Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2024

VÀI SUY NGHĨ VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN QUẢNG NGÃI (ThS. Hô Quang Lợi)


Trong lịch sử tồn tại và phát triển mỗi tộc người đều tạo dựng nên những giá trị văn hoá hết sức đặc sắc mang tính riêng biệt nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của chính họ. Trải qua quá trình hội nhập và phát triển những nét văn hóa truyền thống đó dần có sự biến đổi thông qua sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa của các tộc người, dân tộc khác, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi không nằm ngoài quy luật trên.

Hiện nay, Văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang dần bị mai một, các cấp ngành, địa phương và chính cộng đồng các tộc người đã và đang đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Tuy nhiên, công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh chưa đem lại hiệu quả. Từ thực trạng đó dưới góc nhìn cá nhân đưa ra vài suy nghĩ về các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Từ khóa: Bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi.



1. Vài nét về đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi

Quảng Ngãi là một tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ với bốn dân tộc chính đang sinh sống là người Kinh, Cor, Hrê, Ca Dong. Địa bàn sinh sống chủ yếu của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi là vùng miền núi của tỉnh. Người Cor chủ yếu sinh sống ở huyện Trà Bồng; Người Hrê chủ yếu sinh sống trên địa bàn huyện Sơn Hà, Ba Tơ và huyện Minh Long; Người Ca Dong sinh sống chủ yếu trên địa bàn huyện Sơn Tây. Các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi sinh sống lân cận nhau, họ tổ chức ra thành từng “Làng” (còn gọi là plây) làm đơn vị cư trú. Mỗi làng đều có chủ làng, do cộng đồng làng lựa chọn và bầu lên. Chủ làng thường là người lớn tuổi (già làng), có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, hiểu biết về luật tục và cúng tế; có uy tín và gia đình thuộc loại giàu có trong làng. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi không có chữ viết, họ dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp hằng ngày, vì cùng chung hệ ngôn ngữ Môn - Khmer nên các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong rất dễ dàng hiểu tiếng nói của nhau.

Trong lịch sử tồn tại và phát triển, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi đã tạo dựng nên những giá trị di sản văn hoá hết sức đặc sắc nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của chính họ.

2. Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi sinh sống lân cận nhau nên có sự giao lưu văn hoá với nhau. Sự giao lưu có tính đồng điệu nhau trong các hình thức sinh hoạt văn hoá của từng tộc người nên thật khó phân biệt rạch ròi đâu là yếu tố bản sắc riêng của tộc người, đâu là yếu tố vay mượn của tộc người khác như: phong tục tập quán như hội mùa, hội cồng chiêng, lễ đâm trâu hay những hình thức văn nghệ dân gian như truyện cổ, dân ca, các nhạc cụ, các dụng cụ sinh hoạt hằng ngày,… Các mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số miền núi Quảng Ngãi ngày càng được củng cố và phát triển về mọi mặt, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của bà con các dân tộc miền núi trên con đường hội nhập đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời trong quá trình hội nhập và phát triển người Kinh đã dần mở rộng địa bàn lên các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi để sinh sống, buôn bán và đồng thời khi Nhà nước ta có chương trình đưa người Kinh lên vùng đồng bào dân tộc thiểu số để giúp đỡ vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế cũng là lúc sự giao thoa văn hóa dân tộc Kinh và văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu văn hóa đó đã diễn ra theo quy luật tự nhiên, sự tiếp nhận văn hóa Kinh của đồng bào các dân tộc thiểu số thể hiện trên tinh thần tự nguyện. Đồng thời trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin nên đồng bào các dân tộc thiểu số ngoài tiếp nhận văn hóa của người Kinh còn tiếp nhận các yếu tố văn hóa nước ngoài. Các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi coi văn hóa của người Kinh có tính hiện đại, nên họ làm theo và coi nhẹ văn hóa truyền thống của mình. Tuy nhiên, do số lượng người Kinh ít hơn số lượng người của các dân tộc thiểu số cư trú tại khu vực đó, nên đã bị văn hóa các dân tộc thiểu số lấn át về cơ bản, nhất là các yếu tố thuộc về phong tục tập quán. Bên cạnh đó, việc tiếp thu văn hóa phương Tây của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đang diễn ra khá mạnh, nhiều con em của đồng bào hiện nay mang tên nước ngoài.

Theo quy luật kế thừa sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc. Giao lưu văn hoá là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá với nhau, quá trình giao lưu đó đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa vốn văn hóa vốn có của dân tộc để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc. Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng, nó là “màng lọc” để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc đó phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình. Sau quá trình giao lưu sẽ dẫn đến sự tiếp biến văn hóa, tiếp biến văn hóa chính là hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn hóa đem lại thành những lợi ích thực tế. Đây là hiện tượng tiếp nhận có chọn lọc một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với văn hóa bản địa, sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh. Như vậy, những yếu tố ngoại sinh trong một nền văn hóa là yếu tố tuy có gốc tích từ bên ngoài nhưng đã qua công đoạn tiếp biến văn hóa và do đó không còn thuộc về nền văn hóa bên ngoài - nền văn hóa đang cộng sinh với nền văn hóa bản địa, mà đã trở thành một bộ phận của nền văn hóa bản địa, góp phần làm giàu cho nền văn hóa này. Vì vậy, người bản địa sử dụng những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh cũng thuần thục, tinh tế như các yếu tố văn hóa nội sinh, có thể phối kết, hòa quyện chúng với nhau một cách tự nhiên.

Sự tác động của cơ chế thị trường, của quá trình giao lưu hội nhập, tiếp biến văn hoá nhiều di sản văn hóa truyền thống của cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang bị mai một, pha trộn, lai căng không còn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống. Trước thực trạng đó thời gian qua, công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đạt được kết quả đáng ghi nhận. Một số lễ hội dân gian, nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số được khôi phục; các loại hình văn hóa - nghệ thuật phục hồi và phát huy, nhất là qua các cuộc thi, hội diễn, liên hoan, ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các cấp ngành và địa phương tổ chức nhiều hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh như: phục dựng lễ hội cầu mưa của dân tộc Hrê tại xã Ba Thành (Ba Tơ); phục dựng trò chơi, trò diễn dân gian của dân tộc Cor ở thôn 2, xã Trà Thủy (Trà Bồng, duy trì tổ chức các hoạt động như: Liên hoan nghệ thuật quần chúng, ngày hội văn hóa - thể thao các dân tộc thiểu số; Liên hoan Cồng chiêng, đàn và hát dân ca các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh; Tổ chức Lớp truyền dạy dân ca các dân tộc thiểu số; các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết viết về các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã được đăng trên các tạp chí, báo và nhiều công trình đã được xuất bản thành sách; hay các loại hình văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi đã được công nhận là di tích, di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh, cấp quốc gia, các già làng, người có uy tín cũng đã được công nhận là nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú,….

Công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiếu số ở Quảng Ngãi trong những năm gần đây không những được các cấp ngành quan tâm mà chính trong cộng đồng các dân tộc cũng đã dần thay đổi nhận thức về những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình nên công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, nhìn chung các giải pháp bảo tồn và phát huy hiện nay chưa mang lại hiệu quả cao và có thể nói văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đang ở trong tình trạng mai một nhiều hơn.

3. Giải pháp

Để công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả hơn nữa theo tôi cần thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất: Trước tiên cần xác định cái cần để bảo tồn nhất hiện nay là gì? Đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi không có chữ viết nên việc trao truyền trên chữ viết là không thể mà việc trao truyền văn hóa đặc trưng chủ yếu qua hình thức tiếng nói và sự hướng dẫn trực tiếp. Những người nắm giữ nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình hiện nằm trong trí nhớ của các già làng, người cao tuổi mà những đối tượng này ngày càng già yếu nếu chúng ta không khai thác lưu trữ nét văn hóa truyền thống ấy thì khả năng mất đi những giá trị văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số có nguy cơ rất lớn. Do vậy việc chúng ta cần làm nhất hiện nay là sớm khai thác, lưu trữ được kho tàng kiến thức về văn hóa dân gian ở các già làng, người có uy tín ở đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Thứ hai: Các cấp ngành và địa phương có cố gắng gìn giữ, đưa ra các biện pháp để bảo tồn văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh nhưng một khi không nhận được sự tiếp nhận của thế hệ trẻ đồng bào các dân tộc thiểu số thì nỗ lực đó cũng vô nghĩa, do vậy trong công tác quản lý nhà nước cần chú trọng đến vấn đề nâng cao nhận thức trong thế hệ trẻ đồng bào dân tộc thiểu số về niềm tự hào về giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đừng xem văn hóa dân tộc là sự lạc hậu, quê mùa. Nếu làm đc điều này thì việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh mới được thuận lợi.

