịch sử này. Đây không phải là chuyến du chơi thông thường ghi lại cảm xúc khi tới các danh lam thắng cảnh mà là chuyến đi dài ngày với nhiệm vụ sưu tầm sách vở cổ, tìm hiểu ghi chép phong tục tập quán, văn hóa lịch sử, cảnh quan, con người gắn liền mỗi vùng đất mà ông tới.
Quốc sử di biên đã được người nước ngoài biết đến từ rất sớm (đã được xuất bản năm 1965 tại Hong Kong), Cẩm Đình thi tập được biết đến muộn hơn, nhưng chưa có hội thảo quốc tế nào được tổ chức ở nước ngoài để Phan Thúc Trực có thể "đi sứ". Nhờ có sự giới thiệu của TS. Trang Thu Quân莊秋君, Giảng viên Bộ môn tiếng Trung Quốc Trường Đại học Thăng Long và GS.TS. Qing Wenluo 羅景文mời sang tham dự Hội thảo quốc tế về Du ký chữ Hán ở Đông Nam Á 東南亞漢文行旅書寫tại Khoa Văn, Trường Đại học Trung Son nên tôi đã quyết đưa cụ "đi sứ" ra nước ngoài một lần.
Trường Đại học Trung Sơn 中山大學là một tòa nhà trông cổ kính được xây dựng theo kiểu phương Tây nằm trên đỉnh núi cao đối diện với biển - nơi có thể ngắm hoàng hôn mỗi ngày. Khi xuống xe chúng tôi vô cùng bất ngờ vì không nghĩ đây là trường Đại học vì phong cảnh và kiến trúc của ngôi trường giống với một biệt thự trên núi. Phòng Hội thảo không to, không nhỏ, vừa đủ cho vài chục người tham dự, được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại.
Khi chúng tôi bước vào phòng, ba cuốn sách tôi gửi tặng Khoa Văn Trường Đại học Trung Sơn: Quốc sử di biên國史遺編, Cẩm Đình thi tập錦亭詩集, Lĩnh Nam chích quái嶺南摭恠 đã được đặt trang trọng trên bàn. Người tham dự không nhiều nhưng không làm người phát biểu cảm thấy chạnh lòng vì "muốn nói cho người cần nghe" nên không khí hội thảo cởi mở, tôi có cảm giác như đang được nói chuyện về Thám hoa họ Phan giữa những người bạn thân thiết nhất. Có lẽ trên trời cao Thám hoa cũng cảm động vì không nghĩ rằng có ngày những bài thơ và câu chuyện của mình lại được kể ở một hội thảo nước ngoài không dùng tiếng Việt.
Rất nhanh chóng sau đó, một quyếtt định tổ chức Hội thảo quốc tế ở Hà Nội với lực lượng nòng cốt là các nhà nghiên cứu văn học thuộc Khoa Văn, Trường Đại học Trung Sơn đã được đưa ra. GS. Qing Wenluo rất vui mừng và mong muốn được tham gia một hội thảo về cụ Phan tại Hà Nội, được đi theo bước chân của cụ đến những vùng đất đẹp như tranh cổ tích của xứ Nghệ với dòng sông Lam thơ mộng mà cụ đã mô tả trong Tứ Phương lan phả: "Chương Đàn một dải sông Lam/ Núi đưa thuyền lướt bờ xanh ngút ngàn/ Bên mui chiều tối mơ màng/ Lung linh bóng đổ mênh mang đất trời" 藍江一帶出彰塘;山送行舟對岸蒼;日晚掩蓬高枕臥;波心落照倒浮光).
Một lần nữa xin cảm ơn TS. Zhang Qiuqun莊秋君 (Trang Thu Quân) và GS. TS Qing Wenluo 羅景文 và các thầy cô, các bạn NCS đang học ở trường Khoa Văn của Trường Đại học Trung Sơn đã tạo điều kiện để "Tứ phương lan phả" của Thám hoa họ Phan lan tỏa khắp nơi.
Hẹn gặp lại các thầy cô tại Trường Đại học Thăng Long vào thời gian sớm nhất.
31-10-2024

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét