Khi nghiên cứu lịch sử khai thác san hô ở Biển Đông và Địa Trung Hải về làm đồ mỹ nghệ cung đình Trung Quốc, các bạn sẽ bắt gặp những thuật ngữ phân loại đảo, vỉa đá ngầm và rặng san hô. Tiếng Hán của ngư dân thời phong kiến dùng các thuật ngữ Trĩ (峙), Trĩ tử (峙仔), Sa tử (沙仔), Sa (沙) hoặc Tuyến (线), Sa bài (沙排) và Lang (郎) để nói về các loại đảo và mô cát trên biển.
Còn các đá ngầm san hô (珊瑚岛礁) được phân ra năm loại: Đảo (岛), Sa châu (沙洲), Ám tiêu (暗礁), Ám sa (暗沙) và Ám than (暗滩).
Trĩ (峙) còn gọi là Tự (屿) chính là đảo nhỏ. Trong phương ngữ của người trên đảo Hải Nam, họ phát âm hai chữ này gần giống nhau. Về mặt văn tự, Trĩ dùng thay thế cho Đảo (岛) và Tự (屿). Các cồn cát dù có thảm thực vật hay không thì đều gọi là Trĩ
Trĩ tử (峙仔) hay Sa tử (沙仔) thường dùng để chỉ các cồn cát
Sa (沙) hoặc Tuyến (线) được phát âm như nhau trong tiếng của người sống trên đảo Hải Nam, đều dùng để chỉ đá ngầm (ám tiêu 暗礁)
Sa bài (沙排) hay Tuyến bài (线排) là để chỉ những cồn cát chìm dưới nước biển.
Lang (郎) là những đá ngầm chìm dưới nước, dù ở mức thuỷ triều thấp nhất cũng không lộ ra khỏi mặt nước.
Để tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tôi không thể nêu lên các ví dụ địa danh và định vị cho các bạn hiểu sâu hơn thuật ngữ được. Vui lòng không hỏi thêm.
----
Cổ vật có gắn san hô thời nhà Thanh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét