Abs. Mảnh đất Bình Sơn có bè dày lịch sử, con người Bình Sơn với đức tính cần cù nhẫn nại, nghĩa tình và chung thủy, giàu ý chí tiến thủ, đã sản sinh nhiều người con ưu tú lưu danh vào sử sách. Đó là vốn quý trong chiều dài lịch sử, rất cần được phát huy cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Keywords: Bình Sơn, nhân vật lưu danh.
A. MỞ ĐẦU
Huyện Bình Sơn được hình thành từ lâu đời, sống trên vùng đất không thực sự được thiên nhiên uu đãi, nhiều nơi khó khăn gay gắt, người Bình Sơn đã đào luyện cho mình những đức tính tốt đẹp, sức chịu đựng dẻo dai, cần cù trong lao động, dũng cảm trong đấu tranh xã hội, ân nghĩa trong cuộc sống đời thường, có lòng yêu quê hương đất nước nồng đậm, để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử đất Quảng Ngãi và cả nước.
Trong bức tranh chung đó nổi bật lên những người con Bình Sơn lưu danh trong sử sách, họ là những con người tiêu biểu, là tinh hoa của vùng đất, mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo. Ở thời kỳ nào Bình Sơn cũng xuất hiện những người con ưu tú, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu nói con người là vốn quý của vùng đất thì những phẩm chất tốt đẹp của người Bình Sơn nói chung, các nhân vật lưu danh vào sử sách nói riêng chính là những tài sản vô hình mà vô cùng quý giá để vùng đất này phát triển trong hiện tại và tương lai.
B. CÁC NHÂN VẬT CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ
Thời kỳ phong trào Tây Sơn, tại Bình Sơn có ông Đoàn Tấn Sỹ quê làng Nam An, ông Đỗ Khâm Sai thuộc làng Phú Lễ, bà Võ Thị Thái ở làng An Điềm là các nhân vật tham gia. Tiếc rằng tiểu sử của các nhân vật này bị khỏa lấp theo thời gian cùng sự xóa dấu vết của triều nhà Nguyễn, do vậy hậu thế không thể biết.
Nhân vật nổi bật thời đầu nhà Nguyễn là ông Trần Công Hiến [? – 1817], quê cha xã Vạn An huyện Chương Nghĩa (xã Nghĩa Thương huyện Tư Nghĩa), quê mẹ làng Mỹ Huệ (xã Bình Dương). Trần Công Hiến từng làm tướng Tây Sơn, đến năm 1783 quay sang phò Nguyễn Phúc Ánh, đánh nhau nhiều trận với quân Tây Sơn và lập được nhiều công tích. Năm 1802 Nguyễn Ánh lấy Bắc Hà, Trần Công Hiến được phong làm Trấn thủ Hải Dương, năm 1803 được thăng Chưởng cơ. Tại Hải Dương, Trần Công Hiến tổ chức đắp ngăn các cửa ngòi Động Quất, Nội Đan và Kinh Bi, đắp đê ngăn nước biển, được hơn 8.000 mẫu ruộng chiêm. Người ta gọi ông là Ông Lấp Biển. Trần Công Hiến còn là người trực tiếp trước tác và xuất bản nhiều đầu sách có giá trị. Ông chép diễn nôm tập sách Đại Việt thủy lục trình ký, cho xây dựng nhà in Hải Học Đường, soạn sách Hải Dương phong vật ký, in các danh tác như Danh phú hợp tuyển, Danh văn tinh tuyển. Ông chết năm Đinh Sửu 1817 ở nơi làm quan. Triều đình cho đưa thi hài của ông theo đường biển về cửa Sa Cần, ngược sông Trà Bồng lên mai táng ở làng Mỹ Huệ và xây dựng ngôi mộ quy mô tại đây (nay đã xếp hạng di tích). Nhà thờ họ Trần mà cũng được xây dựng, lưu giữ các di vật quý về ông và người thân.