Thứ ba: Cần xác định rõ bảo tồn theo hướng nào? Hiện nay có ba hướng bảo tồn chính, đó là: Bảo tồn nguyên trạng, bảo tồn trên cơ sở kế thừa và bảo tồn phát triển. Hình thức bảo tồn nguyên trang mang tính cứng nhắc vì vậy chỉ nên áp dụng đối với di sản văn hóa vật thể, còn hai hình thức bảo tồn trên cơ sở sự kế thừa và bảo tồn phát triển nó mang tính tương đối nên thường được áp dụng trong việc bảo tồn các loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Tại sách Địa chí Quảng Ngãi các nhà nghiên cứu của tỉnh cho rằng: “Cho đến nay, sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã đến mức trong các hình thức sinh hoạt văn hóa của từng tộc người thật khó để phân biệt rạch ròi đâu là yếu tố bản sắc riêng của tộc người, đâu là yếu tố vay mượn. Đó là những phong tục tập quán như hội mùa, hội cồng chiêng, lễ đâm trâu hay những hình thức văn nghệ dân gian như truyện cổ, dân ca, các nhạc cụ,… Các mối quan hệ giữa các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi ngày càng được cũng cố và phát triển về mọi mặt, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của bà con các dân tộc miền núi trên con đường hội nhập đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Chính vì vậy khi thực hiện các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cần hướng đến bảo tồn theo ba hướng trên ví dụ như: Bảo tồn nguyên trạng nhà sàn, vì có thể nói nhà sàn là nơi sản sinh ra nhiều giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số nên theo tôi cần bảo tồn nguyên trạng, còn đối với các loại hình văn hóa phi vật thể thì khi thực hiện công tác bảo tồn cần chú ý đến yếu tố đã được cộng đồng các tộc người tiếp nhận.

Thứ tư: Có cái nhìn đúng về văn hóa truyền thống của từng tộc người để từ đó có giải pháp bảo tồn và phát huy có hiệu quả?

Khi xây dựng chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số ở cả nước nói chung và các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi nói riêng cần căn cứ vào văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng riêng của từng tộc người để xây dựng chính sách cho phù hợp, tránh tình trạng xây dựng mang tính chung chung nên khi áp dụng vào thực tiễn không phù hợp về văn hóa truyền thống của tộc người đó, ví dụ như:

Việc xây dựng Nhà văn hóa ở khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh là vấn đề cần xem xét. Thực tế cho thấy tại các huyện miền núi Quảng Ngãi, các Nhà văn hóa hoạt động không có hiệu quả vì điều kiện tự nhiên núi non hiểm trở, địa bàn rộng, vì vậy bà con nhân dân thường phải vượt khoảng từ 10 - 20km đường đèo, núi mới đến được Nhà Văn hoá để sinh hoạt hoặc thưởng thức các chương trình văn nghệ do huyện và tỉnh tổ chức. Bên cạnh lý do về điều kiện tự nhiên đồi núi hiểm trở, số lượng nhà văn hóa ít thì lý do chính dẫn đến Nhà văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoạt động không hiệu quả hay nói cách khác là sau khi xây dựng xong lại bỏ không đó là:

Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Ngãi sống theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh, họ xem các hiện tượng sự vật tồn tại đều có thần ma, các thần ma đều có sự chi phối trong mọi mặt của đời sống, do đó khi họ làm nhà ở hay chòi rẫy, nhà chứa lúa, nhà sinh hoạt cộng đồng họ điều có những tập tục riêng như chọn đất, làm lễ cất nhà,… những ngôi nhà đã được thần ma cho phép họ mới vào ở, do đó khi xây nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng không có sự tham gia của cộng đồng dân cư nên họ kiên cử không vào đó sinh hoạt gây tốn kém kinh phí của nhà nước.

Hay trong Quy định về tổ chức Lễ hội có nêu rõ “không tổ chức các lễ hội có nội dung kích động bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác bao gồm những hoạt động trong đó có thể hiện cảnh trái với truyền thống yêu hòa bình và nhân ái của dân tộc Việt Nam, như: Mô tả cảnh đâm chém, đấm đá, đánh đập tàn bạo; mô tả cảnh rùng rợn, kinh dị; mô tả cảnh thỏa mãn, khoái trá của kẻ gây tội ác; mô tả các hành động tội ác khác”. Quy định trên được hiểu là cấm tổ chức đâm trâu trong các lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số, do đó quy định này gây khó khăn trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, ở đây ta nên hiểu rằng người đồng bào dân tộc thiểu số không dùng con trâu làm sức kéo trong lao động sản xuất, do vậy họ không xem “con trâu là đầu cơ nghiệp” như người Kinh mà họ xem con trâu là vật hiến tế là sợi dây kết nối giữa con người với thần linh nên đâm trâu luôn gắn với nhiều đặc trưng văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số như: đâm trâu gắn liền với các nghi thức cúng lễ theo tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc thiểu số; đâm trâu luôn gắn liền với việc làm và trình diễn cây nêu, gắn với các làn điệu dân ca, các lễ hội truyền thống. Do đó việc không cho tổ chức lễ hiến trâu trâu trong tổ chức lễ hội dẫn đến nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh sẽ mất theo, do vậy khi đưa ra các quy định cần tìm hiểu về văn hóa truyền thống của dân tộc đó, để từ đó những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số mới được phát huy có hiệu quả.

Thứ năm: Chú trọng đến không gian văn hóa?

Trong thời kỳ công nghệ số, hội nhập hiện nay việc sân khấu hóa các loại hình di sản văn hóa là cần thiết, các loại hình nghệ thuật biểu diễn của đồng bào các dân tộc thiểu số trong cả nước nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh nói riêng cần được sân khấu hóa để tham gia giao lưu, quảng bá với các dân tộc khác trong và ngoài tỉnh và nhằm biểu diễn phục vụ người dân hay tham gia các hội thi hội diễn. Tuy nhiên trong sinh hoạt, bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật biểu diễn của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cần chú trọng đến không gian văn hóa, vì trong môi trường, bối cảnh đời sống thực tại con người mới sản sinh ra những tác phẩm mới mang tính thực tế của đời sống.

Hiện nay các cấp ngành của tỉnh trong nỗ lực bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã tổ chức nhiều chương trình, hoạt động như: Tổ chức lớp truyền dạy dân ca, Liên hoan Cồng chiêng, Hội thi thể thao,… Tuy nhiên hầu hết các nhiệm vụ này điều thực hiện tại các sân khấu, hội trường vào thời điểm ban ngày mà chưa chú ý đến việc tổ chức các hoạt động này vào thời điểm ban đêm tại không gian những ngôi làng, nhà dài truyền thống,… như cách sản sinh ra cái vốn có của nó. Theo văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, thời gian ban ngày là thời gian lao động, thời gian ban đêm là thời gian nghỉ ngơi, vui chơi giải trí. Khi màn đêm buông xuống cũng là lúc bên bếp lửa nhà sàn những câu chuyện kể, những điệu múa, những làn điệu dân ca, những lời hát đối đáp tỏ tình của những đôi trai gái,… được vang lên. Vì vậy khi thực hiện công tác bảo tồn văn hóa truyền thống cần chú trọng đến không gian văn hóa, nơi sản sinh ra cái văn hóa đó như vậy công tác bảo tồn mới đạt được hiệu quả.

Thứ sáu: văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc cần phải được duy trì, phát huy, phục hồi, bổ sung, thay thế, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống là cần thiết. Tuy nhiên, không phải duy trì, phục hồi, bổ sung thay thế tất cả mà phải “gạn đục, khơi trong”, phải biết cái nào cần duy trì, cái nào cần phục hồi và cái nào cần được bổ sung, cần phải có sự chọn lọc để thực hiện, như vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh trong xã hội hiện nay mới đạt được kết quả như mong muốn.

Thứ bảy: việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh phải gắn với xây dựng các thiết chế văn hóa, các thiết chế văn hóa phải phù hợp với văn hóa truyền thống của từng tộc người. Chúng ta cần phải gắn xây dựng các thiết chế văn hóa với việc đào tạo nguồn nhân lực là những người có uy tín nơi đây, bởi vì họ vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể bảo tồn và phát huy nền văn hóa đó.

Thứ tám: Cần có những quy định bắt buộc như: Đưa trò chơi, trò diễn, các làn diệu dân ca của các dân tộc thiểu số vào giảng dạy trong trường học cho học sinh người dân tộc thiểu số; việc mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình trong trường học (giống như quy định học sinh người mặc áo dài),…. Có như vậy thì công tác bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh mới mang lại hiệu quả thiết thực.

Văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi được hình thành từ lâu đời là nguồn lực và sức mạnh mềm trong phát triển chung của tỉnh. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh luôn là một nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài được các cấp ngành của tỉnh đặt ra trong thời gian qua. Trong bối cảnh hiện nay, đứng trước sự thay đổi của thời đại, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, tiên tiến và phù hợp với thực tiễn nhằm tiếp tục thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hiệu quả hơn nữa./.



Tài liệu tham khảo

1. Viện Dân tộc học Việt Nam (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (tập 2), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Cao Chư (2009), Văn hóa cổ truyền dân tộc Cor, tổng thể và những giá trị đặc trưng, Nxb. Đà Nẵng.

3. Cao Chư (2016), Văn hóa cổ truyền dân tộc Cor, tổng thể và những giá trị đặc trưng (tái bản), Nxb. Khoa học xã hội.

4. Phan Hồng Giang, Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb. Chính trị Quốc gia.

5. Lê Hồng Khánh (2016), Văn hóa Dân gian của cộng đồng cư dân Quảng Ngãi (Việt, Hre, Cor, Ca Dong), Nxb. Hội Nhà văn.

6. Nhiều tác giả (1996), Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi.

7. Nhiều tác giả (1997), Quảng Ngãi - Đất nước, con người, văn hoá, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao Quảng Ngãi.

8. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2008), Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách khoa.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...