Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU LỄ HỘI CÚNG MÁNG NƯỚC CỦA NGƯỜI CA DONG HUYỆN BẮC TRÀ MY (ThS. Nguyễn Tiến)

Tóm tắt: Ở huyện miền núi Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, người Ca Dong sống thành từng plơi. Mỗi plơi bao giờ cũng có một máng nước (lang tak) để thực hiện nghi lễ cúng máng nước. Lễ cúng máng nước là một lễ hội quan trọng nhất của đồng bào Ca Dong. Từ xa xưa, theo truyền thống và quan niệm của đồng bào Ca Dong, tổ tiên là nguồn nước (bến nước). Vì thế, lễ hội cúng máng nước ở đây rất được đồng bào Ca Dong coi trọng, yêu cầu phải có sự tham gia của cả cộng đồng. Do vậy, lễ hội cúng máng nước của người Ca Dong thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tính cố kết cộng đồng và những giá trị văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc riêng của người Ca Dong ở Bắc Trà My.

Từ khóa: Ca Dong, Xơđăng, lễ cúng máng nước, Bắc Trà My, dân tộc thiểu số Quảng Nam.

Nội dung:

Từ xa xưa, miền núi phía nam Quảng Nam ở huyện Bắc Trà My ngày nay là địa bàn sinh tụ của tộc người bản địa Ca Dong. Vùng đất linh thiêng huyền bí này đến nay vẫn còn ẩn chứa những giá trị văn hóa chưa được nghiên cứu mà năm 1933 G.H.Hoffet, nhà địa chất Pháp khi đến Trà My đã phải than thở rằng “Không thể nào nghiên cứu các dân tộc ở đây, không thể nào tiếp cận được các cư dân nội địa vì họ không chịu thần phục ngoại bang”. Và sau này, L.Condominas, sĩ quan Pháp, cha của nhà dân tộc học nổi tiếng G.Condominas, đồn trưởng đồn Trà My từ năm 1934-1937 cũng chỉ tiếp cận sơ bộ các tộc người miền thượng sông Tranh. Điều đó minh chứng cố kết của tính bản địa các tộc người, mà trong đó chiếm số đông hơn cả là người Ca Dong với 12.296 người sinh sống trên một địa bàn rộng lớn, có mặt hầu như ở khắp các xã Trà Bui, Trà Giáp, Trà Sơn. Trong quá trình lao động sản xuất, người Ca Dong đã giao thoa tiếp biến, dung hợp văn hoá của mình với các tộc người láng giềng để làm nên một vùng văn hoá mang đặc thù Ca Dong thể hiện rõ qua nghi lễ cầu mùa mang giá trị văn hóa độc đáo giữa núi rừng Trà My hùng vĩ.

Đối với người Ca Dong, ngay sau mùa thu hoạch và lễ cúng cơm mới[1], họ bắt đầu chuẩn bị cho những tháng nghỉ ngơi. Vì thế, người Ca Dong cùng nhau tiến hành sửa sang máng nước và làm lễ cúng máng nước. Theo phong tục truyền thống của người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My và cũng như Nam Trà My, mùa lễ hội trong năm chỉ thực sự bắt đầu khi toàn bộ cộng đồng đã tổ chức lễ cúng máng nước. Tuy lễ hội cúng máng nước không được tổ chức với quy mô lớn và thời gian dài như lễ hội mừng lúa mới và lễ hội ăn trâu, song lễ cúng máng nước là một phần không thể thiếu trong các hoạt động lễ hội của đồng bào Ca Dong. Bởi đối với đồng bào Ca Dong, máng nước là một vật dụng trồng trọt rất quý, nó không chỉ là dụng cụ phục vụ sản xuất mà còn phục vụ cho sinh hoạt trong đời sống hằng ngày. Về tính thiêng trong tín ngưỡng của người Ca Dong, nó còn là vật tượng trưng mong ước của cả cộng đồng về sự bình an, no đủ… Do vậy, từ rất lâu đời, máng nước chính là nơi linh thiêng, biểu hiện cho sự bình an, thịnh vượng và thống nhất của cộng đồng Ca Dong. Hoạt động cúng máng nước chính là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng mang nhiều ý nghĩa văn hóa sâu sắc như cầu xin cuộc sống hạnh phúc, sức khoẻ và củng cố khối đoàn kết cộng đồng làng xã.

Người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My là một tộc người có đời sống văn hóa vô cùng phong phú. Trong đó, lễ hội cúng máng nước là một trong những sinh hoạt văn hóa cộng đồng được cho là đặc trưng, tiêu biểu nhất của người Ca Dong. Bởi theo các nhà nghiên cứu văn hóa, lễ hội cúng máng nước vừa thể hiện sự tập trung trí lực của cả cộng đồng, vừa hội tụ những giá trị văn hóa thể hiện niềm mong ước, khát vọng ngàn đời của cộng đồng Ca Dong giữa vùng núi rừng Bắc Trà My. Vì thế, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tập trung tìm hiểu và làm rõ giá trị văn hóa trong lễ hội cúng máng nước của người Ca Dong, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa lễ hội của người Ca Dong trong giai đoạn hiện nay.

1. Vài nét về người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My và những sinh hoạt liên quan đến văn hóa lễ hội

Bắc Trà My là một trong sáu huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Tam Kỳ 50km2 về phía Tây Nam. Bắc Trà My có diện tích tự nhiên là 823,05km2, với địa hình phức tạp, địa thế núi cao, đồi dốc hiểm trở, nhiều sông suối ngắn và chảy xiết vào mùa lũ. Thế nhưng từ ngàn xưa, trước khi người Kinh/Việt có mặt ở vùng đất này, Bắc Trà My đã là nơi cư trú của nhiều tộc người thiểu số như: Ca Dong, Xơđăng, Co, Mơ Noong[2]

Bảng 1: Dân tộc, dân số huyện Bắc Trà My (Quảng Nam)


TT

Dân tộc

Tổng số người

Địa bàn cư trú


1

Kinh

20.806

Thị trấn Trà My, Trà Giang, Trà Dương


22

Ca Dong

12.296

Trà Bui, Trà Giáp, Trà Đơn


33

Cor

4.056

Trà Nú, Trà Kót, Trà Giáp


44

Mơ Noong

614

Trà Bui, Trà My


55

Xơ Đăng

105

Trà Tân, Trà Bui


56

Các dân tộc khác

501

Rải rác ở các xã


(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Bắc Trà My)

Người Ca Dong thuộc ngữ hệ Môn - Khmer, sinh sống ở miền núi phía Tây Nam Quảng Nam, với dân số khoảng 18.000 người, tập trung ở huyện Nam Trà My, Bắc Trà My và một số ít ở xã Phước Gia, Phước Trà - huyện Hiệp Đức. Làng (plơi) là đơn vị xã hội truyền thống duy nhất của đồng bào Ca Dong gồm nhiều nóc (spôk) có phạm vi đất đai riêng, ranh giới quy ước theo con suối, dòng sông, đỉnh núi... Tên gọi của plơi dùng theo tên địa hình hoặc theo tên của người đứng đầu làng. Trong các tộc người thiểu số cư trú trên địa bàn huyện Bắc Trà My, tộc người Ca Dong có số lượng đông nhất, với 12.296 người, chiếm 32% dân số toàn huyện[3]. Bởi thế, chính tộc người Ca Dong đã tạo nên những đặc trưng văn hoá đặc sắc, riêng biệt và nổi bật nhất của vùng Bắc Trà My.

Do sinh sống trên một địa bàn rộng lớn, lại có mặt hầu như ở khắp các xã Trà Bui, Trà Giáp, Trà Đơn… nên trong quá trình hình thành và phát triển, tộc người Ca Dong đã giao thoa, tiếp biến và dung hợp văn hoá của mình với các tộc người láng giềng như Xơdăng, Cor, Mơ Noong để làm nên một vùng văn hoá mang đặc thù Ca Dong thể hiện rõ qua các phong tục tập quán và các lễ hội. Qua khảo sát lễ hội của người Ca Dong, chúng tôi nhận thấy, trong một năm, họ phải thực hiện nhiều lễ hội như: lễ hội cúng máng nước, lễ hội ăn trâu huê, lễ hội trỉa hạt, lễ hội ăn Tết[4]… Trong đó, lễ hội cúng máng nước là lễ hội mở đầu cho mùa lễ hội trong năm của cộng đồng Ca Dong; đồng thời còn là một trong những sinh hoạt văn hóa được cho là tiêu biểu, độc đáo, mang đậm tính cộng đồng, thể hiện ước vọng ngàn đời của người Ca Dong. Thông qua quá trình thực hiện lễ hội cúng máng nước, những giá trị văn hoá truyền thống của người Ca Dong được gìn giữ và lưu truyền trong từng cộng đồng làng của cư dân Ca Dong ở vùng Bắc Trà My, Quảng Nam.

Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của người Ca Dong luôn gắn chặt với núi rừng, vì vậy điều kiện canh tác rất khó khăn nên đồng bào luôn mơ ước về sự no đủ được mùa, đó chính là lý do hình thành Lễ cúng máng nước. Lễ thức này không chỉ thể hiện trên khía cạnh vật chất, kết thúc một vụ mùa bội thu, mở ra một năm mới đầy hứa hẹn “mà còn cả về tín ngưỡng tâm linh” là tiền đề cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của cộng đồng. Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Ca Dong, việc tổ chức và điều hành lễ hội do Chủ làng (Kră plơi) chủ trì. Ông là người rất có uy tín được các trưởng nóc hay trưởng gia đình cử ra có nhiệm vụ giữ gìn phong tục tập quán, đại diện dân làng trong các lễ thức tín ngưỡng tôn giáo. Vì vậy, đối với việc tổ chức lễ hội to hay nhỏ, bất kể mọi lĩnh vực khi dân làng đã thảo luận và đi đến nhất trí thì Chủ làng là người đôn đốc thực hiện. Vào cuối năm, khi những đợt rét mất dần thời tiết chuyển sang ấm áp, Chủ làng và thầy cúng (padâu tareo) bàn bạc với dân làng về tổ chức lễ hội, chọn ngày tiến hành lễ xin phép thần linh và nếu thần linh đồng ý thì họ thông báo cho cả làng được biết. Công việc chuẩn bị bắt đầu bằng việc mỗi nhà trong làng ủ nhiều ché rượu. Thanh niên trai tráng vào rừng lấy lồ ô, nứa, lá thiên niên kiện để trang trí và làm cây nêu, cây huê (cột ăn trâu), con gái giã gạo nếp làm bánh păk, nhưng quan trọng nhất là giã gạo từ lúa padâm và hái lá đót gói bánh thiêng. Padâm là thứ lúa do thành viên đã có vợ trong mỗi gia đình trồng một bụi trên khoảnh đất riêng trước khi bắt đầu mùa rẫy do người vợ chăm sóc và tự tay tuốt đem về giữ riêng trong chòi để đem ra giã gạo dâng cúng mẹ lúa (Yang s'ti), thần lúa (Yang vút)[5] và bàn thờ tổ tiên (pló xơi) trong lễ hội.

Người Ca Dong rất coi trọng Tết đầu năm nên đồng bào thường tổ chức rất chu đáo. Thời gian Tết nằm trong tháng (Khê) ning nong[6] là khoảng giữa từ khi lúa rẫy mùa trước đem về chòi đến khi có lễ Len a chem (làm phép phát rẫy) chuẩn bị mùa sau. Mỗi plơi người Ca Dong tổ chức cúng máng nước theo mỗi ngày riêng[7].

2. Giá trị văn hóa trong lễ hội cúng máng nước của người Ca Dong

Ở huyện miền núi cao Bắc Trà My, người Ca Dong sống thành từng plơi. Mỗi plơi bao giờ cũng có một máng nước (lang tak) để thực hiện nghi lễ cúng máng nước. Lễ cúng máng nước là một lễ hội quan trọng nhất của đồng bào Ca Dong. Từ xa xưa, theo truyền thống và quan niệm của đồng bào Ca Dong, tổ tiên là nguồn nước (bến nước). Vì thế, lễ hội cúng máng nước ở đây rất được đồng bào Ca Dong coi trọng, yêu cầu phải có sự tham gia của cả cộng đồng. Do vậy, chúng tôi cho rằng, lễ hội cúng máng nước của người Ca Dong thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tính cố kết cộng đồng và những giá trị văn hóa độc đáo mang đậm bản sắc riêng của người Ca Dong ở Bắc Trà My.

Thứ nhất, đối với người Ca Dong, ngay sau mùa thu hoạch và lễ cúng cơm mới[8], họ bắt đầu chuẩn bị cho những tháng nghỉ ngơi. Vì thế, người Ca Dong cùng nhau tiến hành sửa sang máng nước và làm lễ cúng máng nước. Theo phong tục truyền thống của người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My, mùa lễ hội trong năm chỉ thực sự bắt đầu khi toàn bộ cộng đồng đã tổ chức lễ cúng máng nước. Tuy lễ hội cúng máng nước không được tổ chức với quy mô lớn và thời gian dài như lễ hội mừng lúa mới và lễ hội ăn trâu, song lễ cúng máng nước là một phần không thể thiếu trong các hoạt động lễ hội của đồng bào Ca Dong. Bởi đối với đồng bào Ca Dong, máng nước là một vật dụng trồng trọt rất quý, nó không chỉ là dụng cụ phục vụ sản xuất mà còn phục vụ cho sinh hoạt trong đời sống hằng ngày. Về tính thiêng trong tín ngưỡng của người Ca Dong, nó còn là vật tượng trưng mong ước của cả cộng đồng về sự bình an, no đủ… Do vậy, từ rất lâu đời, máng nước chính là nơi linh thiêng, biểu hiện cho sự bình an, thịnh vượng và thống nhất của cộng đồng Ca Dong. Hoạt động cúng máng nước chính là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng mang nhiều ý nghĩa văn hóa sâu sắc như cầu xin cuộc sống hạnh phúc, sức khoẻ và củng cố khối đoàn kết cộng đồng làng xã.

Thứ hai, trong lễ hội cúng máng nước, ngoài những nghi lễ cúng tế Giàng, thần linh, ông bà, tổ tiên và các hoạt động ăn, uống, vui chơi tại nhà của Chủ làng, người Ca Dong còn tổ chức ăn uống, vui chơi riêng ở từng gia đình, từng nóc, plơi. Do vậy, để có những lễ vật cần thiết dâng lên cúng Giàng, ông bà, tổ tiên, thần linh, Hội đồng già làng tiến hành phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận dân làng hoặc từng nóc vào rừng săn bắt chim, thú rừng và hái nhặt các loại rau, quả rừng, ốc, cua, cá ở các khe suối nhưng không được dùng ná hay bẫy thò (nắck)[9]. Tục lệ này còn thấy ở các cư dân Môn - Khmer ở miền Bắc. Mục đích chính của hoạt động này là diễn lại cuộc sống hái lượm, săn bắt thuở xa xưa của tổ tiên. Bởi vì theo quan niệm truyền thống, trong thời gian diễn ra lễ cúng máng nước, tất cả người Ca Dong đều kiêng đi rẫy, đi rừng săn bắn, đi suối đánh cá, không ai được ra khỏi làng, khách khứa cũng không được đến chơi và đặc biệt cồng chiêng phải được gióng lên liên hồi không nghỉ[10]. Những hoạt động trên chính là hình thức thể hiện sự tôn trọng, chung sống hoà bình của con người nơi núi rừng với thiên nhiên, với cuộc sống xung quanh họ trong những giây phút thiêng liêng của cộng đồng.

Thứ ba, lễ cúng máng nước của người Ca Dong diễn ra trong 3 ngày, 3 đêm dưới sự điều khiển của Chủ làng. Trước khi tiến hành lễ cúng máng nước, Chủ làng đứng ra huy động tất cả người dân trong làng sửa sang lại máng nước, dọn dẹp sạch sẽ những nơi có máng nước đi qua, nhất là ở đầu nguồn nước. Tất cả người Ca Dong trong các làng cùng nhau thực hiện một cách tự nguyện. Ngoài yếu tố tâm linh thì đây cũng hàm chứa giá trị của nếp sống văn minh tiến bộ, vệ sinh môi trường sạch sẽ. Điều này thể hiện tinh thần đoàn kết, thống nhất của cộng đồng Ca Dong trong các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội. Bởi, họ có niềm tin vào các thần linh và sự chỉ đạo của Chủ làng. Chính niềm tin đó đã giúp cho mỗi cá nhân, cộng đồng Ca Dong có những việc làm, hành động tự nguyện và đồng thuận trong việc tổ chức các sinh hoạt tín ngưỡng nói chung, lễ cúng máng nước nói riêng. Đây là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức mạnh, sự cố kết của cộng đồng cư dân Ca Dong nơi núi rừng sâu thẳm.

Thứ tư, trong lễ cúng máng nước, cồng chiêng được đánh suốt cả buổi lễ. Qua khảo sát và nghiên cứu thực tế địa bàn, chúng tôi nhận thấy, một đặc điểm chung của tất cả các dân tộc thiểu số ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên (trong đó có đồng bào Ca Dong ở huyện Bắc Trà My), đó là: cồng chiêng vừa là vật thiêng liêng trong các gia đình - một nhạc cụ gắn chặt với những nghi thức cúng tế trong đời sống văn hoá tinh thần; vừa là phương tiện để trao truyền các giá trị văn hóa, tập hợp cộng đồng. Chính đoạn trích trong Trường ca Đam San cũng thể hiện điều này: “Ơ các con! Hãy đánh lên cho tiếng chiêng bay tới chín tầng trời, lọt qua sàn tới tận bảy tầng đất, cho lan qua phía Tây tới người Lào buôn voi, vọng sang phía Đông lọt tai người Kinh buôn muối. Báo cho mọi người nhà Đam San có việc” (Trường ca Đam San).

Thứ năm, lễ cúng máng nước diễn ra trong 3 ngày, 3 đêm và thu hút sự tham gia của toàn bộ cộng đồng Ca Dong. Hoạt động này đã chính là sợi dây gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh của người Ca Dong.

- Trong ngày đầu của lễ cúng, từ sáng sớm, cả làng ra bến nước làm lễ cúng co dooc bẹn, karát lang tak (cúng máng nước). Trong tâm thức đồng bào Ca Dong máng nước không chỉ là nơi phục vụ chung mà còn là vật tượng trưng cho sự thịnh vượng và thống nhất của cả làng, ẩn chứa tín ngưỡng cộng đồng cầu cho mùa màng bội thu, dân làng mạnh khoẻ. Trước lễ, chủ làng huy động mọi người sửa sang máng, thay thế các ống tre dẫn nước, dọn dẹp các nơi có nước đi qua. Trong thời gian cúng, mọi người kiêng đi rẫy, săn bắn, đánh cá; không ai được ra khỏi làng, khách cũng không được đến và chiêng trống gióng lên liên hồi vì đây là lễ thức quan trọng nhất, máng nước là nơi trú ngụ của thần nước nên cần phải giữ gìn tính thiêng liêng ấy. Lễ vật cúng là một con lợn và một ché rượu lớn, nhưng quan trọng nhất phải có vật hiến tế là một con gà trống tơ chưa gáy, chủ làng cắt tiết gà bên cạnh nguồn nước, đổ tiết vào nguồn nước và sau đó dân làng lấy lồ ô hứng nước này đem về dâng cúng Giàng, tổ tiên. Cạnh máng nước trai làng dựng cây nêu hai tầng và trong làng thì trang trí những “sợi dây phép” bằng lạt nứa có buộc lá thiên niên kiện giăng quanh làng và trên mỗi mái nhà. ở lối chính dẫn vào làng, người Ca Dong đặt hai tượng người cầm kiếm đẽo từ cây dương xỉ để trừ ma quỷ.

Chủ làng cử ra 6 người, chia làm hai nhóm để lo việc cúng bái do thầy cúng phụ trách: Một nhóm thực hiện lễ cúng theo đường dẫn nước. Thầy cúng tay cầm chén rượu vừa đi vừa lẩm nhẩm khấn vái những bài cúng mang nội dung xua đuổi những điều không may, các thứ ô uế không được lại gần máng nước…; Một nhóm thực hiện lễ cúng tại bến nước có sự tham gia của Chủ làng. Trong khi Chủ làng làm lễ, thầy cúng sẽ làm phép trừ tà đuổi ma khỏi bến nước. Trước tiên, Chủ làng đọc bài cúng gửi con vật hiến tế, mong muốn nó sẽ đem lại sinh khí cho cả làng, sau đó mới đem cắt tiết. Máu của nó được hoà vào rượu để cúng. Cúng xong, Chủ làng đem chén rượu đó đổ vào máng nước cầu mong cho nước về thật nhiều, cho dân làng no ấm khoẻ mạnh. Máu con vật hiến sinh sẽ theo thần Nước chảy xuống tận cuối máng nước ở plơi. Nơi đó, những người ở nhà đã đợi sẵn để đón thần Nước. Theo quan niệm truyền thống của người Ca Dong, nếu lúc này, mọi người trong làng lấy nước đó dùng thì sẽ trừ được mọi bệnh tật, thần Nước sẽ phù hộ cho dòng nước mãi tinh khiết, trong sạch, cho bát cơm dẻo, bát canh ngọt và cho tâm hồn con người luôn thanh thản. Bởi, người Ca Dong tin rằng lúc này sinh khí của thần núi, thần đất và vật hiến tế sẽ truyền vào cho mọi người.[11]

