Thứ Hai, 9 tháng 9, 2024

BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH BÌNH ĐỊNH (Nguyễn Văn Ngọc)


Tóm tắt: Những năm qua, tỉnh Bình Định đã ban hành nhiều đề án, kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa; trong đó có một số văn bản liên quan trực tiếp đến văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số miền núi trên địa bàn.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, một số địa phương đã mang lại kết quả thiết thực, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, văn nghệ dân gian đáp ứng yêu cầu của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động có tầm ảnh hưởng lớn là Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh, Liên hoan Văn hóa cồng chiêng tỉnh Bình Định, công tác kiểm kê, khôi phục một số hoạt động trò chơi dân gian, hội làng của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Các sự kiện, hoạt động nói trên diễn ra một số địa phương và tuyến tỉnh, luân phiên địa điểm có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, xuất bản tuy đem lại kết quả thiết thực nhưng xét tổng quan chưa lan tỏa mạnh, chưa phát triển bền vững đáp ứng nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ của các tầng lớp nhân dân.

Tuy chưa được ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia cho một số loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian đặc trưng của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định, cũng như xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng của các dân tộc thiểu số, xây dựng các điểm du lịch cộng đồng nhưng đã kết nối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đã đưa vào chương trình giáo dục địa phương. Một số địa phương đã có các loại hình câu lạc bộ hoạt động hiệu quả. Nội dung tham luận này bàn về công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số miền núi trên địa bàn trong tình hình mới để bàn bạc, định hướng cho thời gian đến được diễn ra với các hoạt động đã có ở các kỳ và đổi mới, nâng tầm, thể hiện phong phú, đa dạng, có đặc trưng riêng, có liên kết, phát triển bền vững.

Từ khóa: Bảo vệ di sản văn hóa Bình Định, Văn hóa dân gian Bình Định, Văn hóa dân tộc Bình Định.



I. DẪN LUẬN

1. Thông tin chung về các dân tộc thiểu số cư trú ở tỉnh Bình Định

Các huyện miền núi, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, hầu hết đều có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, xuất phát điểm nền kinh tế thấp, phát triển còn chậm và chưa bền vững. Thời gian qua, nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, nhưng trên thực tế, công tác này vẫn còn hạn chế; một số địa phương chưa nhận thức đầy đủ vai trò của nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa dân gian; trình độ dân trí chưa đồng đều nên việc huy động nguồn lực của chính quyền địa phương vùng này và của chính bản thân đồng bào trong việc duy trì, bảo vệ những giá trị văn hóa dân gian vẫn còn hạn chế.

Hiện nay, trên địa bàn Bình Định có 27 dân tộc thiểu số; dân số khoảng 33 ngàn người, chiếm 2,8% dân số toàn tỉnh. Trong đó, 03 dân tộc thiểu số cư trú lâu đời: Bana (Bana K’riêm), H’rê, Chăm (Chăm H’roi).

1.1. Dân tộc Bana

Ở Bình Định người Bana cư trú trên địa bàn các huyện: Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão và 03 xã ở huyện Hoài Ân, 01 xã của huyện Tây Sơn, 01 làng ở huyện Phù Cát. Người Bana ở Hoài Ân mới từ Vĩnh Thạnh chuyển cư sang. Người Bana ở Vân Canh trong quá trình tồn tại và phát triển đã trao đổi, cộng cư rất mạnh với người Việt (Kinh), đặc biệt là người Chăm sống kề cận. Hiện tượng trao đổi, giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa người Chăm và người Bana ở Vân Canh đã hình thành nên trạng thái đan xen văn hóa rất đặc thù ở nơi này. Chính vì thế người Bana ở Vĩnh Thạnh hiện còn giữ được nhiều nét văn hóa đặc thù tộc người nhất trong số những người Bana ở Bình Định. Người Bana ở Vĩnh Thạnh được cộng đồng người Bana trong vùng gọi là Bana K’riêm. Ngữ nghĩa của người Bana K’riêm hiện nay có nhiều cách giải thích khác nhau. Đa phần ý kiến của người dân Bana ở Vĩnh Thạnh thừa nhận: Danh từ K’riêm có ý nghĩa chỉ người Bana ở vùng thấp, sống quanh vùng Đak K’riêm. Người Bana ở Vĩnh Thạnh cho rằng: xét vế mặt nguồn gốc họ có cùng nguồn gốc với người Bana ở Gia Lai. Trong khi đó người Bana ở Vân Canh lại được gọi là Bơhna-Chămroi. Về nguồn gốc xa xưa của bộ phận Bana ở Vân Canh hiện nay có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có ý kiến gợi ý rằng: có thể xưa kia người Bana ở đây chính là người Ma-đa mà bia ký Chăm đã nói đến. Qua quá trình đấu tranh sinh tồn và chịu những biến động của lịch sử, người Bana ở vùng ven biển đã dần chuyển lên vùng cao hơn để sinh sống. Nhưng một số ý kiến khác lại xếp người Bana ở Vân Canh thành một bộ phận riêng gọi là Bana - Chăm.

Người Bana ở Bình Định hiện nay vẫn còn giữ lại được nhiều nét văn hóa khá đặc trưng. Tuy nhiên, trong quá trình di cư, xáo trộn, sống xen kẽ, cận cư, người Bana ở Bình Định (nhất là người Bana ở huyện Vân Canh) đã tiếp xúc, đan xen nhiều yếu tố văn hóa của người Chăm, người Kinh (Việt) sống bên cạnh.

1.2. Dân tộc H’rê

Ở Bình Định, người H’rê cư trú tập trung ở huyện An Lão và Hoài Ân. Người H’rê dù sống ở Bình Định, Gia Lai hay ở Quảng Ngãi (Ba Tơ, Minh Long, Nghĩa Hành) đều thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme miền núi. Về nguồn gốc của người H’rê hiện vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Tuy nhiên, bản thân người H’rê lại coi miền Tây tỉnh Bình Định (An Lão), Quảng Ngãi (Ba Tơ) là vùng đất mà tổ tiên họ đã khai phá từ xưa. Trong các truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc, người H’rê thường nhắc nhiều đến tên các ngọn núi Mun, núi Rin, và xem đó như là vùng đất khởi thủy của dân tộc. Người H’rê ở Bình Định, Quảng Ngãi trong sinh hoạt kinh tế có một điểm khá đặc thù là bên cạnh canh tác nương rẫy, dân tộc này từ rất sớm đã canh tác lúa nước theo phương pháp “dẫn thuỷ nhập điền”.

1.3. Dân tộc Chăm

Người Chăm ở Bình Định, Phú Yên có mối quan hệ mật thiết với nhau và có một quá trình phát triển vừa chung, vừa riêng rất đáng được chú ý trong cộng đồng Chăm trên phạm vi cả nước và được tài liệu ghi chép là người Chăm H’roi.

Ở Bình Định, người Chăm cư trú tập trung ở huyện Vân Canh; sống xen cư với người Bana và người Việt. Người Chăm có khá nhiều tên gọi và tên tự gọi khác nhau: Chăm H’roi, Hroi, Aroi, Chăm Đắc-Rây, Chăm Hơ-Đang, Chăm Đèo… Theo đồng bào Chăm ở Vân Canh, Chăm H’roi (hay Hroi, A roi) chỉ là những người Chăm ở vùng cao, là người Chăm ở vùng núi. Chăm Đắc-Rây hay Chăm Hơ-Đang là Chăm phía mặt trời mọc. Đồng bào Chăm giải thích: Trước kia người Chăm sống ở vùng thấp, vùng mặt trời mọc, sau đó họ mới chuyển lên vùng cao (vùng có tên là Hroi). Hiện nay người Chăm ở Vân Canh rất tự hào khi gắn ý nghĩa Chăm với nghĩa “Chăm mặt trời mọc”. Còn Chăm Đèo (không có nghĩa chỉ người Chăm ở bên kia đèo) mà tên người Chăm ở Phú Yên gọi người Chăm ở Vân Canh. Các nhà khoa học khẳng định người Chăm (Chăm H’roi) ở Bình Định, Phú Yên là một bộ phận trong cộng đồng dân tộc Chăm ở Việt Nam.

Gốc gác của người Chăm ở Bình Định, Phú Yên vốn là một bộ phận người Chăm cổ. Trong quá trình sinh sống ở miền núi, do tách biệt với cộng đồng ban đầu, do giao lưu và chịu ảnh hưởng của người Bana sống trước đó nên ở bộ phận “Chăm miền núi” này dần xuất hiện những yếu tố văn hóa cộng cư. Những yếu tố văn hóa mới hình thành đó càng được củng cố và phát huy khi mà quá trình cận cư, xen cư được đẩy mạnh với tốc độ lớn trên vùng đất Vân Canh vào những thời gian sau này.

2. Điều kiện kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số miền núi Bình Định

Các dân tộc thiểu số ở Bình Định tuy chỉ chiếm 2,8% dân số toàn tỉnh, nhưng cư trú trên một vùng núi rộng lớn. Toàn tỉnh có 11 huyện/ thị xã/ thành phố; có 159 xã/ phường/ thị trấn. Trong đó, 33 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tập trung theo cộng đồng ở 119 thôn (làng) thuộc các huyện: An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Ân, Tây Sơn, Phù Cát. Trong thời gian qua, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh đã được các cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn quan tâm chú trọng.

Tình hình kinh tế, xã hội vùng dân tộc và miền núi cơ bản ổn định, song cũng có một vài địa phương gặp không ít khó khăn; sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển; chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được nâng cao. Các chế độ, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, gia đình chính sách được thực hiện kịp thời, bảo đảm đúng quy định. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được duy trì; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định và giữ vững.

Sở Văn hóa và Thể thao, Ban Dân tộc, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, các sở, ngành tỉnh đã gắn kết các nội dung phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vào các hoạt động chuyên môn như:

- Khôi phục, tôn tạo xây dựng 74 nhà rông Bana, 34 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng (nhà văn hóa thôn) tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trên địa bàn tỉnh.

- Tổ chức các đội tuyên truyền lưu động ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, tỉnh đã có chỉ đạo các đơn vị phối hợp địa phương xây dựng và triển khai các hoạt động liên hoan, hội diễn, nghiên cứu, khai thác di sản văn hóa tại các vùng sâu, vùng xa và cung cấp các ấn phẩm văn hóa phù hợp với đặc thù văn hóa của các dân tộc trên địa bàn... Qua đó, giúp người dân hiểu được các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; nâng cao kiến thức về pháp luật, kỹ thuật; góp phần xóa đói, giảm nghèo cho bà con dân tộc thiểu số; bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian; phòng, chống các tệ nạn xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu.

- Tổ chức các chuyến xe lưu động để tăng cường các hoạt động ở những cơ sở văn hóa - thể thao, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người nghèo tại các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa; tổ chức rất nhiều đợt phim, hoạt động văn hóa dân gian phục vụ các sự kiện chính trị của đất nước và địa phương.

3. Tình hình thực hiện nhiệm vụ về văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số

Xác định công tác bảo vệ, giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần tuyên truyền, phổ biến, triển khai thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; nâng cao trình độ dân trí; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo đảm an ninh quốc phòng trong thời kỳ đổi mới, hội nhập xây dựng và phát triển quê hương đất nước. Trong những năm qua, Bình Định đã có nhiều hoạt động, giải pháp tích cực để khơi dậy vốn di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc. Công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc được cụ thể hóa bằng nhiều hoạt động thiết thực:

- UBND tỉnh Bình Định chỉ đạo Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp phối hợp Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, các sở, ngành, chính quyền địa phương miền núi định kỳ 02 năm/lần tổ chức Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh. Đây là dịp để đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn được gặp gỡ giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng của các dân tộc thiểu số. Thông qua Ngày hội, giáo dục thế hệ trẻ niềm tự hào và trân trọng vốn văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần xóa bỏ các hủ tục; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.


- Kể từ năm 2019, UBND tỉnh Bình Định tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng các dân tộc thiểu số. Đây là hoạt động mới được hình thành, nhằm quảng bá, lan tỏa các giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số thông qua sinh hoạt cồng chiêng; dịp để các nghệ nhân trên mọi địa phương trong tỉnh gặp nhau, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm qua nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số.

- Công tác kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc thiểu số cũng được đề ra theo hướng thực hiện từng địa bàn, chuyên sâu từng loại hình. Công tác này đã đạt được kết quả đáng khích lệ đối với huyện An Lão, đã chắc lọc, nghiên cứu sâu sắc về trang phục truyền thống, về các loại hình sinh hoạt âm nhạc dân gian về tập quán xã hội và tín ngưỡng, về xây dựng điểm du lịch cộng đồng tại xã An Toàn, huyện An Lão.

Việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc mặc dù đã đạt được kết quả đáng kể, nhưng trên thực tế, công tác này vẫn còn không ít khó khăn. Điều kiện kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng còn gặp khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều nên việc huy động nguồn lực của chính quyền địa phương và của chính bản thân đồng bào trong việc duy trì, bảo vệ những giá trị văn hóa vẫn còn hạn chế.

II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHIỆM VỤ BẢO VỆ, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA, VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1. Kết quả đạt được

Văn hóa, văn nghệ dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số mặc dù đa dạng và có những thành tựu đặc sắc, riêng biệt; song đôi lúc đôi nơi vẫn chưa được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Văn hóa dân gian của các dân tộc cũng mang đặc điểm chung, đó là đặc trưng “truyền miệng” nên rất dễ bị biến mất, dễ bị mai một. Các nhà nghiên cứu/ sưu tầm cũng chỉ có thể dựa trên trí nhớ của các chủ thể, nghệ nhân hoặc dân chúng để ghi chép lại. UBND tỉnh Bình Định ban hành và chỉ đạo các sở, ngành ban hành nhiều văn bản nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số trên địa bàn gắn với việc phát triển kinh tế, phát huy các thành tố văn hóa có liên quan như: Phong tục tập quán, tiếng nói, chữ viết, trang phục, sinh hoạt âm nhạc dân gian, lễ hội truyền thống… Qua đó, tôn vinh những giá trị văn hóa dân gian tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, khích lệ sáng tạo những giá trị văn hóa mới hình thành, phát huy vai trò làm chủ của đồng bào các dân tộc thiểu số trong xây dựng và phát triển đời sống văn hóa, cụ thể:

- Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 11 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Bình Định thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” trên địa bàn tỉnh;

- Kế hoạch số 331/KH-SVHTT ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Sở Văn hóa và Thể thao thực hiện Đề án “Chương trình hoạt động văn hóa, nghệ thuật phục vụ vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2021-2030” trên địa bàn tỉnh Bình Định;

- Kế hoạch phối hợp số 859/KHPH-BDT-SVHTT ngày 20 tháng 12 năm 2021 giữa Sở Văn hóa và Thể thao với Ban Dân tộc tỉnh Bình Định giai đoạn 2021-2025 thực hiện Chương trình phối hợp công tác số 1418/CTPH-UBDT-BVHTTDL ngày 05 tháng 10 năm 2021 về Chương trình phối hợp công tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban Dân tộc trên địa bàn tỉnh;

- Kế hoạch số 57/KH-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2022 của UBND tỉnh Bình Định về thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2021-2030” trên địa bàn tỉnh;

- Kế hoạch số 55/KH-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2022 của UBND tỉnh Bình Định về thực hiện Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn tỉnh;

- Kế hoạch số 58/KH-UBND ngày 25 tháng 4 năm 2022 của UBND tỉnh Bình Định về thực hiện Chương trình Bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh;

- Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bình Định giai đoạn 2021-2030, ban hành kèm theo Quyết định số 2434/QĐ-UBND ngày 04 tháng 8 năm 2022 của UBND tỉnh.

Đây là cơ sở để tỉnh Bình Định thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian gắn với các lĩnh vực đời sống xã hội trong thời gian tới, nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị, nông thôn và miền núi, giữa các địa phương trong tỉnh và khu vực; phát triển văn hóa nói chung, phát huy giá trị di sản văn hóa, văn nghệ dân gian nói riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

1.1. Về một số công trình, dự án về văn hóa phi vật thể

Một số công trình, đề tài nghiên cứu/ sưu tầm: Nghiên cứu văn hóa làng của người Bana K’riêm ở Bình Định; Nghiên cứu văn hóa cổ truyền người Chăm ở huyện Vân Canh; Sưu tầm, nghiên cứu văn hóa làng người H’rê ở Bình Định; Đám cưới cổ truyền người H’rê ở xã An Vinh huyện An Lão; Đám cưới cổ truyền của người Bana K’riêm ở xã Vĩnh Sơn huyện Vĩnh Thạnh; Lễ Cầu mưa dân tộc Chăm H’roi huyện Vân Canh; Lễ mừng lúa mới dân tộc Bana ở xã Bók Tới huyện Hoài Ân; Sinh hoạt âm nhạc dân gian người H’rê ở xã An Trung huyện An Lão; Lễ Đổ đầu người Chăm H’roi làng Suối Mây, thị trấn Vân Canh; Lễ ăn trâu tạ ơn người Bana K’riêm làng Kon TơLok huyện Vĩnh Thạnh… đã được vận dụng, phát huy những nét đẹp trong quá trình sinh hoạt văn hóa làng, ngày hội văn hóa cấp xã, cấp huyện và của tỉnh.

1.2. Tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số

Chữ viết của 3 dân tộc: Chăm H’roi, Bana K’riêm, H’rê trên địa bàn tỉnh Bình Định đã được nghiên cứu, biên soạn, đưa vào khai thác giảng dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú/ bán trú. Đã biên soạn giáo trình và đưa vào giảng dạy tiếng Bana K’riêm tại huyện Vĩnh Thạnh, tiếng H’rê tại huyện An Lão, tiếng Chăm tại huyện Vân Canh cho cán bộ các cấp trên địa bàn. Mô hình dạy học tiếng và chữ viết dân tộc Bana, Chăm, H’rê được các địa phương triển khai có hiệu quả.

1.3. Về thiết chế văn hóa truyền thống

Hệ thống thiết chế văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Định được chú trọng đầu tư, khôi phục nhà rông, xây dựng nhà văn hóa thôn, nhà văn hóa xã theo chủ trương của Nhà nước. Cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện cơ bản, đồng bộ. Công tác xây dựng các thiết chế văn hóa, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa cơ sở gắn với nhiệm vụ tôn tạo, phát huy giá trị nhà rông ngày càng được tiến hành rộng khắp, đạt được nhiều thành tựu. Các thiết chế văn hóa cơ sở đã tạo điều kiện đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 74 nhà rông làng Bana và làng Chăm, 34 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng H’rê (thiết chế nhà văn hóa khu dân cư). Công tác hỗ trợ, tôn tạo nhà rông luôn được các địa phương duy trì hàng năm từ nhiều nguồn vốn.

1.4. Hỗ trợ xây dựng, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ

Việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần quan trọng ổn định, cải thiện và nâng cao đời sống tinh thần, nhu cầu giải trí lành mạnh của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, góp phần tích cực bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội được ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững... Qua đó, nhiệm vụ bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng có hiệu quả, đi vào chiều sâu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Có nhiều làng đồng bào dân tộc thiểu số đã duy trì tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật quần chúng mang tính cộng đồng. Việc tổ chức định kỳ Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi (02 năm/lần) và tham gia “Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc”, “Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19 tháng 4” đã thu hút đông đảo nghệ nhân tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian đặc sắc; góp phần phục hồi, phát triển các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ, trò chơi dân gian, lễ hội truyền thống của địa phương; khơi nguồn sáng tạo trong cộng đồng các dân tộc.

Việc chế tác, phục dựng các bộ cồng chiêng của đồng bào dân tộc thiểu số được UBND tỉnh Bình Định quan tâm, chú trọng. Sở Văn hóa và Thể thao phối hợp Ban Dân tộc tỉnh, các nghệ nhân cồng chiêng tổ chức chế tác, phục dựng, trao tặng 119 bộ cồng chiêng cho 119 làng của đồng bào dân tộc thiểu số với tổng kinh phí đầu tư lên đến trên 10 tỷ đồng. UBND tỉnh chỉ đạo hỗ trợ làng tổ chức lễ hội mừng cồng chiêng mới; tổ chức Liên hoan Văn hóa cồng chiêng toàn tỉnh. Đây là lễ hội mới hình thành, nhằm tạo động lực bảo tồn, khai thác sử dụng cồng chiêng cho đồng bào.

Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Bình Định được tổ chức luân phiên định kỳ 02 năm một lần ở các địa phương có đồng bào dân tộc sinh sống; được sự hưởng ứng, tham gia nhiệt tình của các thế hệ nghệ nhân và đồng bào các dân tộc với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như: Giao lưu văn hóa, nghệ thuật; trình diễn các hoạt động trong lễ hội làng, trình diễn trang phục truyền thống, trò chơi dân gian; liên hoan nghệ thuật quần chúng, triển lãm văn hóa các dân tộc, hội thi… Ngày hội này của Bình Định đã trải qua 17 kỳ, luân phiên các địa phương, trở thành nền nếp, gắn kết vào trong tâm thức của đồng bào, góp phần tích cực vào việc bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc.

1.5. Nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị trang phục truyền thống

Trong những hoạt động của các lễ hội, sinh hoạt văn hóa truyền thống ở địa phương, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đã ý thức được việc giữ gìn, phát huy bản săc văn hóa của dân tộc mình và trong những dịp này phân lớn đồng bào đã chú ý sử dụng trang phục truyền thống của họ. Một số làng dệt thổ cẩm của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được khôi phục, phát huỵ: làng dệt thổ cẩm Hà Ri của người Bana Kriêm ở huyện Vĩnh Thạnh, làng dệt thổ cẩm Hòn Mẽ của người Chăm H’roi ở huyện Vân Canh, làng dệt thổ cẩm của người H’rê ở An Vinh huyện An Lão... Với nhiều hình thức vận động và tuyên truyên hiện nay, đa số học sinh đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn đã sử dụng trạng phục của dân tộc mình vào các ngày lễ quan trọng ở nhà trường cũng như ở địa phương. Ngành Văn hóa Bình Định đã tiến hành thống kê từ cơ sở các loại hình trang phục và trên cơ sở đó triển khai lập danh mục kiểm kê di sản văn hóa trên địa bàn... Từ đó đã lựa chọn để bảo tồn, phục dựng lại các loại trang phục truyền thống đặc sắc của số dân tộc trên địa bàn tỉnh đã bị biến đổi. Kết hợp nhiều nguồn lực từ ngân sách nhà nước cấp và các nguồn hợp pháp khác.

Bên cạnh đó, Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi do xã, huyện và tỉnh duy trì tổ chức đều có nội dung hội thi dệt thổ cẩm, hội thi trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc đã góp phần tích cực trong việc bảo tồn và phát huy trang phục của các dân tộc trong đời sống.

1.6. Về dân ca, dân vũ, dân nhạc

Việc quảng bá dân ca, dân vũ, dân nhạc được tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, nhiều bài viết giới thiệu được đưa lên các trang thông tin điện tử của ngành, địa phương, trên sóng Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo Bình Định, Bản tin Văn hóa và Thể thao, Tạp chí Văn nghệ Bình Định nhưng thực sự chưa lan tỏa mạnh.

Công tác kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu nhạc cụ truyền thống của các dân tộc thiểu số được thực hiện trong nhiều năm qua trên địa bàn toàn tỉnh. Từng địa phương thực hiện kiểm kê trên địa bàn, từ đó định hướng cho từng khu dân cư (làng) khai thác sử dụng trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa. Công tác giới thiệu, quảng bá nhạc cụ truyền thống được thể hiện qua các lễ hội truyền thống, Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi, cũng như các hoạt động văn hóa trên địa bàn. Đến nay, đã tiến hành kiểm kê tại 04 xã Canh Thuận, Canh Hòa, Canh Hiệp, Canh Liên và các khu dân cư có người dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh. Huyện An Lão tại 36 thôn của 7 xã An Toàn, An Vinh, An Dũng, An Nghĩa, An Quang, An Hưng và An Trung là không gian diễn ra 224 nội dung loại hình di sản văn hóa phi vật thể đã được thực hiện kiểm kê, trong đó Hát Mon: 11 bài ; Ta Lêu: 16 bài ; Ca Choi: 12 bài ; Ca Lối: 01 bài ; Hát Ru: 01 bài ; Dân ca Bana: 05 bài; Goong Bana: 04 bài; Chiêng 5: 43 bài; Chinh tốc: 29 bài; các loại nhạc cụ dân tộc khác: 15 bài.

Hoàn thành công trình sưu tầm, nghiên cứu “Sinh hoạt âm nhạc dân gian người H’rê ở xã An Trung huyện An Lão”, ngành Văn hóa đã phối hợp với ngành Giáo dục tổ chức truyền dạy, trình diễn dân ca, các loại nhạc cụ truyền thống, dân vũ của đồng bào dân tộc thiểu số cho các em học sinh trong các trường phổ thông dân tộc nội trú/ bán trú trên địa bàn; qua đó giúp các em học sinh hiểu hơn về lịch sử của dân tộc mình. Hàng năm, học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú/ bán trú cũng được các nghệ nhân truyền dạy nghệ thuật trình diễn cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc tại trường, thu hút đông đảo học sinh tham gia.

Bên cạnh những hoạt động khai thác các giá trị di sản, một số chính quyền địa phương đã đề ra thành lập câu lạc bộ dân ca dân vũ dân nhạc; hướng dẫn thành lập các câu lạc bộ, tổ chức sinh hoạt định kỳ, qua đó góp phần bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa dân gian, tham gia trình diễn nhân các ngày hội lớn của địa phương, tỉnh. UBND một số xã đã tiến hành thành lập các câu lạc bộ dân ca dân vũ dân nhạc, điển hình: Câu lạc bộ dân tộc H’rê xã An Trung; Câu lạc bộ dân tộc Bana xã An Toàn, kinh phí hoạt động cho mỗi câu lạc bộ là 20 triệu đồng/năm của huyện An Lão; Câu lạc bộ làng M2, làng M3 xã Vĩnh Thịnh, làng Thạnh Quang xã Vĩnh Hiệp huyện Vĩnh Thạnh, Câu lạc bộ Trường Phổ thông dân tộc Nội trú huyện Vĩnh Thạnh.

2. Tồn tại, khó khăn, hạn chế

- Văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số cũng mang đặc điểm chung của văn hóa dân gian, đó là đặc trưng “truyền miệng” nên rất dễ bị biến mất, dễ bị mai một. Các nhà nghiên cứu/ sưu tầm cũng chỉ có thể dựa trên trí nhớ của các chủ thể, nghệ nhân, dân chúng để ghi chép lại.

- Do khác biệt ngôn ngữ nên những người sưu tầm thuộc các dân tộc khác không tiếp cận sâu sắc được, có rất ít tác phẩm được văn bản hóa và hầu như chưa được chuyển (dịch) sang chữ Quốc ngữ.

- Công tác kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu dù đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa mang lại hiệu quả cao. Nhân sự thực hiện kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu còn hạn chế về số lượng. Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác kiểm kê/ sưu tầm, đề ra các kế hoạch, phương án bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số còn ở mức hạn chế.

- Ngày hội Văn hóa - Thể thao các dân tộc thiểu số miền núi và Liên hoan văn hóa cồng chiêng của tỉnh Bình Định nên chăng đề ra phương án tổ chức từ cấp xã rồi đến cấp huyện mới đến tỉnh. Từ đó, mang lại sự phong phú, đa dang, mở rộng hình thức thực hiện từ nhiều phương diện, địa phương.

- Chương trình giáo dục địa phương trong các cấp học phổ thông chưa có chỉ đạo định hướng theo vùng, địa phương (cấp huyện); từ đó hiệu quả đem lại chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, trải nghiệm cho học sinh, tạo nguồn nhân lực của công tác này từ khi còn trên ghế nhà trường.

- Một số câu lạc bộ hoạt động chưa đem lại hiệu quả thiết thực; chưa khai thác, định hướng thực hiện theo Nghị định và văn bản hướng dẫn nhiệm vụ quản lý, tổ chức hoạt động hội.

- Sự liên kết giữa các địa phương, giữa các dân tộc để chú trọng nét đẹp, cái hay của di sản văn hóa ở từng dân tộc, ở từng địa phương tuy có nhưng còn mờ nhạt; từ đó chưa xác định xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng riêng, chưa xác định ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia nhằm góp phần lan tỏa, phát triển bền vững trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa.

III. ĐỀ XUẤT NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VỀ BẢO VỆ, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Qua quá trình tìm hiểu, bản thân xin phép nêu một số ý:

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam nói chung, của Bình Định nói riêng nhằm phát huy hiệu quả công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa dân gian, từng bước đẩy mạnh các hoạt động liên kết được thực hiện tại các không gian thiêng và mang tính hoạt động thường xuyên, định kỳ ở các cấp chính quyền và có tính chuyên nghiệp cao; nhằm bảo quản, khai thác sử dụng các hồ sơ, tư liệu về văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số nói chung, trên địa bàn tỉnh Bình Định nói riêng.

- Tổ chức thường xuyên (có đề án, kế hoạch cụ thể) các hoạt động kiểm kê, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Đưa nội dung văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số vào chương trình giáo dục địa phương đến từng huyện thật cụ thể và thiết thực, bài bản, linh hoạt cho từng dân tộc, từng địa phương.

- Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng cho từng dân tộc, từng địa phương (cấp huyện); làm tiền đề hình thành các điểm du lịch cộng đồng và có thể hình thành điển hình mô hình bảo tàng sinh thái dạng thức di sản văn hóa phi vật thể, văn nghệ dân gian dân tộc thiểu số.

- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương cần quan tâm đặc biệt; có trọng tâm, trọng điểm đến định hướng nhiệm vụ bảo vệ, khai thác sử dụng di sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số.

IV. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI TRUNG ƯƠNG

- Xây dựng Nghị định quy định quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số.

- Xây dựng Đề án (quốc gia) tổ chức các hoạt động giao lưu, liên hoan, trình diễn nét đẹp của di sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số theo chuyên đề, lĩnh vực; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu, thực hiện công tác kiểm kê, sưu tầm, khai thác sử dụng dữ liệu văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số.

- Xây dựng Đề án tổ chức các cuộc thi, liên hoan, cuộc phát động sưu tầm về văn hóa, văn nghệ dân gian của các dân tộc thiểu số trên phạm vi cả nước.

- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (hình thức là thông tư) quy định việc tổ chức biên soạn sách, học liệu giúp ích cho việc tìm hiểu, sáng tạo, thực hành, truyền dạy văn hóa, văn nghệ dân gian các vùng, miền cũng như tham khảo, vận dụng làm giáo trình giảng dạy trong chương trình giáo dục địa phương ở các cấp học phổ thông về văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc thiểu số./.



Tài liệu tham khảo

1. Bùi Minh Đạo chủ biên (2006), Dân tộc Bana ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

2. Đinh Xăng Hiền (1998), Truyện cổ H’rê, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.

3. Nguyễn Xuân Hồng chủ biên (2000), Văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, Nxb. Thuận Hóa, Huế.

4. Trượng Tính chủ biên (2016), Văn hóa Chăm H’roi, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm Ninh Thuận, Nxb. Nông nghiệp.

5. Sở Văn hóa và Thể thao Bình Định, Báo cáo (số 610/BC-SVHTT, ngày 27/4/2022) Tình hình thực hiện chính sách về miền núi, vùng cao từ năm 2016 đến năm 2022.

6. Sở Văn hóa và Thể thao Bình Định, Báo cáo (số 764/BC-SVHTT, ngày 08/4/2024) Kết quả triển khai, thực hiện Dự án 6 thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2022 đến 4/2024.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...