Cũng thời đầu triều Nguyễn có ông Đoàn Khắc Cung [? – 1824?], người làng Nhơn Hòa (xã Bình Tân Phú).Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn có chép: “Đoàn Khắc Cung: người huyện Bình Sơn, nổi tiếng về văn học. Đầu đời Gia Long làm Đốc học Gia Định. Năm Minh Mệnh thứ ba [1822] chuyển làm Thiêm sự bộ Công, lo việc tiền, lương ở Châu Đốc. Năm thứ tư [1823] tiếp tục trông coi việc đào sông Vĩnh Tế, hợp lực cùng với Binh tào, Hộ tào ở Gia Định cai quản việc tiền, lương, tiếp đó chuyển làm Quyền Cai bạ Phiên An, bị bệnh rồi mất, được truy tặng thực thụ Cai bạ và cấp cho 100 quan tiền”[1]. Cụ thê tại Gia Định, Đoàn Khắc Cung giúp phát triển giáo dục; năm 1822, khi Nguyễn Văn Thoại tổ chức đào kênh Thoại Hà, ông chuyển làm Thiêm sự Bộ Công lo việc hậu cần cho đào kênh. Tiếp đó Nguyễn Văn Thoại tiếp tục chỉ đạo đào kênh Vĩnh Tế , Đoàn Khắc Cung đóng vai quản lý lương, tiền cho công trình. Đoàn Khắc Cung chuyển làm quyền Cai bạ Phiên An và bị bệnh mất, có thể sau năm 1824 (năm xong kênh Vĩnh Tế) và trước năm 1832 (năm Lê Văn Duyệt mất). Mộ ông hiện ở quê nhà, xây bằng đá ong, khá quy mô bề thế. Hiện một con đường ở thành phố Quảng Ngãi mang tên Đoàn Khắc Cung.
Nhân vật cũng nổi danh trong nước vào thời kỳ đầu nhà Nguyễn là ông Phan Khắc Thận [1798 – 1868], người Châu Me Đông nay thuộc xã Bình Châu. Phan Khắc Thận đỗ tú tài kép, làm quan trải qua các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, giữ các chức vụ chủ chốt ở miền biên viễn của đất nước như Tây Ninh, Vĩnh Long, Lạng Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng), dẹp yên các cuộc bạo loạn của thổ phỉ. Năm 1853, Phan Khắc Thận làm Tham tri Bộ Hộ. Năm 1858, quân Pháp tấn công Đà Nẵng, khởi sự xâm lược Việt Nam, Phan Khắc Thận được sai đem quân tăng viện, đánh với quân Pháp ở sông Cẩm Lệ. Năm 1859, Phan Khắc Thận chuyển làm Tuần phủ An Giang trong khi quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định ngày 17.2.1859. Năm 1866, Phan Khắc Thận bị cách chức vì bị cho là che chở các thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp là Thủ khoa Huân và A Xoa (người Campuchia). Triều đình điều Phan Khắc Thận trở về kinh đô, khởi phục Thượng thư Bộ Binh, lĩnh Tuần phủ Nam – Ngãi. Năm 1868, vua sai Phan Khắc Thận làm Thảo nghịch Hữu tướng quân đi tảo phạt thổ phỉ ở Cao Bằng, Lạng Sơn, nhưng ông mới đến quân thứ, đã mắc bệnh chết. Phan Khắc Thận là vị tướng của miền biên viễn, của những điểm nóng kháng Pháp. Trong hoàn cảnh bất lực đến bạc nhược của triều Nguyễn, mặc dù quyết tâm đánh Pháp, ông cũng bị vạ lây.
Một nhân vật khá tiếng đời vua Tự Đức là Đoàn Khắc Nhượng [? – 1910], quê làng Nhơn Hòa (xã Bình Tân Phú), con trai Đoàn Khắc Cung. Ông đỗ cử nhân năm 1846, ra làm quan dưới triều vua Tự Đức, từng giữ các chức: Biện lý bộ Hình, Tuần phủ Nam-Ngãi (1879), có tiếng là trung nghĩa, liêm khiết, được vua Tự Đức khen: "Thanh như Lượng[2], khiêm như Nhượng, thiên hạ hà hữu bất trị" (Thanh liêm như Lê Trung Lượng, khiêm cung như Đoàn Khắc Nhượng, thiên hạ lo gì không yên). Về giáo dục, Đoàn Khắc Nhượng từng làm Phó chủ khảo trường thi hương Thừa Thiên khoa Mậu dần 1878, làm chủ khảo ở trường thi trên khoa Kỷ mão 1879. Về hưu năm Tân Tỵ 1881, có lẽ mất năm Canh Tý 1900. Mộ hiện tọa lạc ở núi Hương, xã Bình Thanh. Công trạng lớn nhất của Đoàn Khắc Nhượng là ông được vua phái về Quảng Ngãi để chỉ đạo cứu đói, an dân trong trận lũ lịch sử năm Mậu Dần 1878. Ở TP Quảng Ngãi hiện có một đường phố mang tên Đoàn Khắc Nhượng.
Thời Pháp xâm, Bình Sơn có Nguyễn Tự Tân [1848 – 1885], chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần vương, người làng Phước Thọ (xã Bình Phước), đỗ Tú tài khoa Mậu Thìn 1868. Ông cùng nhiều sĩ phu yêu nước trong Nghĩa hội Văn thân tích cực chuẩn bị lực lượng chống Pháp, âm thầm chuẩn bị lực lượng cứu nước, tổ chức rèn đúc vũ khí, lập chiến khu Truyền Tung, xây dựng và huấn luyện Hương binh. Cuối năm 1884 đầu năm 1885, lực lượng Hương binh Bình Sơn do Lê Trung Đình làm Tả vệ Chánh quản, Nguyễn Tự Tân làm Hữu vệ Phó quản đã lên đến 3.000 người. Ông cùng với các nhà yêu nước ở huyện Bình Sơn vận động nhân dân lên vùng tây huyện khai hoang, lập trại Truyền Tung để xây dựng căn cứ và huấn luyện nghĩa binh. Đêm 4 rạng ngày 5.7.1885, kinh đô Huế thất thủ, vua Hàm Nghi phải xuất bôn và hạ chiếu Cần vương. Hưởng ứng Chiếu Cần vương, ngày 1.6 năm Ất Dậu (13.7.1885) lực lượng nghĩa quân do Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân chỉ huy, có sự phối hợp của quân nội ứng, đánh chiếm thành Quảng Ngãi, bắt quan lại, thu ấn kiếm, tổ chức phòng thủ, sẵn sàng chống Pháp. Tiểu phủ sứ Sơn phòng Nghĩa - Định là Nguyễn Thân là người của Nghĩa hội, ngấm ngầm tư thông với giặc, đàn áp cuộc khởi nghĩa Cần vương. Cuộc khởi nghĩa cuối cùng đã thất bại, Nguyễn Tự Tân hy sinh giữa trận tiền, là thủ lĩnh Cần vương sớm hy sinh vì đất nước. Sau cách mạng tháng Tám 1945, phủ Bình Sơn mang tên phủ Nguyễn Tự Tân. Ngày nay nhiều trường học, đường phố ở thành phố Quảng Ngãi và thị trấn Châu Ổ mang tên ông.
Cùng với Nguyễn Tự Tân trong khởi nghĩa Cần vương có Nguyễn Tấn Kỳ [1853 – 1913] người làng Châu Tử (xã Bình Nguyên). Sau khi thất bại ở thành Quảng Ngãi, Nguyễn Tấn Kỳ lên vùng rừng núi Trà My (tỉnh Quảng Nam) bắt liên lạc với nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu (Quảng Nam) và cùng thủ lĩnh Nguyễn Bá Loan ở Quảng Nãi tiếp tục kháng chiến. Sau cuộc đụng độ ở Bãi Trận (nay thuộc xã Bình Nguyên), chứng kiến cảnh nghĩa quân bị tàn sát nhiều, đang phải chịu thất bại và dần dần tan rã, Nguyễn Bá Loan bí mật vào Nam Bộ, Nguyễn Tấn Kỳ bỏ đi tu. Ông lên núi Mèo Cào thôn An Thiện (nay thuộc xã Tam Anh huyện Núi Thành) lập Tiên Long Thạch động tự. Năm 1910, ông về quê Châu Tử lập am Phước Sơn, chỉ 3 năm sau thì viên tịch, được an táng tại viên mộ của am. Nhà thờ Nguyễn Tấn Kỳ cũng tức là am Phước Sơn do ông lập và viên mộ ông trong khuôn viên am vẫn còn nguyên, đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Bình Sơn có một phụ nữ kiệt hiệt là bà Võ Thị Đệ [1861 – 1932], chí sĩ yêu nước qua thời kỳ, quê làng An Điềm (nay thuộc xã Bình Chương), lấy chồng là ông Đoàn Như Thiện ở làng Nhơn Hòa. Bà là dâu của Cử