An Thái (xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn) vốn là một thị tứ sầm uất bán buôn với nhiều nét văn hóa phong phú. Ngày trước, đây là nơi sinh sống của những cộng đồng người Việt và người Việt gốc Hoa di cư đến khai hoang lập nghiệp từ thời nhà Nguyễn ở Đàng Trong, ngày càng phát triển thành một trung tâm kinh tế, thời Chúa Nguyễn thương mại nổi tiếng ở vùng đất An Nhơn từ thế kỷ XVIII.
Năm tháng qua đi, nhiều di sản văn hóa có giá trị vẫn còn lưu dấu trong tiềm thức người dân nơi đây. Như một chỉ dấu nhận diện vùng đất, lễ hội Đổ giàn là đặc trưng của làng võ ven bờ sông Côn này. Bên cạnh đó, nhân Tọa đàm ngày hôm nay, tôi muốn nói đến một nét đặc sắc khác liên quan mật thiết đến làng võ, lễ hội nơi này, ấy là nghề múa lân võ điệu nghệ từng vang danh hơn trăm năm của An Thái.
Gắn liền với các võ đường ở An Thái
Những lần điền dã về An Thái, tôi có cơ may được tiếp xúc với nhiều người luyện võ ở đây, đặc biệt là thành viên của đội lân võ nức tiếng những thập niên 60, 70 của An Thái. Một trong số những người tôi gặp chỉ vài năm trước đây là ông Bảy Hương tên thật Trần Hương. Ở tuổi gần 80 mà phong thái ông vẫn thanh thoát bởi nhờ luyện võ lâu năm. Bảy Hương là một trong số các hậu duệ chân truyền của lân An Thái. Đến nay, thành viên đoàn lân của thập niên trước đều quá vãng, chỉ còn lại mình ông. Sau năm 1975, ông được mọi người tín trọng bầu làm đoàn trưởng, dẫn đầu đoàn lân trong các cuộc biểu diễn phương xa hay tranh tài cao thấp với các đoàn lân của các võ đường khác. Những khi ấy, đoàn lân An Thái luôn nổi trội hơn bởi độ tinh tế trong kỹ thuật biểu diễn, khiến khá giả xem đều nức lòng khen ngợi. Nhiều lần, đoàn lân được mời đi biểu diễn khắp nơi, có khi sang tận các tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk...
Nghề múa lân thường gắn liền với những võ đường. Người khởi sinh nghề lân An Thái cũng chính là ông Tổ võ của An Thái, lão võ sư cự phách Diệp Trường Phát. Ông là người gốc Hoa, dân làng còn hay gọi ông là Tàu Sáu. Bảy Hương xưa kia cũng là môn đồ của võ đường Tàu Sáu, nghề múa lân được Hội đồng môn trong võ đường Tàu Sáu truyền lại. Người ta gọi người múa lân là “lân sĩ”, họ hay luyện lân tại sân tập võ ở võ đường hoặc các bãi đất trống ven sông. Mỗi lần nghe tiếng trống lân “tùng, tùng, cắc” vang lên thì trẻ con trong làng đang ăn cơm cũng bỏ đũa chạy đi xem, làm rộn rịp cả một vùng quê ngày trước.
Múa lân của An Thái chủ yếu phục vụ những dịp Tết Trung thu; Tết Nguyên đán; ngày mừng đại thọ của Tàu Sáu - để các “lân sĩ” lại trổ tài để tỏ lòng với sư tổ. Đặc biệt còn sử dụng trong lễ hội Đổ giàn, một lễ hội hết sức độc đáo của An Thái nhưng rất tiếc, từ năm 2006 đến nay, lễ hội này đã vắng bóng. Những khi ấy, người dân xung quanh được dịp thưởng thức nghề múa lân như xem một bộ môn nghệ thuật đặc sắc… lâu lâu mới có. Mỗi lần xem đoàn lân An Thái biểu diễn, bà con đều mãn nhãn thích thú.
Lân võ biểu diễn trong lễ hội Đổ giàn, càng thể hiện khí chất của người luyện võ ở An Thái, chuẩn bị cho một lễ hội với những màn so tài kịch tính của các làng võ. Lân An Thái đã có những “định vị” trong lòng người dân An Thái xưa. Đặc biệt là với đại võ sư Tàu Sáu. Có giai thoại truyền lại rằng, trước lúc lâm chung, ông tổ làng võ An Thái sai con cháu đưa ra trước sân ngồi để xem các đệ tử biểu diễn lân lần cuối. Cũng bởi vậy, sau này, hễ đến ngày Giỗ tổ võ mười tám tháng Giêng hàng năm, sau màn biểu diễn võ thuật thì các lân sĩ đều phải múa lân để tỏ lòng biết ơn đến cụ tổ làng võ, người đã mang hồn Lân gửi gắm vào bến sông quê An Thái.
Những độc đáo lân An Thái
Dân Bình Định ai chẳng thuộc nằm lòng cái câu: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. Làng quê võ An Thái có cái căn nền để phát triển một nghề lân vang xa khắp chốn. Nên lân võ của thế kỷ trước rộ nở và tạo nhiều chú ý. Những người trong đội lân võ họ biểu diễn múa lân có bài chứ không như nhiều đội lân hiện nay chỉ lắc lư đầu lân theo tiếng nhạc rồi nhún nhảy vài ba động tác. Lân An Thái vừa kết hợp cả tay, chân và cả trí nữa. Tay, chân là vận dụng các thức võ vào bài biểu diễn. Ngoài điệu bộ biểu lộ cảm xúc buồn, vui, giận dỗi, thiếp ngủ… trên khuôn mặt lân, lân An Thái có bốn thức biểu diễn cơ bản đều theo các điệu võ nổi tiếng, đó là: Kim kê, điệu mã, tứ bình và ba chân hổ. Còn trí là cách xử lý tình huống muôn hình vạn trạng khi người ta muốn “xem lân” mà cố ý xếp bày lèo (phần thưởng cho đội lân) tại những địa điểm hóc búa.
Cách vận dụng các thế lân cũng tùy theo hoàn cảnh và địa hình. Như điệu “kim kê” được vận dụng khi gặp nhà cao thoáng, vận cước vung cao, một chân đứng trụ như trong võ vừa thế thủ vừa thế công, có thể tung người bay lên để lấy lèo gia chủ treo cao, cũng vừa để “vờn” lân khác khi có song lân cùng diễn. Còn với những ngôi nhà mái thấp thì lân chủ yếu khai triển thế lân “tứ bình”, hai chân duy chuyển linh hoạt nhưng vẫn giữ thế đứng tấn, nếu không phải con nhà võ khó dụng chiêu thức này. Không chỉ thế, lân An Thái được xem là đội lân hào hoa, lịch thiệp, trước khi vô nhà và nhận lộc từ chủ nhà luôn gập đầu chào hỏi, và sau khi biểu diễn xong lân cũng không quên tạ từ gia chủ.
Đội Lân của An Thái có khoảng từ 20 đến 30 người, riêng bộ trống đã có 6 người gồm 1 trống và 5 phèn la. Đoàn lân còn có Xa Tăng, Bát Giới, Tề Thiên, Tam Tạng, Ông Địa và cả người đóng vai Bạch Mã. Thậm chí, hình ảnh về “thành viên đặc biệt” trong đội lân xưa đã neo vào ký ức nhiều người như một ấn tượng khó phai. Người dân lớn tuổi ở An Thái còn nhớ đến hình ảnh ông Dư Già cưỡi ngựa giả đóng vai Bạch Mã y như ngựa sống. Dưới bốn chân ngựa còn có bốn “dép gỗ”, ngựa hay đi trước mở đường, các võ sĩ đi hai bên mang theo hai cây tre dài. Ai háu táu ngán đường là bị “dép gỗ” gõ vào ống chân với một lực vừa phải, khán giả biết ý mà tự động giãn ra”.
Đội lân An Thái neo chặt trong trí nhớ nhiều người một phần nhớ sự tài hoa, bản lĩnh và khả năng phối hợp ăn ý của các thành viên trong đội. Nó thể hiện đậm đặc trong cách lấy lèo trên cao mà không phải đội lân nào cũng làm được. Mỗi khi biểu diễn lấy lèo, họ mang theo hai cây tre thật dài và chắc. Chúng được đặt song song nhau tại vị trí lấy lèo. Phần dưới có người đứng tấn giữ trụ, các lân sĩ người này ngồi trên vai người khác mà nối nhau lên tới đọt tre để lấy lèo. Có khi, gần 20 người nối nhau cao vút hơn cả chục mét như thế làm ai xem cũng thót tim. Cũng có lần, vừa lấy lèo xong thì đọt tre gãy nhưng lân sĩ đã nhanh nhẹn truyền khẩu lệnh cho nhau rút êm xuống khiến khán giả reo hò thích thú.
Trong nhiều lần đến An Thái, tôi còn được gặp con trai của Bảy Hương - anh Trần Năng, hiện là đội trưởng đội lân An Thái. Anh Năng nay đã hơn 50 tuổi, khi 16 tuổi anh đã được cha và võ sư Hải Sơn truyền dạy võ và lân. Qua anh và cụ Bảy Hương, tôi có thêm những tư liệu về lân An Thái và được thị thực những động tác cơ bản trong bộ chân của các thế lân do anh Trần Năng thể hiện. Lân An Thái còn chinh phục người xem không chỉ bằng cách lấy lèo trên cao, mà còn ở cách xử lý tinh tế các tình huống. Ngày trước, nhiều người sành lân họ muốn thử lân. Như có người để tờ tiền dưới ly rượu nhỏ, mình phải lấy “phẩm vật” làm sao mà không làm đổ ly rượu. Hoặc những ngày Tết, họ treo bao lì xì trên cành hoa mai, hoa cúc, những bông hoa đang độ xuân trẩy nụ bung búp đẹp mê lơi, đoàn lân phải lấy được lèo sao cho không làm rơi gãy cánh hoa của họ.
Cũng có trường hợp, có người còn mang thau nước cho lân uống. Cũng là một cách thử lân. Trong khi nhiều đoàn lân khác bó tay hoặc thực hiện việc “uống nước” bằng cách bưng thau nước đổ đi một cách thô thiển thì đoàn lân võ An Thái có cách xử lý khác. Mỗi lần gặp trường hợp ấy, đoàn lân chuẩn bị một chiếc khăn vải lớn, vừa chặm khăn thấm nước rồi truyền dần ra cho các lân sĩ đến tận đuôi lân mới vắt nước xuống đất. Cứ vậy làm đôi ba lần là hết thau nước lại không lộ ra bên ngoài, khiến ai xem cũng phục lăn vì tài uống nước độc nhất vô nhị của lân An Thái.
Cần phục hồi lân võ An Thái bên cạnh phục dựng lễ hội Đổ Giàn
Trước những năm 70, đoàn lân An Thái đều tự làm lân chứ không nhập lân từ nơi khác về như những thập niên gần đây. Thậm chí, khoảng thời gian ấy, nhiều võ sư như Diệp Bảo Trân, thầy Ba Kiên Mỹ, Tri sở đấu Tạ Văn Trung làm lân thiện nghệ, nổi tiếng trong vùng. Lân An Thái có một điểm khác các lân khác bởi lân nơi đây là lân râu bạc. Trong giới lân, chỉ có lân… Chúa mới có râu bạc. Sở dĩ lân An Thái dám dùng lân râu bạc bởi vì những “lân sĩ” đều là những người theo trường phái võ Thiếu lâm. Mà thực sự, lân An Thái cũng đã khẳng định được vị thế “lân Chúa” của mình trước những đội lân khác trong lòng khán giả.
Những thập niên gần đây, lân An Thái ít biểu diễn dần, phần vì không có kinh phí, thiếu nguồn hỗ trợ, phần vì lượng người tham gia đoàn lân cũng vơi dần, nhiều “lân sĩ” tứ tán khắp nơi mưu sinh, khó tập hợp. Tôi nhớ đến hình ảnh ông Bảy Hương nhiều năm trước, mắt buồn rười rượi, ông nhìn chiếc đầu lân mà các cháu con mua từ Thành phố Hồ Chí Minh về mà trầm ngâm... Tôi có cảm giác rằng, lân còn đó nhưng hồn lân xưa đã khác đi nhiều. Số ít những người trong đội lân An Thái còn lại muốn giữ nghề và phát triển nhưng thật khó. Càng ngẫm, càng xót…
Trước đây, lễ hội Đổ giàn được tổ chức vào trung tuần tháng 7 âm lịch những năm Tỵ - Dậu - Sửu, đã trở thành một trong những lễ hội đặc sắc của miền đất võ Bình Định nói chung và An Nhơn nói riêng. Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn về nhiều mặt, Lễ hội Đỗ giàn An Thái đã dừng tổ chức từ năm 2006 đến nay. Tiếng lân cũng dần im bặt theo những mai một…
Sự quan tâm khôi phục Lễ hội Đổ giàn An Thái có vai trò rất quan trọng, với ý nghĩa giữ gìn truyền thống thượng võ của người An Nhơn, là cơ sở để tiến hành bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội, duy trì tổ chức theo định kỳ gắn với phát triển du lịch địa phương, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và vui chơi giải trí của Nhân dân. Tại Tọa đàm “Khôi phục Lễ hội Đổ giàn An Thái" này, tôi chỉ muốn nhắc đến một khía cạnh nhỏ nhưng theo tôi là cần thiết trong việc phục dựng Lễ hội Đổ giàn, đó là sự cần thiết tái lập lại đội lân võ An Thái để phục vụ trình thức lễ hội, tạo tính đồng bộ và điểm nhấn của một vùng đất giàu tinh thần võ học./.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét