Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ trên toàn thế giới, xu thế xích lại gần nhau giữa các quốc gia trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Ngày nay, mọi chuyện xảy ra ở bất kỳ một điểm nào trên thế giới đều có thể được người ta biết đến trong một vài phút, thậm chí còn trực tiếp chứng kiến qua mạng internet. Việc từ nước này đến nước kia trước đây là vấn đề khó khăn, thì ngày nay có thể diễn ra trong vài giờ đồng hồ.
Với các phương tiện truyền thông và giao thông thuận tiện, người ta có thể trực tiếp tham gia một sự kiện chính trị, văn hóa, thể thao, hay có thể xem qua các phương tiện thông tin đại chúng. Một món hàng, một sản phẩm văn hóa của nước này, người nước khác có thể đặt mua trong 24 giờ là nhận được… Tất cả những điều đó cho thấy một thế giới phẳng mà con người cách đây vài chục năm không thể tưởng tượng được. Song, ở chừng mực nào đó, nó cũng dễ tạo nên sự nhàm chán, đơn điệu trước cuộc sống mà máy móc, phương tiện, nói theo ngôn ngữ dân gian “được trang bị đến tận răng”, đến nỗi chỉ cần dời xa chiếc điện thoại thông minh là con người như mất phương hướng và bị cô lập. Rồi phương tiện giao thông, đời sống hiện đại với những vật dụng xa xỉ, hàng hóa công nghiệp, thức ăn nhanh v.v và v.v… Con người hiện đại gần như đang bị cầm tù bằng chính những phát minh do mình nghĩ ra và bị nó chi phối từng giây, từng phút trong cuộc sống. Và đến lúc họ phản tỉnh, nghĩ rằng mình không thể thoát khỏi những ràng buộc vô hình mà lại rất chặt chẽ ấy. Chính trong thế giới đầy đủ vật chất và phương tiện hiện đại đó, người ta dần trở nên cô đơn, khô cứng… Bởi vậy họ tìm đến văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống của dân tộc mình và các dân tộc khác, cái mà đã có lúc trong sự xô bồ và bon chen của cuộc sống mưu sinh họ lãng quên hay không có điều kiện để nhớ đến.
Hơn thế, chiến tranh, những tranh chấp chính trị, phát triển công nghiệp dẫn đến sự tàn phá đất nước, giết hại con người, sinh vật sống, hủy hoại môi trường… điều mà cứ tưởng khi con người văn minh lên, có sự hiểu biết cao hơn thì phải được giữ gìn tốt hơn, ít va chạm hơn, song thực tế không phải như vậy. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai liên tục các cuộc chiến ở những khu vực khác nhau đã diễn ra, và hiện tại nguy cơ một cuộc thế chiến thứ ba đang hiện hữu. Để làm dịu bớt những cái đầu nóng, những sự điên khùng của các nhóm lợi ích khác nhau dẫn đến sự chém giết, hủy hoại, rất cần những việc làm, những thực hành văn hóa, để kiềm chế sự cuồng loạn của con người, gợi nhớ những ký ức, những truyền thống xưa của cha ông để con người thiện hơn, hòa bình hơn và đặc biệt là biết quý trọng hơn cuộc sống của mình và của muôn loài. Hơn bao giờ hết, đó là lúc vai trò của văn hóa được thể hiện và cần được phát huy trong đời sống trên khắp hành tinh này. Đây là lúc, con người có nhu cầu chia sẻ lòng nhân ái, sự trắc ẩn, sự yêu thương với những truyền thống, phong tục được cha ông ngàn đời xưa xây đắp nên. Không phải ngẫn nhiên UNESCO đưa ra Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa và môi trường tự nhiên đang bị phá hủy trên tòan thế giới năm 1972, với mong muốn khai thác tất cả các giá trị văn hóa và thiên nhiên của mọi cộng đồng dân cư, ở mọi nơi trên trái đất. Còn đến 2005 Công ước bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa của các dân tộc trên hành tinh này, dù họ ít người hay đông người, dù họ nhỏ bé hay đông đúc, nghèo nàn hay sung túc…, thì những truyền thống, những thực hành văn hóa của họ cần được tôn trọng, gìn giữ như những di sản của nhân loại. Thể theo những công ước quốc tế này, Việt Nam là một trong nhiều nước nhanh chóng kí kết tham gia một cách tích cực. Và chúng ta đã có những bộ luật quan trọng để ủng hộ và triển khai nội dung các công ước đó, mà điểm hình là Luật Di sản văn hóa được ban hành năm 2001 sửa đổi năm 2009 và hiện tại đang tiếp tục được sửa đổi cho phù hợp với thực tế. Việc thực thi các công ước và bộ luật này thực sự cho thấy sự cần thiết của việc bảo vệ văn hóa trên đất nước ta. Mà cuộc hội thảo hôm nay chính là góp phần vào công việc đó, song cũng là nhu cầu chính đáng đối với khu vực và đối với đất nước.
Bối cảnh khu vực
Về bối cảnh chung của vùng, theo những thông tin chung của khu vực Nam Trung Bộ, tính từ Đà Nẵng đến Bình Thuận chúng ta thấy tình hình của các dân tộc ít người tại chỗ ở đây được thống kê như sau. Đà nẵng có dân tộc Cơ Tu với 1.198 người, cùng các dân tộc ít người khác như dân tộc Êđê với 222 người, Gia Rai có 154 người... ít nhất là các dân tộc Chơ Ro, và Ơ Đu. Quảng Nam có người Cơ Tu (3,2%), người Xơ Đăng (2,7%), và người Gié Triêng (1,3%). 29 tộc người còn lại chỉ chiếm 0,9% dân số. Quảng Ngãi có người Hrê với 115.268 người, người Co với 28.110 người, người Xơ Đăng có 17.713 người, cùng với các dân tộc ít người khác như Hoa, Mường, Tày, Thái... Bình Định có Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân. Phú Yên các dân tộc ít người tại chỗ Chăm, Êđê, Ba Na, Hrê, Hoa, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên. Khánh Hòa dân tộc thiểu số lớn nhất là người Raglai với 45.915 người sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và một vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành phố Cam Ranh trong các bản làng (palây). Tại các khu vực giáp ranh với Lâm Đồng và Đắk Lắk có khoảng 4.778 người Cơ Ho và 3.396 người Êđê sinh sống. Ninh Thuận là người Chăm với 67.274 người, Raglai với 58.911 người, người Cơ Ho có 2.860 người, 1.847 người Hoa, cùng một số dân tộc ít người khác như Chu Ru... Bình Thuận có 34 dân tộc cùng sinh sống, số dân tộc bản địa là các dân tộc Chăm, Raglai, Hoa (tập trung nhiều ở phường Đức Nghĩa - thành phố Phan Thiết, xã Hải Ninh và xã Sông Lũy - huyện Bắc Bình), Cơ Ho, Chơ Ro… [7]. Bên cạnh những tộc người tại chỗ là số lượng đông đảo những tộc người thiểu số đến từ vùng núi phía Bắc và các khu vực khác như Tày, Nùng, Mường, Ơ Đu, Si La, Hmông, Hà Nhì… Thực tế cho thấy tất cả các tỉnh Nam Trung Bộ đều có không dưới 30 dân tộc thiểu số đang sinh sống. Điều này tạo nên một sự đa dạng văn hóa đáng kể cho toàn khu vực, bức tranh văn hóa càng phong phú, càng có cơ hội để giúp cho việc phát triển kinh tế xã hội cho toàn vùng. Sự tập trung của nhiều dân tộc đến đây, một mặt họ đem lại những sắc thái văn hóa riêng góp phần vào bức tranh chung cho mỗi tỉnh và rộng ra cho toàn vùng, mặt khác tạo nên sự giao thoa văn hóa và tính đa dạng của văn hóa tộc người trong đời sống tinh thần và vật chất của địa phương. Theo quy luật tự nhiên, khi di cư đến các khu vực khác, cộng đồng các dân tộc từ thiểu số đến đa số đều đem đến đây bản sắc văn hóa riêng của mình, mà đôi khi chính nơi họ ra đi có khi không còn giữ được. Đó chính là hiện tượng hóa thạch ngoại biên của văn hóa tộc người. Bên cạnh việc giữ gìn văn hóa riêng của tộc người, những cộng đồng dân tộc này đồng thời cũng tiếp thu các giá trị văn hóa của tộc người mà họ chung sống để tạo nên những sắc thái văn hóa mới, vừa có nét riêng vừa tạo nên sự đa dạng, phong phú cho mảnh đất mới. Đây chính là những ưu thế của văn hóa vùng Nam Trung Bộ nói riêng và các khu vực khác nói chung. Đây cũng là bối cảnh của văn hóa dân gian Nam Trung Bộ hiện nay, trong đó có Quảng Ngãi.