Cuối ngày thứ nhất, từ máng nước trở về, các chủ gia đình đến thẳng chủ làng để nấu cơm mới, dâng rượu cho thần linh và cầu phúc cho cộng đồng làng. Sau đó, tùy theo điều kiện kinh tế mà họ tổ chức lễ ăn trâu (bít pô) ở gia đình. Nếu khá giả thì “ăn trâu huê” quy mô lớn hoặc nếu kém một chút thì “ăn trâu lừng gưng” kèm theo nghi thức “nhảy cơm”. Người trong gia đình nhảy múa xung quanh bàn thờ tổ tiên, lần lượt ném cơm vào nhau và cùng reo hò, đánh cồng chiêng. Theo phong tục, nếu người nào dính cơm, xôi vào người nhiều nhất sẽ được may mắn nhiều trong năm. ăn trâu xong họ cùng nhau đến từng nhà thăm viếng, chúc tụng trong niềm vui dạt dào tình cảm, lâng lâng men rượu (5). Đêm đến, bên ánh lửa bập bùng, dân làng đánh chiêng, hát ra nghé (đối đáp), hát plét (ngẫu hứng), kể tabuool (truyện cổ), hò đâm trâu huê, đánh đàn kalong vút, nhảy ca vố[12] và mời nhau uống rượu suốt đêm[13]... Người già, trẻ, con trai, con gái, khách của làng cùng vui chơi thoả thích, thức thâu đêm đến sáng.

- Sang ngày thứ hai, lễ cúng máng nước được thực hiện ở từng nóc nhà (gia đình). Để báo hiệu cho mọi người biết lúc này trong làng đang diễn ra lễ cúng, cấm đi lại, ở mọi ngã đường trong làng đều buộc dây, treo bông gòn hay lông gà ở giữa đường đi. Theo quan niệm của đồng bào Ca Dong, bông gòn tượng trưng cho dòng suối mát tinh khiết, còn lông gà là một dấu hiệu riêng của đồng bào không thể thiếu trong lễ cúng máng nước.

Mỗi gia đình người Ca Dong tin rằng các thần linh cùng tổ tiên đang về dự lễ cúng của từng nhà được cử hành bên bếp lửa đang cháy, người phụ nữ chia cho mỗi thành viên trong gia đình một chiếc bánh thiêng. Ăn bánh xong từng người cầm lá đót gói bánh ném lên mái nhà để làm phép. Họ cho rằng lá đót nghiêng về phía bếp thì trong năm đó người ném sẽ bị đau ốm, lá đót chỉa thẳng lên trời thì sẽ được mạnh khoẻ. Sau lễ cúng không khí trở nên rộn ràng, cả gia đình lo nấu bánh, làm thịt lợn, gà để ngày hôm sau đãi khách. Đặc biệt họ cố gắng chuẩn bị 4 con vật đặc sản là rắn mối, rắn nước, chuột và kắc ké để đãi khách quý. Trong ngày lễ hội, đồng bào kiêng không ăn những con vật có màu đỏ như bò, mang, cá vi đỏ... và không bao giờ người Ca Dong ăn thịt chó vì vi phạm luật tục[14].

- Ngày thứ ba, cả làng thực hiện lễ cúng chung. Lễ vật chỉ gồm một chén rượu và một con gà trống tơ chưa gáy. Sau khi cúng xong, mọi người cùng nhau tháo dỡ những vật “báo cử” ở các ngã đường, sau đó tập trung nhau tại nhà Chủ làng (vì người Ca Dong không có nhà Rông) cùng với những thứ mang theo như: rượu, cơm lam… Theo phong tục truyền thống, mỗi gia đình, mỗi nóc có bao nhiêu thành viên thì phải có chừng ấy ống cơm lam, rượu mang đến để chung vui. Vào thời điểm này, bếp lửa nhà Chủ làng luôn đỏ bập bùng. Đợi cho mọi người đông đủ, Chủ làng chúc cho mọi người được khoẻ mạnh, mùa màng năm tới bội thu, gia đình không ốm đau bệnh tật… “Lời cầu chúc của ông đi từng nóc nhà, đến từng công cụ lao động, các vũ khí săn bắn, cho đến các chuồng gia súc”[15].

Qua các bước thực hành lễ tế, chúng ta thấy được nét văn hóa trong sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng, nhất là khát vọng của người Ca Dong được thân thiện với các thần linh, muốn được thần linh che chở, phù hộ ban cho dòng nước mãi tinh khiết, trong sạch; cho bát cơm dẻo, bát canh ngọt; cho mọi bệnh tật tan biến và cho tâm hồn con người luôn thanh thản... Đây được xem là cách ứng xử linh hoạt trong mối quan hệ giữa con người với các lực lượng siêu nhiên, giữa con người với môi trường sống xung quanh. Do vậy, lễ hội cúng máng nước thật sự cần thiết và không thể thiếu trong tín ngưỡng của đồng bào Ca Dong.

Thứ sáu, sau khi đã thực hiện những nghi thức, tín ngưỡng đặc biệt theo đúng phong tục truyền thống của cộng đồng, đồng bào Ca Dong cùng nhau ăn uống, ca hát, nhảy múa… Có thể nói, lễ cúng máng nước của người Ca Dong không chỉ là nơi đề cao và tôn thờ các thần linh mà còn là nơi thể hiện khả năng thẩm mỹ của cả cộng đồng. Tư duy thẩm mỹ đó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động trong lễ hội từ không gian tổ chức lễ hội đến nghệ thuật trang trí nơi tế lễ. Bên cạnh đó, tham gia lễ hội, mỗi người dân Ca Dong còn tự làm đẹp cho mình, từ y phục truyền thống đến dáng vẻ, lời ăn tiếng nói, cử chỉ, thái độ. Ai ai cũng tự mình hướng tới chân, thiện, mỹ. Sau buổi tế lễ ngày thứ ba, trai gái Ca Dong tha hồ trò chuyện, hát đối, giao duyên, tìm hiểu nhau, còn những người lớn tuổi thì có dịp quây quần hát cho nhau nghe, kể lại cho con cháu nguồn gốc tổ tiên, ông bà. Hoạt động này diễn ra thâu đêm đến tận sáng sớm, với sự tham gia đông đảo của tất cả các thành viên. Thông qua lễ hội cúng máng nước, tất cả những luật tục quan trọng của đồng bào Ca Dong được nhắc lại như là những lời khuyên có tính răn đe với mọi thành viên trong làng nhưng thật chí tình, sâu sắc, nhằm giúp thế hệ trẻ biết để tuân thủ mà giữ gìn mình, bảo vệ, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, cộng đồng làng, nóc. Do vậy, chính các hoạt động vui chơi giải trí trong lễ hội cúng máng nước đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào Ca Dong và bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống. Đó chính là sức mạnh của tình đoàn kết, chung sức của cộng đồng làng bản người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My.

3. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong lễ hội của người Ca Dong

Từ thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, lễ hội là sự kết hợp hài hòa của nhiều loại hình văn hóa khác nhau. Các đặc trưng văn hóa đó bắt nguồn từ dân gian, được nâng niu, gìn giữ, bồi đắp và phát huy giá trị qua từng thời kỳ lịch sử. Trong sinh hoạt hàng ngày, các đặc trưng văn hóa nghệ thuật đó tự hoàn thiện, nâng cao thêm tính nghệ thuật để chờ đến ngày hội là bộc lộ ra hết trước mọi người[16].

Ở huyện Bắc Trà My, lễ hội (trong đó có lễ hội cúng máng nước) của người Ca Dong là môi trường sinh hoạt văn hóa - xã hội lành mạnh. Đến với lễ hội là đến với những hoạt động vui chơi, giải trí, là cơ hội để con người giao lưu văn hóa, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, củng cố thắt chặt tình cảm giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng. Môi trường lễ hội cũng là môi trường tốt cho việc bảo tồn các sắc thái văn hóa truyền thống trước mọi thay đổi hiện nay. Do vậy, vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong lễ hội của đồng bào Ca Dong ở Bắc Trà My hiện nay là phải tổ chức lễ hội sao cho vừa thể hiện được truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông, của vùng đất; vừa phù hợp với xu thế của thời đại, góp phần làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng Ca Dong ở huyện Bắc Trà My nói riêng, ở tỉnh Quảng Nam nói chung.

Từ thực tế nghiên cứu trên, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội của người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My như sau:

Thứ nhất, về công tác tổ chức: các cơ quan chức năng phải tiếp tục chấn chỉnh, đổi mới phương pháp quản lý, tổ chức lễ hội. Cụ thể là, việc tổ chức lễ hội của người Ca Dong cần được định hướng theo phương châm cộng đồng là chủ thể đứng ra tổ chức, tham gia và cũng là người hưởng thụ các giá trị lễ hội. Điều đó có nghĩa là Đảng và chính quyền địa phương phải thông qua các tổ chức của đồng bào Ca Dong để định hướng công tác tổ chức lễ hội ở các làng, các nóc sao cho phù hợp với những gì mà lễ hội vốn có, phù hợp với sở nguyện của người dân; tránh “hành chính hóa” lễ hội, biến lễ hội thành công việc Nhà nước ở địa phương, còn người dân thì đứng ngoài lễ hội, xem lễ hội như không phải của mình. Để đạt được hiệu quả như mong muốn, chúng tôi cho rằng, những nhà hoạch định, nhà quản lý cần có sự nghiên cứu, xây dựng mô hình phù hợp với quy mô và nội dung lễ hội, phải xác định rõ “lễ hội nào cần bảo tồn và tổ chức thường xuyên theo định kỳ, lễ hội nào cần được phát huy nhân rộng”.

Thứ hai, trong khâu tiến hành tổ chức lễ hội: vấn đề đặt ra là phải tiến hành tổ chức lễ hội như thế nào cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

- Về phần lễ: đây là phần nghi thức của các lễ hội, nhưng nó lại gắn bó chặt chẽ với yếu tố tâm linh, làm nên tính trang trọng, huyền bí, lôi cuốn… của các lễ hội. Chính vì thế, nếu trong quá trình tổ chức, những người tổ chức không nên quá cứng nhắc, trung thành với nghi thức cũ sẽ làm cho lễ hội kéo dài, rườm rà, nhàm chán, nặng về hình thức; còn nếu cải biến quá thì sẽ mang tính áp đặt và làm biến dạng các lễ thức truyền thống. Vì thế, chúng tôi cho rằng, trong các lễ hội, phần nghi thức, phần lễ vẫn phải được duy trì, nhưng cần tổ chức ngắn gọn, giảm bớt các thủ tục. Đặc biệt sau phần lễ (dù trong các lễ hội nhỏ), khi điều kiện kinh phí cho phép, cần chú trọng nhiều đến việc tổ chức phần hội kết hợp với trò chơi dân gian và hiện đại phù hợp với xu thế hiện nay.

- Về phần hội: đi đôi với việc phục hồi các nghi thức cổ truyền, cần quan tâm chỉ đạo, khôi phục các trò chơi dân gian. Bởi các trò chơi dân gian trong lễ hội của người Ca Dong ở Bắc Trà My là những di sản văn hóa đã có từ lâu đời. Đó là những trò chơi mang lại niềm vui cho cộng đồng người trong lễ hội của người Ca Dong như: ném cơm trong lễ nhảy cơm, hát giao duyên, biểu diễn cồng chiêng, kéo co, bắn nỏ… Các trò chơi này cần phải được sưu tầm, nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống, khuyến khích người dân, đặc biệt là lớp trẻ tham gia nhiệt tình vào các nội dung này. Hơn thế nữa, các trò chơi dân gian cần phải được tổ chức sao cho phù hợp với từng loại lễ hội, phù hợp với kỷ năng kỷ xảo của từng làng, nóc, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các trò chơi truyền thống với các trò chơi hiện đại để tránh trùng lặp, đơn điệu, tạo nên nét độc đáo cho các lễ hội. Muốn vậy, phần hội (phần vui chơi trong các lễ hội) phải được cân đối với phần lễ (phần nghi thức về mặt thời gian). Trong các lễ hội, không nên quá chú trọng tới phần lễ mà xem nhẹ phần hội, hay ngược lại. Bên cạnh đó cũng không nên khôi phục những trò chơi nặng về tính ăn thua, thiếu thẩm mỹ hoặc có hại cho sức khỏe của người dân. Khi tổ chức các trò chơi cũng cần có giải thưởng (dù là nhỏ) để động viên người chơi. Các giải thưởng nên khuyến khích cá nhân, tập thể đóng góp. Có như vậy, phần hội mới trở nên hào hứng, lôi cuốn được người tham gia cũng như người xem. Bên cạnh đó, trong phần cầu an, cầu chúc, cầu mùa màng bội thu, thời tiết thuận hòa cần phải hướng tới mục tiêu xã hội mang tính khái quát, hiện đại hơn như: cầu cho con em trong làng học giỏi, chăm ngoan, đoàn kết, hoàn thành tốt mọi nghĩa vụ,…

- Về ngôn ngữ cúng tế trong phần lễ cũng là một vấn đề cần được lưu ý. Bởi vì, qua các bài cúng tế, lớp con cháu sẽ có điều kiện ôn lại lịch sử hào hùng của cha ông, nhắc nhở các thế hệ hôm nay phải noi gương những người đi trước, những người có công tạo lập và bảo vệ làng. Có điều đứng trước tình hình hiện nay, phần lớn lớp trẻ Ca Dong chỉ biết tiếng phổ thông, vì thế các bài cúng tế cần được dịch ra tiếng phổ thông để mọi người đều hiểu, trang phục trong lễ hội của những người chủ trì cần thống nhất mặc theo trang phục truyền thống, tránh kiểu trang phục “nửa tây, nửa ta”. Điều này sẽ làm cho lễ hội thêm phần trang trọng, uy nghiêm, sống lại không khí của thời kỳ xa xưa.

Như vậy, định hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội nói chung, lễ hội cúng máng nước nói riêng của người Ca Dong ở Bắc Trà My hiện nay không chỉ là tăng cường công tác sưu tầm, phục hồi vốn truyền thống, mà bên cạnh việc bảo tồn cần phải phát huy tác dụng giáo dục của lễ hội vì mục đích phát triển cho hôm nay và cho cả ngày mai. Do vậy, các cấp ban ngành cần có chiến lược bảo tồn hợp lý, phải làm giàu thêm trên những cái vốn có của lễ hội, phải làm sao cho giá trị của lễ hội thấm sâu vào từng con người và cả cộng đồng. Điều đó cũng có nghĩa việc bảo tồn và phát huy tác dụng của lễ hội ở người Ca Dong không nên chỉ dừng lại ở những yêu cầu trước mắt, mà phải tính đến yêu cầu lâu dài trong sự phát triển đi lên của địa phương và của đất nước trong tương lai, phải là việc làm của từng người, từng nhà, từng làng, từng ngành, từng cấp và của tất cả mọi tầng lớp trong xã hội. Trong đó, Phòng văn hóa - thông tin huyện Bắc Trà My phải làm vai trò tham mưu cho các cấp bộ Đảng và chính quyền địa phương, để từ đó có định hướng cụ thể, rõ ràng đối với từng việc, từng lễ hội trên địa bàn.

4. Một vài kết luận

Lễ hội cúng máng nước của đồng bào Ca dong ở Bắc Trà My ngoài ý nghĩa tín ngưỡng tâm linh còn là dịp để các plơi biểu thị sức mạnh cộng đồng, biểu dương lực lượng, là cơ hội để các thành viên trong làng đặc biệt là trai tráng thể hiện tài năng. Đây là nét đẹp văn hóa cổ truyền cần gìn giữ, bảo tồn và phát huy, vì nó có những giá trị văn hóa độc đáo như sau:

- Thứ nhất, lễ hội cúng máng nước của người Ca Dong là sự kết hợp hài hoà giữa cuộc sống đời thường và thế giới tâm linh, là một biểu tượng sinh động của tín ngưỡng vạn vật hữu linh, giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào. Chính lễ hội cúng máng nước mở ra khoảng thời gian nông nhàn cho mùa lễ hội của một năm trước khi bước vào vụ mùa mới; đồng thời, trong vai trò là điểm nối giữa chu kỳ sản xuất và mùa lễ hội, lễ hội cúng máng nước vừa có ý nghĩa giúp cho người dân quên đi những khó khăn vất vả hay hưởng trọn niềm vui một vụ mùa bội thu đã qua; vừa hướng con người tới những ước vọng, niềm vui, sức sống mới của một mùa lễ hội đang chờ đón họ.

- Thứ hai, việc điều tra nghiên cứu về những giá trị văn hóa trong sinh hoạt lễ hội của người Ca Dong không chỉ có ý nghĩa thực tiễn mà còn có ý nghĩa khoa học rất thiết thực. Thông qua nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về phong tục tập quán của cộng đồng người Ca Dong ở huyện Bắc Trà My; từ đó giúp các cơ quan chức năng xây dựng nên những hoạt động lễ hội vừa phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước, lại vừa phù hợp với đặc điểm tâm lý, tình cảm của từng nhóm dân tộc thiểu số. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, cần lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Lễ hội cúng máng nước vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

- Thứ ba, trong giai đoạn hiện nay, bảo tồn và phát huy vai trò lễ hội của người Ca Dong ở Bắc Trà My không chỉ đơn thuần là hoạt động văn hóa mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao đời sống tinh thần, đoàn kết cộng đồng, củng cố tình làng nghĩa xóm, tích cực góp phần vào việc xây dựng làng văn hóa… Chính vì lẽ đó, cần phải khơi dậy niềm tự hào, động viên sự tham gia tích cực của đồng bào Ca Dong. Bởi chỉ có chính họ mới giúp chúng ta làm tốt công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của dân tộc một cách hiệu quả và vững bền nhất./.

Tài liệu tham khảo

1. Lê Thị Kim Dung (2007), Chức năng, biểu tượng và ảnh hưởng cồng chiêng đến đời sống kinh tế, văn hoá của người Co và Ca Dong ở Bắc Trà My - Quảng Nam, Báo cáo điền dã Trường Đại học Huế.

2. Số liệu về dân tộc, dân số của huyện Bắc Trà My, Lưu tại Phòng thống kê huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.

3. Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam (2004), Phong tục - Tập quán - Lễ hội Quảng Nam, Nxb. Đà Nẵng.

4. Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

5. Tân Việt (1991), Phong tục cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, tr.106.

6. Tôn Thất Hướng (2003), “Tết đầu năm ở người Ca Dong ở Quảng Nam”, Tạp chí Văn hóa Quảng Nam, số tháng 2/2003.




[1] Lễ ăn cơm mới (cúng cơm mới) cũng được tiến hành phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam.


[2] Mơ Noong là do người Ca Dong ở Bắc Trà My đọc chệch từ Mơ Nâm - một nhóm địa phương của dân tộc Xơ Đăng. Hiện nay, trong các văn bản giấy tờ hành chính ở huyện Bắc Trà My đều dùng từ Mơ Noong.


[3] Số liệu về dân tộc, dân số của huyện Bắc Trà My, Lưu tại Phòng thống kê huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.


[4] Tài liệu Khảo sát điền dã về phong tục tập quán, lễ hội của người Ca Dong, Trường Đại học Vinh, 2010.


[5] Người Ca Dong cho rằng Yang vút là một bà cụ già tóc bạc xấu xí nhưng tốt bụng, là người sản sinh ra ma lúa, mẹ lúa


[6] Tháng (Khê) ning nong: tương đương tháng Chạp, tháng Giêng âm lịch của người Kinh/Việt


[7] Làng nào thu hoạch trước thì ăn Tết trước, thu hoạch sau thì ăn Tết sau.


[8] Lễ ăn cơm mới (cúng cơm mới) cũng được tiến hành phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam.


[9] Tân Việt (1991), Phong tục cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc, tr.106.


[10] Lê Thị Kim Dung (2007), Chức năng, biểu tượng và ảnh hưởng cồng chiêng đến đời sống kinh tế, văn hoá của người Cor và Ca Dong ở Bắc Trà My - Quảng Nam, Báo cáo điền dã Trường Đại học Khoa học Huế, tr.57.


[11] Tài liệu Khảo sát điền dã về phong tục tập quán, lễ hội của người Ca Dong, Trường Đại học Vinh, 2010.


[12] Khi múa Ca vố người Ca Dong gắn cây cọ đá trên đầu, nhảy chung quang cột ăn trâu theo chiều ngược kim đồng hồ, đồng bào quan niệm rằng trong vũ trụ thì mặt trời mọc từ Đông sang Tây.


[13] Để uống rượu không say, người Ca Dong hái một một nhánh lá thuốc trong rừng bỏ vào ché rượu. Rượu cúng chỉ dành riêng cho người già, người trẻ không được uống. Khi uống rượu họ thích nhất là bắt được con kắc ké, rắn mối để nướng lên làm thức nhắm vì cho rằng Giàng đã đồng ý.


[14] Người Ca Dong quan niệm Chó là vật tô tem, nguồn gốc sinh ra tổ tiên họ.


[15] Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam (2004), Phong tục - Tập quán - Lễ hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, tr.292.


[16] Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.192.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...