nhân Đoàn Duy Trinh, là một điền chủ “có khoảng vài trăm mẫu ruộng đất”. Năm 25 tuổi, Võ Thị Đệ tham gia phong trào Cần vương do Lê Trung Đình – Nguyễn Tự Tân lãnh đạo. Sau cuộc khởi nghĩa 1885 thất bại, tiếp lương cho nghĩa quân Nguyễn Bá Loan, Tôn Tường (Quảng Ngãi), Nguyễn Duy Hiệu (Quảng Nam) dưới ngọn cờ Cần vương. Tiếp sau bà tham gia các phong trào yêu nước Duy Tân [1906] rồi Đông Du [1908] và Việt Nam Quang phục hội [1912], được tôn là “Hộ quốc mẫu nghi”, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa năm 1916. Tuy nhiên, toan tính cứu nước bất thành, các nhà yêu nước kẻ bị giết, người bị tù đày. Võ Thị Đệ bị kẻ thù truy bắt, giam giữ 3 năm. Khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh ra đời (1930), dù đã cao tuổi, bà vẫn là một người ủng hộ tích cực, nhiệt thành. Mộ và nhà thờ Võ Thị Đệ đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Trong phong trào Văn thân, Bình Sơn còn có Đàm Thanh [1841 – 1884], người làng Nam An (xã Bình Hòa), đỗ Tú tài năm 1876, cùng Nguyễn Tự Tân, Võ Thị Đệ xây dựng chiến khu Cà Ty và chiến khu Truyền Tung ở phía tây huyện, luyện tập nghĩa quân. Sau Hiệp ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, triều đình nhà Nguyễn chấp nhận quyền bảo hộ của thực dân Pháp, nhân thể vào tháng 6.1884 bọn gián điệp đội lốt Thiên Chúa giáo lén lút mang vũ khí Pháp tuồn vào bên trong nhà thờ Trung Tín, hình thành nhóm vũ trang bất hợp pháp. Từ chiến khu Đồng Lớn – Cà Ty, lực lượng nghĩa binh do Đàm Thanh chỉ huy kéo về. Ngày 5.6.1884, trong trận đánh giáp lá cà, Đàm Thanh hy sinh. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, xã Nam An mang tên là xã Đàm Thanh.
Lê Ngung [1866 – 1916] chí sĩ yêu nước trong phong trào Duy Tân, Việt Nam Quang phục Hội, quê làng Đông Phước (xã Bình Thanh), đỗ tú tài năm 1897, năm 1906 ông tham gia Hội Duy tân. Năm 1908, trong phong trào cự sưu - khất thuế nổ ra rầm rộ, Lê Ngung bị thực dân bắt giam ở nhà lao Quảng Ngãi. Sau khi ra tù, Lê Ngung bắt liên lạc và hoạt động cho Việt Nam Quang phục Hội từ năm 1912. Năm 1916 Hội chủ trương khởi nghĩa, Lê Ngung được phân công chỉ huy ở Quảng Ngãi. Ban chỉ huy khởi nghĩa dời về làng Sung Tích đêm 2 rạng 3.5.1916, một bộ phận bí mật vượt sông Trà Khúc đến ếm quân dưới chân thành Quảng Ngãi để chờ lệnh, thì địch trong thành đã chủ động bắn ra dữ dội. Cuộc khởi nghĩa đã bại lộ. Nhiều nghĩa quân bị giết, các thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa lần lượt bị sát hại. Lê Ngung quay về nhà đốt hết giấy tờ rồi tự tử. Mộ và nhà thờ Lê Ngung là di tích đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định bảo vệ. Hiện ở tỉnh lỵ Quảng Ngãi có một đường phố mang tên Lê Ngung.
Một nhân vật mà lịch sử cận – hiện đại của tỉnh Quảng Ngãi hay nhắc đến nhiều là ông Trần Kỳ Phong [1872 – 1941] chí sĩ yêu nước trong phong trào Duy Tân, quê làng Châu Me (xã Bình Châu), sau về sống ở làng Lệ Thủy (xã Bình Trị). Ông đỗ Tú tài năm 1888, tham gia phong trào phong trào Cần vương những năm 1895-1896, năm 1906 tham gia Hội Duy tân Quảng Ngãi. Năm 1908 tham gia phong trào kháng thuế, cự sưu, bị chính quyền thực dân phong kiến bắt kết án, đày ra Côn Đảo. Ở Côn Đảo 11 năm, Trần Kỳ Phong tiếp thu về chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng tháng Mười Nga từ sách báo tiến bộ do Nguyễn Ái Quốc từ hải ngoại bí mật truyền vào. Ra tù (tháng 3.1921), về quê, Trần Kỳ Phong dạy học, bốc thuốc, bí mật liên hệ với các nhà yêu nước, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Ông mở hiệu thuốc Bắc ở cửa tây thành Quảng Ngãi, làm nơi lui tới của những nhà yêu nước. Khi Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ông trở thành một ủng hộ viên tích cực. Ngày 1.3.1937, Trần Kỳ Phong dẫn đầu đoàn biểu tình Quảng Ngãi đến gặp Godart và phái bộ chính phủ Pháp để đưa kiến nghị đòi dân sinh, dân chủ. Trần Kỳ Phong được xem là người đầu tiên đem tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin (ở dạng sơ khai) về truyền bá ở Quảng Ngãi và là chiếc cầu nối từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, định hướng cho thế hệ tiếp theo.
Trong phong trào yêu nước mang màu sắc dân chủ tư sản Bình Sơn có Võ Quán [1882 – 1913], chí sĩ yêu nước trong phong trào Đông Du, Việt Nam Quang phục Hội do chí sĩ Phan Bội Châu chủ xướng. Ông người làng Trung Sơn (xã Bình Phước), là người xuất dương trong phong trào Đông Du. Năm 1908, Nhật cấu kết với Pháp cưỡng bức lưu học sinh, Võ Quán lánh qua Quảng Châu (Trung Quốc), gặp lại lãnh tụ Phan Bội Châu ở đây. Ngày 19.6.1912, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục Hội, Võ Quán được phân công là một trong 3 ủy viên phụ trách 3 kỳ vận động trong nước, ông phụ trách Trung Kỳ. Từ đó đến tháng 9.1913 ông liên tục có những chuyến đi về giữa Việt Nam và Trung Quốc, tiếp xúc nhiều lần với các nhà yêu nước Quảng Nam, Quảng Ngãi, thành lập phân bộ Việt Nam Quang phục Hội, lại quyên tiền đưa ra nước ngoài cho hoạt động của Hội. Trong sách Phan Bội Châu niên biểu, cụ Phan chép: “Trung Kỳ ông Lam Quảng Trung, người tỉnh Quảng Nghĩa, nguyên tên là Võ Quán, ông lưu Nhật Bản làm khổ công học sinh, gần nửa năm, lại về Tàu, vào nhà Sĩ quan học hiệu ở Bắc Kinh tập chiến lược, nghiên cứu về việc học quân sự, quên ngủ quên ăn, chỉ mong một ngày được ra trận đánh. Sau khi học đã tốt nghiệp, ông xin với Viên Thế Khải Tổng thống cấp cho lộ phí, đi dò xét tình hình Hoa – Việt ở khoảng lưỡng Việt, Vân Nam để dự bị đến lúc dụng binh. Viên Tổng thống khen mà cấp phí cho đi, lặn lội vất vả, vượt khe qua rừng, xông pha ở trong đám lam yên chướng độc, trót hơn một năm. Tháng chín năm Quý Sửu (1913), do Vân Nam về Quảng Đông, bệnh não phát nặng, vào Y viện vài tháng, ông biết bệnh khó thôi, mà càng tức tối vì không chết ở trận tiền, bèn tự gieo mình xuống sông Châu Giang!”
Võ Hàng [1877 – 1949] chí sĩ yêu nước trong phong trào Đông Du, Việt Nam Quang phục Hội, người thôn Tân Phước, xã Bình Minh, thi đỗ Tú tài khoa Quý Mão 1903, tham gia Hội Duy tân, Võ Hàng bị bắt giam vì vận động Đông Du. Trong nhà lao Quảng Ngãi, Võ Hàng bắt liên lạc với tổ chức bên ngoài, được các chí sĩ yêu nước trong Việt Nam Quang phục Hội vận động, giao cho ông dự thảo bản Hịch cho vua Duy Tân trong cuộc dự mưu khởi nghĩa vào đêm mồng 2 rạng ngày 3.5.1916 và tham gia chỉ huy khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa chưa bùng lên đã bị bại lộ, hàng loạt chí sĩ bị giết và bị đày. Võ Hàng chưa mãn tù đã bị tăng án, cuối năm 1916 bị đày đi Lao Bảo. Năm 1926, mãn tù, ông về quê dạy học. Tháng 8.1937, thực dân Pháp lừa bịp tổ chức Viện Dân biểu Trung Kỳ, Đảng Cộng sản tương kế tựu kế, vận động các nhân sĩ yêu nước ra ứng cử, trong đó có Võ Hàng. Ông trúng vào Viện Dân biểu Trung Kỳ và tham gia bỏ phiếu phủ quyết dự luật tăng thuế trong phiên họp ngày 16.9.1937. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Võ Hàng giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi.
Thời đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bình Sơn có Huỳnh Tấu [? – 1944] chiến sĩ cộng sản, người làng Đông Yên, (xã Bình Dương). Năm 1928 Huỳnh Tấu gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, bị địch bắt cầm tù, được kết nạp vào Đảng bởi tổ chức Đảng bí mật trong nhà tù. Giữa năm 1930, Huỳnh Tấu ra tù, vừa tham gia hoạt động lại bị bắt lần thứ hai năm 1931 và quản thúc tại nơi cư trú. Năm 1932, ông tham gia củng cố Phủ ủy Lâm thời Bình Sơn và Đảng bộ tỉnh, được bầu vào Tỉnh ủy và Liên Tỉnh ủy miền Nam Trung Kỳ. Năm 1935, Huỳnh Tấu lại bị địch bắt và đưa ra xử tại phiên tòa ngày 12.7.1935 (vụ án “Tái tổ Đảng Cộng sản Đông Dương”), bị kết án đày đi Buôn Ma Thuột. Mùa hè năm 1942, ra tù, địch chuyển ông về Căng An trí Ba Tơ. Tháng 5.1943 Tỉnh ủy Lâm thời được thành lập lại do Huỳnh Tấu làm Bí thư. Tháng 6.1943, Huỳnh Tấu chỉ đao treo cờ, rải truyền đơn phổ biến chương trình, điều lệ của Mặt trận Việt Minh, bị chính quyền thực dân phong kiến truy lùng. Tháng 8.1943, Huỳnh Tấu bị địch bắt. Ông bị kẻ thù giam giữ, tra tấn cho đến chết trong nhà tù tháng 12.1944. Sau sự hy sinh của Nguyễn Nghiêm [1931], Huỳnh Tấu là Bí thư Tỉnh ủy thứ hai hy sinh thời trước Cách mạng tháng Tám 1945. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thôn Mỹ Huệ mang tên xã Huỳnh Tấu.
Ngoài những nhân vật lịch sử như trên đã được biết đến khá nhiều, ở Bình Sơn cũng còn khá những nhân vật khác. Đó là trường hợp ông Mai Thới, ông Võ Trí ở làng Long Giang (xã Bình Long) trong phong trào Cần vương, Duy tân, Việt Nam Quang phục Hội. Ông Đặng Xuân Phong (Cử Lạc) người làng Xuân Yên là yếu nhân trong Việt Nam Quang phục hội tỉnh Quảng Ngãi, hội đã tổ chức họp ở làng quê ông chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Duy Tân năm 1916. Ông Trần Thêm quê làng An Điềm nằm trong đội lính Khố Xanh trong thành Quảng Ngãi làm nội ứng cho cuộc khởi nghĩa Duy Tân, bị Pháp xử chém khi khởi nghĩa bại lộ năm 1916. Ông Huỳnh Phong người làng Thạch An (xã Bình Mỹ) cũng bi xử chém. Cuộc khởi nghĩa thất bại và sự khỏa lấp của thời gian nên nhiều người cũng bị quên lãng, rất cần được khơi sáng, tôn vinh, phục vụ giáo dục truyền thống ở quê hương. Thời đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bình Sơn có ông Phạm Quang Lãng là Bí thư Đảng bộ đầu tiên, bà Lê Thị Hành là Phó bí thư Đảng bộ đầu tiên; tại cuộc khởi nghĩa Ba Tơ có ông Phan Điệt người xã Bình Đông hy sinh trong trận đánh Nhật tại Xuân Phổ sau được truy tặng anh hùng liệt sĩ, trong kháng chiến chống Mỹ nổi lên các nhân vật như anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Trà (xã Bình Đông).