Vấn đề đặt ra trước mắt chúng ta là xu thế phát triển của Quảng Ngãi cũng như Nam Trung Bộ và cả nước là không thể đảo ngược. Đặc biệt là các trung tâm của các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt đầu từ Đà Nẵng với sự phát triển vượt bậc sau covid trở thành một thành phố có tốc độ đô thị hóa và du lịch mạnh mẽ với các trung tâm dịch vụ và sự kiện văn hóa nổi trội như Lễ hội pháo hoa quốc tế thu hút hàng triệu lượt khách nước ngoài và trong nước, Bà Nà Hill, khu phố đi bộ ven sông Hàn. Quảng Nam với Hội An bên cạnh giữ nguyên sự phát triển như trước còn có nhiều điểm mới như trở thành thành phố sáng tạo với nghề thủ công và văn hóa dân gian. Quảng Ngãi với khu kinh tế Dung Quất và thành phố Quảng Ngãi đang chuyển mình cùng huyện đảo nổi tiếng Lý Sơn với du lịch văn hóa và biển đảo, bãi biển Mỹ Khê và khu di tích Sa Huỳnh… Một loạt các di sản vật thể và phi vật thể của tất cả các tỉnh Nam Trung Bộ đã và đang được các tỉnh đề xuất được ghi danh vào danh mục di sản quốc gia. Ví như gần đây nhất, Quảng Ngãi vừa làm hồ sơ đề nghị Nghệ thuật trang trí cây nêu của đồng bào dân tộc Co huyện Trà Bồng cùng Nghề làm gốm Sa Huỳnh vào danh mục DSVHPVT Quốc gia và đã được thông qua hôm 19.7.2024. Bình Định với thành phố biển Quy Nhơn và hàng loạt những sự kiện kiến trúc, trung tâm khoa học quốc tế thường năm, cùng sự chuyển mình về kinh tế. Phú Yên bên cạnh những bãi biển đẹp thu hút du khách là sự phát triển kinh tế biển, kinh tế du lịch và văn hóa với những Vũng Rô, Gành đá đĩa, thủ phủ Tuy Hòa đang vươn lên thành một đô thị lớn. Ninh Thuận, vùng đất khó khăn đầy nắng và gió, thiếu nước ngọt, thì ngày nay đang trở thành một điểm sáng về phát triển kinh tế vượt trội trong “cái khó ló cái khôn” với những vườn nho trồng theo hướng công nghệ cao đã sản xuất ra các loại nho chất lượng cao và rượu vang Ninh Thuận, làng nghề gốm Bầu Trúc được UNESCO vinh danh và các tháp Chàm nổi tiếng kèm theo những lễ hội hay những cồn cát mênh mông từ chỗ không khai thác được gì nay trở thành một hiện tượng hút khách du lịch. Còn Bình Thuận với hội diều và thuyền buồm quốc tế cũng đang tìm được hướng đi cho mình về phát triển kinh tế.
Điểm qua một số nét như vậy để thấy, từ điêu tàn của chiến tranh, từ khó khăn nghèo nàn của kinh tế thời bao cấp, ngày nay Nam Trung Bộ đã trở thành một dải đất đáng sống và đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân và cho cả nước. Có thể nói, miền Trung nói chung, Nam Trung Bộ nói riêng là mặt tiền của toàn bộ miền Trung hướng ra biển, song cũng là phên dậu và đặc biệt là sự kết nối với Tây Nguyên, nơi mà đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống. Nam Trung Bộ là nơi có nhiều cảng biển xinh đẹp và hấp dẫn du lịch nên việc khai thác văn hóa vào đó có vai trò lớn cho phát triển một số di sản thế giới như Hội An, Mỹ Sơn và các nơi khác đem lại nguồn lợi lớn cho hoạt động văn hóa.
Văn hóa dân gian các dân tộc miền núi Nam Trung Bộ
Vậy để phù hợp và bổ sung cho sự phát triển chung của toàn vùng thì phần phía tây của các tỉnh Nam Trung Bộ đóng góp được những gì. Ở đây chúng ta chỉ nhìn từ góc văn hóa, tôi muốn bắt đầu bằng câu ca dao nổi tiếng mà mọi người đều rất đỗi quen thuộc:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên.
Bản thân câu ca dao đã nói lên sự gắn kết giữa miền xuôi và miền ngược, giữa các dân tộc thiểu số vùng Nam Trung Bộ với phần đồng bằng ven biển của nó. Xa hơn nữa là mối quan hệ với các tộc người vùng Tây Nguyên và ngày nay là các tỉnh Tây Nguyên, một vùng đất chiến lược của đất nước. Lịch sử cho thấy từ các triều đại phong kiến trước đây đến khi người Pháp sang xâm lược, miền Nam Trung Bộ vẫn là nơi dẫn lối lên Tây Nguyên được sử dụng nhiều nhất với những con đường chiến lược như quốc lộ 24 Quảng Ngãi đi Kon Tum, quốc lộ 27 Ninh Thuận đi Đà Lạt qua đèo Ngoạn Mục, lên thủ phủ cà phê Đắc Lắk, còn ngày nay có thêm Khánh Hòa đi Đà Lạt qua đèo Khánh Lê…, đường 28 từ Phan Thiết đi Di Linh sang Đắk Nông… và nhiều con đường khác càng ngày càng thắt chặt mối liên kết giữa vùng biển, đồng bằng Nam Trung Bộ với Tây Nguyên. Đó trước hết là sự gắn kết giữa miền núi các tỉnh Nam Trung Bộ với miền xuôi ven biển, sau đó là cả một vùng Tây Nguyên chiến lược. Như vậy về mặt kinh tế, chính trị là một sự liên kết chặt chẽ hơn bao giờ hết vì sự phát triển chung của vùng và toàn bộ khu vực miền Trung Tây Nguyên, thì về mặt văn hóa cũng lại càng cần thiết, nhất là khi xu thế phát triển bền vững đang được coi trọng không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Không chỉ còn là “Măng Le, cá chuồn” mà còn là những di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của các tộc người thiểu số trên dãy Trường Sơn hùng vĩ đang đóng góp vào sự phát triển của toàn khu vực. Đó là những lễ hội dân gian, ví như Quảng Ngãi là như lễ hội ăn trâu, lễ hội Trường Bà, những di sản văn hóa của tộc người sống trên lưng chừng núi - người Ca Dong. Đó là di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên lan xuống các tỉnh Nam Trung Bộ từ Đà Nẵng đến Bình Thuận, là tài nguyên văn học dân gian từ truyền thuyết, huyền thoại, sử thi và nhiều loại hình văn học truyền miệng khác. Đó là di sản nghệ thuật biểu diễn của các dân tộc sinh sống Trường Sơn hay những di sản nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian như các ngôi nhà Gươl, các loại nhà sàn của các tộc người thiểu số…
Từ đây, một lần nữa có thể hệ thống lại trên cơ sở của Luật Di sản văn hóa Việt Nam cùng Công ước 2003 về văn hóa phi vật thể với những loại hình của văn hóa dân gian các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ ở những loại hình cơ bản cần được nghiên cứu như sau:
1- Văn học dân gian còn đang tồn tại trong các dân tộc vẫn cần được sưu tầm như các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ, thơ ca dân gian, sử thi, lời nói vần…. Tất cả những gì liên quan đến tài nguyên văn học dân gian của đồng bào các dân tộc trên dải đất Nam Trung Bộ.
2- Các phong tục, tập quán xã hội, luật tục, hương ước, nền nếp liên quan đến đời sống của từng tộc người với những đặc trưng riêng tạo nên bản sắc tộc người của họ.
3- Các lễ hội, nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ vòng đời ma chay, cưới xin, làm nhà mới, ăn trâu… Đây là những nghi lễ, lễ hội phổ biến của các tộc người vốn đã tồn tại từ lâu đời như các lễ ăn trâu, lễ bỏ mả, lễ cưới truyền thống…
4- Nhóm di sản nghệ thuật biểu diễn như âm nhạc với các làn điệu hết sức độc đáo và đa dạng, hệ thống nhạc cụ từ núi rừng như tre, nứa, lồ ô, hay những nhạc cụ bằng đồng như cồng chiêng, đồng la, nhạc cụ làm từ chất liệu đá v.v…
5- Nhóm nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật dân gian dân gian với những ngôi nhà truyền thống và tượng điêu khắc muôn màu muôn vẻ mang đậm nét văn hóa và đặc trưng của núi rừng Trường Sơn hùng vĩ.
6- Ẩm thực các dân tộc thiểu số, những người đã sống từ ngàn năm tại đây, thông thuộc từ gốc cây, ngọn núi, các sản vật từ nguồn lợi của rừng, của sông, của đất…, từ những thứ để tồn tại đến những thứ cây cỏ có giá trị chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe như cây sâm Ngọc Linh. Và đặc biệt là những món ăn dân dã nhưng chứa đựng cả một truyền thống văn hóa cũng như triết lý sống của con người.
7- Nhóm di sản về nghề thủ công, một nét đặc sắc của các dân tộc vùng Trường Sơn Tây Nguyên. Đó là những đồ dệt thổ cẩm, trang phục mang tính nghệ thuật và tài năng của con người đã sáng tạo ra nó. Bên cạnh đó là những nghề thủ công phục vụ đời sống hằng ngày của con người, song cũng lại là những mặt hàng hấp dẫn du khách từ phương xa đối với nền văn hóa của các tộc người sinh sống nơi đây.
Đó là những lĩnh vực bao quát toàn bộ di sản văn hóa dân gian của khu vực Nam Trung Bộ để chúng ta tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mà Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đặt ra. Để tiến hành sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy được tất cả những di sản văn hóa trên đây, trong bối cảnh mới với những thay đổi nhanh chóng của đời sống chính trị, xã hội và đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ hiện đại, thiết nghĩ chúng ta cần lưu ý đến những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, Vẫn là những việc chúng ta đã và đang làm trong suốt thời gian qua đó là bảo vệ các di sản văn hóa tộc người thiểu số trong khu vực cũng như toàn quốc. Điều chúng ta đã và đang làm đó là sưu tầm, ghi chép, tư liệu hóa những giá trị, những hiện tượng văn hóa dân gian trong thời gian qua, mà nếu không làm thì một loạt những nghệ nhân-những báu vật nhân văn sống đã ra đi đem theo cả kho tàng văn hóa dân tộc của họ xuống mồ, việc này vẫn phải tiếp tục. Những sưu tầm đó, trước hết là giữ lại cho các tộc người có được những tư liệu để khi có điều kiện có thể khôi phục lại và giữ gìn mãi mãi không bị mất đi. Đó là cách chúng ta bảo vệ để bảo tồn các giá trị này. Có một điều cần lưu ý, đó là nguồn tài nguyên văn hóa dân gian để chúng ta sưu tầm hiện nay không còn được như xưa vì một phần lớn đã được sưu tầm, phần khác đã bị mai một, thêm nữa những người gìn giữ nó đã ra đi. Nói như một nhà văn hóa là “mỗi nghệ nhân mất đi đem theo cả một kho tàng văn hóa của dân tộc xuống mồ”. Vì thế, sưu tầm của chúng ta hiện nay cần phải hết sức tỉ mỉ, kiên trì, một mặt cố gắng thu lượm, nhặt nhạnh những gì còn sót lại trong cộng đồng các dân tộc. Mặt khác, cần hết sức lưu ý xem chính những giá trị văn hóa đó của cha ông họ hiện đang tồn tại như thế nào trong cuộc sống đương đại của người dân hiện nay. Đây là điều hết sức quan trọng, bởi chúng ta hiểu rằng văn hóa không bao giờ đứng yên, mà luôn luôn vận động, thay đổi cho phù hợp với xã hội hiện đại, phục vụ con người hiện nay. Và cũng chính điều đó xuất hiện sự sáng tạo của các thế hệ tiếp theo, đồng thời cũng là để những người đi sau như chúng ta có cái để sưu tầm, nghiên cứu. Một việc làm mà Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cùng với các hội viên ở 63 tỉnh thành trong cả nước đã có những thành tựu không thể phủ nhận được. Bên cạnh giữ gìn, lưu giữ đối với những người nghiên cứu, thì việc sưu tầm này giúp cho bản thân mỗi tộc người thấy được giá trị của mình trước sự đa dạng văn hóa chung của toàn quốc và cao hơn là giúp cho chính họ dùng văn hóa tộc người của mình để nuôi dưỡng, vun trồng, làm phong phú đời sống tinh thần của họ và gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người, giáo dục các thế hệ gìn giữ truyền thống của cha ông mình cũng như tìm thấy chỗ đứng riêng của họ trong vườn hoa nhiều hương sắc của văn hóa Việt Nam. Đây là điều mà lâu nay không phải lúc nào chúng ta cũng quan tâm đến, bởi tính hướng ngoại của một hiện tượng văn hóa. Chẳng hạn, khi sưu tầm, lưu giữ, thực hành một hiện tượng văn hóa tộc người, ta thường hướng đến giá trị văn hóa của tộc người, tính bản sắc của tộc người đó thông qua thực hành văn hóa này, vai trò, vị trí của nó trong văn hóa của các dân tộc khác trong quốc gia…, còn việc nuôi dưỡng tin thần, vun trồng đạo đức, giáo dục các thế hệ… thông qua những thực hành đó ta coi như chuyện đương nhiên. Bởi vậy, nhiều khi thực hành những hoạt động đó một cách vô thức, máy móc nhiều khi không hiểu để làm gì và vì cái gì. Chính điều đó làm cho các thế hệ trẻ thờ ơ, nhàm chán đối với các thực hành văn hóa của cha ông. Từ đó, giá trị văn hóa, bản sắc tộc người và đặc biệt là những giá trị nhân văn không thấm vào họ để tạo nên lòng nhân ái, tính vị tha, hồn cốt của dân tộc, truyền thống của cộng đồng, quê hương không thấm vào họ nên nó bị trượt đi. Đây chính là sự thiếu hụt và mất mát trong việc truyền dạy văn hóa cho các thế hệ trẻ hôm nay.
Thứ hai, điều vô cùng quan trọng hiện nay đó là làm thế nào để đem những giá trị văn hóa nói chung, văn hóa dân gian nói riêng của một tộc người phục vụ cho cuộc sống hiện tại, vừa để giáo dục thế hệ trẻ, vừa để bảo tồn bản sắc văn hóa của cha ông và quan trọng hơn nữa là để phát triển kinh tế của mỗi địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp chúng ta có những “Diệt phát xít”, “Hò kéo pháo” có “Tây tiến” có “Giải phóng Điện Biên”… để làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Còn thời chống Mỹ với biết bao nhiêu tác phẩm khác cùng cả nước “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… Ở đây chỉ nói đến các tác phẩm nghệ thuật khai thác từ chất liệu dân gian của vùng Trường Sơn này một thời với những “Người lái đò trên sông Pô Cô”, “Tiếng đàn Ta Lư” xa hơn chút vào miền trong với “Tiếng chày trên sóc Bom bo”… đã cổ vũ sức mạnh của những người chiến sĩ ra mặt trận chống lại kẻ thù để làm nên một 30 tháng tư lịch sử. Khi đó, thực sự văn hóa truyền thống qua tài năng của các nhạc sĩ chiến sĩ đã góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Vậy bây giờ, trong thời bình, những tiếng đàn, tiếng chày kia, những lễ hội, các sản phẩm thổ cẩm, các sản phẩm ẩm thực… kia sẽ ra sao, làm thế nào để nó đem lại những giá trị kinh tế, văn hóa cho hôm nay? Đó chính là vấn đề làm thế nào để khai thác những giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại. Một mặt để giữ gìn bản sắc dân tộc của mỗi cộng đồng tộc người, mặt khác để làm cho cuộc sống tinh thần của họ phong phú, khuyến khích lòng nhân ái, tính nhân văn, sự trắc ẩn trong con người, và từ họ đến các dân tộc khác cùng chung sống kề bên hay đến giao lưu, làm việc và cùng chung sống. Đồng thời làm sao để chính những giá trị văn hóa đó tạo nên những sản phẩm hàng hóa văn hóa chất lượng cao, đem lại lợi ích kinh tế phục vụ bà con, có như vậy thì họ mới thấy yêu, thấy quý trọng văn hóa của mình mà gìn giữ phát huy để nó được bền vững và phong phú hơn. Đã đến lúc chính người dân bản địa phải thấy được giá trị văn hóa của cha ông mình và họ đứng ra tìm hiểu, khai thác để bảo vệ và phát huy nó, khi đó các truyền thống văn hóa mới được tồn tại và phát triển một cách lâu dài, bền bỉ. Ở đây vai trò của các nhà nghiên cứu, các tổ chức chính quyền, cơ quan quản lý chuyên môn quan trọng biết nhường nào. Họ chính là những người thắp lửa và làm bùng lên những ngọn lửa để người dân bảo vệ và giữ cho ngọn lửa cháy liên tục trong cuộc sống. Một trong những phương hướng đang được khai thác thành công đó là du lịch văn hóa tộc người… Với các tua du lịch, các khu sinh thái và văn hóa tộc người, những làng văn hóa, những homestay, các chuyến du lịch trải nghiệm, chung sống cùng cộng đồng địa phương, các cuộc liên hoan văn hóa, liên hoan cồng chiêng, hội chợ thổ cẩm, ẩm thực v.v và v.v… sẽ là những sáng kiến và hoạt động vô cùng quý báu cho việc đưa các giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số vào sự phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh Nam Trung Bộ. Hơn thế, hoàn toàn có thể mở rộng ra bằng các giá trị văn hóa của những khu vực khác về Nam Trung Bộ và ngược lại từ Nam Trung Bộ vào Nam Bộ hay ra Bắc Bộ và những địa điểm khác. Một ví dụ cụ thể là khu du lịch "Miền Tây thu nhỏ" của thành phố Quảng Ngãi đã chính thức có "danh phận" trên bản đồ du lịch với rừng dừa nước Tịnh Khê, nằm trên địa bàn xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, đã được công nhận là điểm du lịch của tỉnh.[9]
Thứ ba là đem những giá trị văn hóa dân gian đó góp phần với thế giới vì mục đích hòa bình và thân thiện giữa các dân tộc trong mái nhà chung của quốc tế. Đồng thời cũng là dịp để quảng bá, tuyên truyền giá trị văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa khu vực Nam Trung Bộ nói riêng ra quốc tế bằng những sự tham gia ở nước ngoài và đặc biệt ngay tại trong nước. Như trên chúng tôi đã trình bày đó là những trung tâm du lịch vô cùng xinh đẹp và quyến rũ của Nam Trung Bộ như Đà Nẵng, Hội An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Hiện nay tỉnh nào cũng có những khu du lịch rất nổi tiếng, bên cạnh những hoạt động nghỉ dưỡng là du lịch văn hóa truyền thống của mỗi địa phương vô cùng phong phú và đa dạng của mỗi nơi, đồng thời là sự kết hợp giao lưu, trao đổi của từng nơi đó với các tỉnh bạn trong khu vực. Thực tế này đã có những kết quả đáng khích lệ ở các tỉnh trong thời gian vừa qua và đang là xu hướng tốt hiện nay. Đây cũng chính là nơi có thể xuất khẩu du lịch văn hóa tại chỗ, khi mà đông đảo khách quốc tế hằng năm tụ hội tại đây, nên là dịp để các tỉnh Nam Trung Bộ chúng ta có thể quảng bá hình ảnh và di sản văn hóa của mình mà không cần ra nước ngoài. Chính những du khách quốc tế sẽ là những người quảng cáo các hình ảnh và sản phẩm văn hóa của chúng ta đến bè bạn năm châu một cách sinh động nhất. Đây là một cách quảng bá hình ảnh khôn khéo và có lợi.
Thứ tư là vấn đề giáo dục di sản. Đây là điều UNESCO rất quan tâm trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của tất cả các quốc gia thành viên. Vì thế, trong tất cả các biện pháp bảo vệ đối với các hồ sơ được họ ghi danh là di sản phi vật thể đại diện cho nhân loại, vấn đề này luôn được chú trọng. Nếu như ở phần trên chúng tôi đã nhắc đến việc thông qua các thực hành di sản của tộc người để các thế hệ trao truyền cho đời sau các giá trị văn hóa tộc người, thì ở việc giáo dục di sản có thêm một vấn đề nữa là đưa vào trường học để dạy cho lớp trẻ. Dưới nhiều hình thức khác nhau như các bài học về văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười…), các trò chơi dân gian, các làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống, các nghề thủ công, cách chế biến các món ăn dân gian…
Với các bài học lý thuyết và thực hành tại chỗ, học sinh được trải nghiệm rồi sau đó về thực hành tại nhà cùng những người thân, những nghệ nhân đang sống trong bản làng. Đó là cách giữ gìn bền vững và dễ gần, dễ thấm vào lòng người một cách nhanh chóng và hiệu quả. Gần đây Bộ Giáo dục và đào tạo đã triển khai chương trình giáo dục địa phương trong trường Tiểu học, phổ thông Cơ sở và phổ thông Trung học là một cách giáo dục di sản tích cực. Từng địa phương đã chọn cho mình những di sản văn hóa gần gũi với đời sống, phong tục, các di sản văn hóa phi vật thể gần gũi với các em từ không gian văn hóa của quê hương, các di tích lịch sử, các nhân vật lịch sử và các loại hình văn hóa dân gian như lễ hội, trò diễn, nghề thủ công, làn điệu dân ca, trò chơi, điệu múa… Cách thiết kế các chương trình từ thấp lên cao, từ chỗ chỉ là quan sát, nhận diện ở các lớp tiểu học, mô tả nội dung, diễn biến ở phổ thông Cơ sở và lên phổ thông Trung học là những sự tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn…
Đó chính là cách để các em ngấm dần, thẩm thấu và yêu mến văn hóa truyền thống của tộc người quê hương mình. Cùng với việc đắm mình vào các không gian văn hóa trong những ngày hội, những nghi lễ, những cuộc sinh hoạt của làng bản thì những bài học trên lớp như thế này càng củng cố thêm lòng yêu mến của các em về văn hóa của dân tộc mình. Ở những không gian này, các em được tham dự, được đụng chạm, được nghe, được xem, được thực hành các bài hát, điệu múa, nhạc cụ như cây đàn Chapi, chiếc trống Paranưng, những thanh đàn đá, các loại cồng chiêng… Đó là cách giáo dục trực quan sinh động nhất đối với lớp trẻ, làm cho học sinh từ quen đến yêu quý trân trọng văn hóa dân tộc của mình. Từ đây, một vấn đề đang được toàn xã hội và trên thế giới đang rất quan tâm đó là việc tôn vinh các nghệ nhân dân gian. Những báu vật nhân văn sống của nhân loại, những người thầy của rất nhiều thầy đào tạo nên những lớp nghệ nhân tài năng. Làm thế nào để bảo vệ họ, khuyến khích, nâng đỡ họ về cuộc sống vật chất và tinh thần để họ đem hết trí tuệ và tài năng của mình truyền dạy lại cho đời sau, đang làm đau đầu các nhà quản lý và hoạch định chính sách. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam từ năm 2001 đã đưa ra việc phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, đến nay đã phong tặng được 755 nghệ nhân và không ít trong số họ đã qua đời. Tuy nhiên, ngoài một bằng chứng nhận và 500 ngàn đồng khi trao cho các nghệ nhân thì không có một chế độ chính sách nào, vì Hội không có điều kiện, không phải thẩm quyền. Cho đến năm 2015, với Nghị định 109/2015/NĐ-CP được Thủ tướng Chính phủ kí ban hành ngày 28.10.2015, nhưng lại chỉ được cho những nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú được nhà nước công nhận. Mặc dù có không ít những nghệ nhân được nhà nước công nhận đều xuất phát từ các nghệ nhân dân gian. Niềm hy vọng vẫn đang ở phía trước.
Cuối cùng là đội ngũ của chúng ta - những người làm văn hóa dân gian hiện nay đang là vấn đề lớn. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, việc cạnh tranh để sinh tồn diễn ra ngày càng khốc liệt. Nhu cầu cuộc sống thay đổi làm cho cuộc mưu sinh của con người không còn đơn giản như xưa chỉ là miếng cơm manh áo. Biết bao nhu cầu mới của cuộc sống hiện đại đã làm nản chí những nhà sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy. Lớp trẻ không còn tha thiết với những ngành nghề liên quan đến văn hóa dân gian, lòng say mê cũng đã nguội lạnh dần theo vòng quay của đồng tiền và những nhu cầu xã hội. Đã qua rồi cái thời những người thực hành di sản, những nghệ nhân yêu mến văn hóa truyền thống của dân tộc đồng thời cũng là những người nắm giữ tài sản đó, vì không muốn để nó mai một nên không quản khó khăn, nghèo đói, vất vả để ngày đêm sưu tầm, tìm hiểu, ghi chép, truyền dạy cho các thế hệ con cháu.
Ngày nay, hiếm còn những người dù không phải là người thuộc dân tộc thiểu số nhưng sẵn sàng đi vào các vùng dân tộc với đam mê và nhiệt huyết bảo tồn các di sản văn hóa của bà con. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm và đồng thời cũng trải nghiệm sưu tầm, ghi chép dưới nhiều loại hình thức khác nhau, thậm chí học đàn, học hát học tiếng để có thể hiểu biết từng hiện tượng văn hóa một cách thấu đáo của bà con để giữ gìn truyền lại cho các cơ quan có trách nhiệm. Rất nhiều những nhà sưu tầm, nghiên cứu, những người say mê với văn hóa tộc người đã lần lượt ra đi, bỏ lại một khoảng trống. Ngày nay việc tiếp cận đến các khu vực sinh sống của bà con khá dễ dàng bởi giao thông và các phương tiện đi lại đã rất thuận tiện. Song nghệ nhân không còn, người trẻ không nhớ, bản làng thay đổi và đang dần dần bị đô thị hóa, bị Kinh hóa…
Vì không được học, không được sống trong bầu không khí của văn hóa tộc người truyền thống, lớp trẻ cũng dần quên lãng và bắt đầu quen với các phương tiện hiện đại như điện thoại, dàn karaoke, máy hát hiện đại, nhạc pop, nhạc nhẹ… Đây thực sự là một nguy cơ lớn, nên những vấn đề về giáo dục di sản đã trình bày ở trên cần được lưu ý ở tất cả các cấp chính quyền cũng như chính những nhà sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy như chúng hiện nay. Rất cần sự hâm nóng, sự kêu gọi và tha thiết tự đáy lòng của những người yêu mến văn hóa các dân tộc đến thế hệ trẻ các nhà sưu tầm, nghiên cứu hiện nay. Hội thảo hôm nay của chúng ta cũng là bằng chứng về lời kêu gọi đó.
Thay đổi là điều đương nhiên đối với tất cả các hiện tượng đang tồn tại cũng như các tộc người trên trái đất này. Song thay đổi để phát triển trên cơ sở những truyền thống đã được xây dựng và vun đắp bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ đi trước, chứ không phải để quên lãng, để xóa đi những giá trị truyền thống đó, như vậy sớm muộn gì cũng dẫn đến mất gốc, đến diệt vong. Nói như lời cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 24.11.2021 “Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất”. Sự mất ấy là điều tất cả chúng ta cũng như các nhà văn hóa trên toàn thế giới không hề mong muốn. Đó cũng là mục đích mà hội thảo hôm nay về “Văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ” hướng đến, và sẽ phải có những hội thảo tiếp theo nữa để chúng ta tiếp tục gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa của cha ông.
Xin chúc hội thảo thành công tốt đẹp!
Hà Nội, 2024.
Tài liệu tham khảo
1. Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 đang được Quốc hội thảo luận và đang lấy ý kiến các bộ ngành. Chương trình tập trung vào các hoạt động thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, cụ thể gồm: Di sản văn hóa; văn hóa cơ sở; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm...; được thực hiện trong 11 năm (từ 2025 - 2035), chia làm 3 giai đoạn, gồm giai đoạn năm 2025; 2026 - 2030 và 2031 - 2035.
2. Nhiều tác giả (2008), Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách Khoa, H.
3. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Luật Di sản văn hóa, Số: 28/2001/QH10, ngày 29 tháng 06 năm 2001.
4. Quyết định số 1719/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phê duyệt ngày 14.10.2021.
5. UBND tỉnh Phú Yên (2002), Địa chí Phú Yên, Nxb. Chính trị quốc gia.
6. UNESCO (2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Thông qua tại Phiên họp thứ 32 tại Paris từ 29.9 đến 17.10 năm 2003.
7. Thông tin trên trang điện tử của các tình thành phố Nam Trung Bộ.
8. Nguyễn Phú Trọng (2024), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.
9. Công Xuân (2024), "Miền Tây thu nhỏ" của TP.Quảng Ngãi đã chính thức có "danh phận" trên bản đồ du lịch, Báo dân Việt, Chủ nhật, ngày 21/07/2024.
10. Nguyễn Đăng Vũ (2007), Quảng Ngãi - Một số vấn đề lịch sử văn hóa, Nxb. Khoa học - Xã hội, H.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét