Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

Trưởng lão Chánh Giác - Đệ nhị tổ Phật giáo Khất sĩ : Gương hạnh tu tập (Nhà nghiên cứu trẻ Vĩnh Thông)

Không như Đức Tổ sư Minh Đăng Quang để lại bộ tác phẩm Chơn lý đồ sộ gồm 69 quyển, Đức Nhị tổ Giác Chánh không để lại tác phẩm nào. Tuy vậy đối với hàng môn đồ, cuộc đời tu hành bình dị mà thanh cao của ngài là bài pháp không lời. Từ ngày xuất gia, rồi nhận lãnh trách nhiệm đối với giáo hội, đến ngày viên tịch, ngài luôn tinh tấn trong tu tập, nghiêm trì giới luật, đồng thời tích cực hoằng pháp độ sanh. Đó là tấm gương sáng ngời lưu lại cho Tăng Ni và cư sĩ Phật giáo Khất Sĩ.

Trong buổi đầu xuất gia nhập đạo, Tỳ-kheo Giác Chánh luôn gần gũi Sư trưởng Minh Đăng Quang, thọ học và hành trì những lời dạy của thầy. Ngài là mẫu mực cho hình ảnh nhà sư Khất sĩ với ba y, một bát, đời sống thanh bần, Phạm hạnh thanh tịnh. Mặt khác, ngài cũng nỗ lực dấn thân vào sự nghiệp hoằng truyền giáo pháp, tham gia Đoàn Du tăng Khất sĩ đi hành đạo ở nhiều tỉnh thành tại Nam Bộ.

Đến khi Sư trưởng vắng bóng, Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ như lâm vào cơn khủng hoảng sống còn. Không ít người phỏng đoán rằng, hội chúng nầy sẽ tan rã trong nay mai. Thế nhưng, điều đó không xảy ra. Trái lại, giáo hội vẫn tồn tại bền vững và phát triển mạnh mẽ. Người có công đầu trong gìn giữ giềng mối của dòng truyền thừa là Đức Nhị tổ. [8] Chẳng những vậy, ngài còn hướng dẫn Đoàn Du tăng đưa giáo pháp Khất Sĩ ra miền Trung, thực hiện hoài bão mà Đức Tổ sư từng ấp ủ nhưng chưa hoàn thành.

Thập niên 1960, nói về sự phát triển của nền Phật giáo Khất Sĩ, tác giả Huỳnh Minh cho biết: Từ ngày vị giáo lãnh Minh Đăng Quang vắng bóng, đạo của Ngài càng ngày càng phát triển khắp nơi. Từ Cà Mau đến Bến Hải, từ đồng bằng đến rừng núi xa xôi hẻo lánh, đâu đâu cũng có tịnh xá mọc lên, bóng nhà sư áo vàng xuất hiện khắp vạn nẻo đường gieo duyên với tất cả mọi người. Tuy gặp lắm hoàn cảnh gay go và thử thách, nhưng các môn đệ không thối chí ngã lòng, quyết khêu ngọn đèn chơn lý bừng tỏ để sáng danh thầy tổ, cho đời thấy rằng chơn lý bao giờ cũng là chơn lý, không sức mạnh nào dập tắt được. [9]

Trong vòng hai thập kỷ, nếu Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam có trên 20 tịnh xá và hơn 100 Tăng Ni vào năm 1954, thì hai con số tương ứng vào năm 1975 là khoảng 250 ngôi và 500 vị. Qua những con số nêu trên, có thể nhận thấy toàn thể Tăng Ni hệ phái đã đồng tâm hiệp lực hoằng truyền giáo pháp, kế tục xứng đáng sự nghiệp của Đức Tổ sư. Để có được những thành tựu vẻ vang đó, chắc hẳn không thể thiếu vai trò lãnh đạo quan trọng của Đức Nhị tổ.

Trong điều hành giáo hội, Đức Nhị tổ thực hành nguyên tắc “bình đẳng vô trị” của Đức Tổ sư. Dù giữ quyền chưởng quản, nhưng ngài không sử dụng quyền lực để trị phạt cá nhân nào, mà mọi sự việc được dựa vào giới luật để giải quyết. Đó cũng là nguyên tắc được Tăng đoàn Phật giáo đã áp dụng xuyên suốt hơn hai ngàn năm, mà Tôn giả Ānanda ngày xưa từng khẳng định: “Không phải các Tôn giả xử sự chúng tôi, chính Pháp xử sự chúng tôi.” [10]

Trong đời sống tu tập cá nhân, Đức Nhị tổ luôn giữ gìn thân - khẩu - ý thanh tịnh, thực hành trang nghiêm giới luật Tỳ-kheo, đặc biệt là Tứ y pháp Trung đạo - nền tảng về Pháp hành của Phật giáo Khất Sĩ. Ngài duy trì hạnh trì bình khất thực mỗi ngày, từ lúc mới xuất gia đến khi tuổi cao sức yếu. Nơi ở của ngài trong thời gian dài hành đạo ở Bạc Liêu là cốc nhỏ được cất sơ sài với vách ván, mái lá, giữa khu vườn của người địa phương. Bộ y mà ngài đắp lên người được sử dụng nhiều chục năm không thay đổi, rách tới đâu thì vá tới đó.

Năm 2008, Hòa thượng Thích Trí Quảng (hiện nay là Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam) từng ca ngợi đức hạnh nầy: “Trong hiện đời, tôi đã gặp Thiền sư Giác Chánh cũng không nằm (ngài đã viên tịch), không cần ngủ nghỉ. Nếu là người chưa biết tu, phải ngủ ở chỗ sang trọng, trong khi Thiền sư Giác Chánh rất đặc biệt, không bao giờ ngài ở phòng ốc cao sang, thường ở dưới gốc cây, hay ở trong túp lều lá.” [11]

Ngài chuyên tu tập thiền định ở nơi am cốc, dưới cội cây, trong vườn vắng… như lời Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Này các Tỷ-kheo, hãy thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau.” [12] Bởi thân tâm luôn tập trung cho giáo pháp, không mảy may xao động việc thế gian, nên ngài luôn an nhiên, tự tại, nhẹ nhàng.

Ngài cũng giữ hạnh ít nói, khi thuyết pháp thì ôn lại những lời dạy trong kinh điển, còn không thì im lặng. Bởi, Đức Thế Tôn dạy: “Này các Tỷ-kheo, khi các người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.” [13] Đặc biệt, ngài có bộ nhớ tốt, thuộc nhiều quyển trong Chơn lý mà bản thân tâm đắc, thường trùng tuyên cho đại chúng trong những ngày cúng Hội tại các tịnh xá.

Trong giáo hóa hàng hậu học, ngài luôn khích lệ Tăng Ni tinh tấn thực tập thiền định, giữ gìn giới luật thanh tịnh, nhứt là oai nghi của người xuất gia. Nhiều Tỳ-kheo là đệ tử trực tiếp hoặc ít nhiều gắn bó và nhận được sự hướng dẫn của ngài trong khoảng thời gian nhứt định, về sau trở thành những thạch trụ của Tăng-già Khất Sĩ như chư Hòa thượng Giác Nhiên, Giác Lý, Giác Nhu, Giác Huệ, Giác Đức, Giác Trang, Giác Tường, Giác Nhường, Giác Giới, Giác Khang…

Có thể nói, Đức Nhị tổ Giác Chánh tuy không phải đệ tử đầu tiên, nhưng lại là đệ tử ưu tú nhứt của Đức Sơ tổ Minh Đăng Quang. Qua tìm hiểu về gương hạnh của ngài, chúng ta không khó để hiểu vì sao ngài được trao truyền sứ mạng thiêng liêng là người lãnh đạo Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ. Bởi lẽ, nếu Đức Tổ sư từng thuyết minh về người Khất sĩ chuẩn mực, thì Đức Nhị tổ là hình mẫu tiêu biểu cho mô tả đó:

“Khất sĩ không ta, không của ta, chẳng tự cao chia rẽ, cùng tự xưng mình dạy người hơn ai bằng lời nói, hoặc chỗ ngồi cao, địa vị lớn. Khất sĩ thường lặng thinh và không tranh luận, gọi mình là trò với tất cả. Khi có ai hỏi đến thì chỉ nói chỗ mà mình đang tu hành chút ít thôi. Khất sĩ giữ giới thanh tịnh, tập cấm khẩu và tu thiền định, không làm mích bụng người, gìn thiện cảm với tất cả. Khất sĩ không tự gọi là dạy ai hết, và cũng không trị ai hết, vì tất cả chúng sanh là như nhau có một.” [14]

(Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 187, 2024)
_______________
CHÚ THÍCH:
8. Thích Minh Thành (2023), “Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam và bốn tinh thần tiêu biểu trước khi hòa nhập vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Phật giáo, số 390, tr. 38-39.
9. Huỳnh Minh (1967), Sđd, tr. 291-292.
10. Kinh Trung bộ (2012), Tập II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 333-334.
11. Thích Trí Quảng (2008), “Thực tập nhẫn nhục”, Báo Giác ngộ điện tử, 11/12/2008.
12. Kinh Tăng chi bộ (2015), Tập II, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 469.
13. Kinh Trung bộ (2012), Tập I, Thích Minh Châu dịch, Nxb Tôn giáo, tr. 212.
14. Tổ sư Minh Đăng Quang (2016), Sđd, tr. 731.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...