C. CÁC NHÂN VẬT VĂN HÓA
Nhân vật nổi trội nhất là Tế Hanh [1921 – 2009], nhà thơ nổi tiếng ở Việt Nam thời kỳ hiện đại. Tế Hanh tên thật là Trần Phố, sinh ngày 20.6.1921 tại thôn Đông Yên, xã Bình Dương. Cha là ông Trần Tất Tố tham gia phong trào yêu nước Đông Kinh nghĩa thục, có làm nhiều thơ về thế sự và quê hương. Thuở nhỏ Tế Hanh học ở trường làng Đông Yên, năm lên 15 tuổi ông rời quê ra học ở trường Quốc học Huế. Năm 17 tuổi ông viết bài thơ đầu tiên Những ngày nghỉ học (1938), giao du và được nhà thơ mới nổi tiếng. Ông tiếp tục sáng tác và xuất bản tập thơ Nghẹn ngào, được giải khuyến khích của Tự lực Văn đoàn năm 1939. Năm 1942, trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân giới thiệu Tế Hanh và trích một số bài thơ của ông. Tháng Tám 1945, Tế Hanh tham gia Việt Minh, hoạt động văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng. Ông là Ủy viên Giáo dục trong Ủy ban lâm thời TP Đà Nẵng. Trong kháng chiến chống Pháp, Tế Hanh tham gia nhiều hoạt động, từ năm 1949, ông ở trong Ban phụ trách Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Năm 1954, Tế Hanh tập kết ra Bắc, tham gia đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957, nhiều năm là Ủy viên Ban Chấp hành và Ban Thường vụ của Hội. Ông tiếp tục sáng tác và có nhiều bài thơ trữ tình nổi tiếng, thể hiện tình cảm cách mạng, với quê hương và tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam”. Năm 1996, Tế Hanh được giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1). Từ thập niên tám mươi của thế kỷ XX, Tế Hanh bị bệnh kéo dài. Ông mất ngày 16.7.2009 tại Hà Nội. Có một con đường ở TP Quảng Ngãi mang tên ông.
Trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam, Nguyễn Lộc là một tên tuổi rất quen thuộc. Ông là nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng trong nước từ thời kỳ đầu kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Lộc sinh năm 1936 tại xã Bình Mỹ, 1945-1954: học cấp 1 và 2 tại trường huyện, học cấp 3 tại trường Trung học Lê Khiết, Quảng Ngãi, năm 1954 được chọn ra miền Bắc để tiếp tục học tập (trước hiệp nghị Geneva). Sau đó sang Trung Quốc học Hoa văn, năm 1956-1957: Phiên dịch tại Ban chỉ đạo hoạt động quốc tế TW Đảng, năm 1957-1960: Học tại khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội; năm 1960-1987: Giảng dạy tại khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tháng 7.1984 nhận hàm Phó Giáo sư; năm 1987-2000: Giảng dạy tại khoa Ngữ văn Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, TP Hồ Chí Minh; năm 1995, đồng sáng lập trường Đại học dân lập Văn Hiến và là hiệu trưởng đầu tiên của trường này. Bị ốm nhiều năm liền và hiện không còn hoạt động. Ông đã có những bộ giáo trình mẫu mực về lịch sử văn học Việt Nam, các tác phẩm nghiên cứu Tuồng, văn học Tây Sơn.
Bên cạnh cac nhân vật trên còn có thể kể về Phan Minh Đạo (1930 – 2006) nhà thơ thời chống Mỹ, cứu nước; tên thật là Phan Thiên Bút, quê quán thôn Đông Yên xã Bình Dương, từng giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thuận Hải (tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận hợp nhất).
Đương thời Bình Sơn có Trần Thế Bảo, sinh năm 1937, tại làng Đông Yên, em ruột nhà thơ Tế Hanh; năm 1945 -1954: tham gia Đoàn Văn công Liên khu V; 1954: tập kết ra Bắc, học trường Âm nhạc Việt Nam, ở lại giảng dạy tại trường, rồi đi tu nghiệp tại Nhạc viện Liszt Ferenz, Budapest, Hungary; 1990: Bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ “Lòng bản yếu tố mô hình trong âm nhạc truyền thống Việt Nam”; năm 1991: Được tặng học hàm Phó Giáo sư. Hiện cư trú tại TP Hồ Chí Minh.
Còn nhiều người khác đang sinh sống và hoạt động, chưa thể kể ở đây.
D. KẾT
Huyện Bình Sơn với hình thế núi sông đã sinh ra nhiều nhân vật lưu danh vào sử sách qua nhiều thời kỳ của lịch sử, thể hiện tình cảm, ý chí của người Bình Sơn. Những người con ưu tú ở huyện Bình Sơn đã góp phần xứng đáng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lưu danh trong sử sách của nước nhà. Những nhân vật lưu danh vào sử sách thực sự là một di sản quý giá của huyện nhà, có sức cổ vũ to lớn cho các thế hệ hôm nay phấn đấu vươn lên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.
2. BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1930 - 1945), (tái bản có bổ sung và sửa chữa), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
3. BCH Đảng bộ huyện Bình Sơn, Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1930 – 1975), NXB Chính trị Quốc gia, 2006.
4. BCH Đảng bộ huyện Bình Sơn, Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Sơn (1975 – 2005), NXB Chính trị Quốc gia, 2010.
5. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghĩa Bình, Quảng Ngãi – Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 – 1975), NXB Tổng hợp Nghĩa Bình, 1988.
6. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi, Một số trận đánh của lực lượng vũ trang Quảng Ngãi, tập I, 2003; tập II, 2004.
7. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ngãi, Chiến thắng Ba Gia, Vạn Tường, tập I, 2003; tập II, 2004.
8. Bùi Định, Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Nghĩa 1885 - 1945. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Nghĩa Bình, 1985.
9. Cao Chư, Các nhà khoa bảng Nho học Quảng Ngãi 1819 - 1918, NXB Đà Nẵng, 2001.
10.Hồng Nhân (chủ biên), Quảng Ngãi, Đất nước - Con người - Văn hóa, Sở VHTT Quảng Ngãi, 1997.
11.Lê Ngãi/Ngại, Quảng Ngãi nhất thống chí, bản thảo chép tay lưu tại tư gia ông Lê Hồng Long, Quảng Ngãi, (không ghi năm viết).
12.Ngô Sĩ Liên và các tác giả, Đại Việt sử ký toàn thư, (Người dịch: Cao Huy Giu; Hiệu đính, chú giải và khảo chứng: Đào Duy Anh), tập I, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1972.
13.Ngô Sĩ Liên và các tác giả, Đại Việt sử ký toàn thư, (Người dịch: Cao Huy Giu; Hiệu đính, chú giải và khảo chứng: Đào Duy Anh), tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971.
14.Ngô Sĩ Liên và các tác giả, Đại Việt sử ký toàn thư, (Người dịch: Cao Huy Giu; Hiệu đính, chú giải và khảo chứng: Đào Duy Anh), tập III, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1968.
15.Nguyễn Bá Trác - Nguyễn Đình Chi - Khiếu Hữu Kiều và các tác giả, “Quảng Ngãi tỉnh chí”, Nam phong tạp chí, 1933, bản đánh máy lưu tại Thư viện tỉnh Quảng Ngãi (148 trang), 1993.
16.Nguyễn Q Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
17.Nhiều tác giả, Kỷ yếu hội thảo khoa học Lê Trung Đình và phong trào Cần vương ở Quảng Ngãi, Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ngãi, 1997.
18.Phạm Trung Việt, Non nước xứ Quảng, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1971.
19.Phạm Trung Việt, Khuôn mặt Quảng Ngãi, Nhà sách Nam Quang, Sài Gòn, 1973.
20.Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên (Tổ biên dịch Viện Sử học dịch), NXB Sử học, Hà Nội, 1970.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Viện Sử học phiên dịch và chú giải, tập 2, tái bản lần thứ 2, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006, trang 520.
[2] Lượng là Lê Trung Lượng, thân phụ chí sĩ Lê Trung Đình, thủ lĩnh Cần vương ở Quảng Ngãi.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét