Chế độ quân chủ nước ta, kể từ khi Ngô Quyền giành độc lập cho đến năm 1945 cũng đã ngót nghét nghìn năm. Trong khoảng thời gian đó, việc cai trị hầu hết đều dựa vào tầng lớp nhân sĩ trí thức, phần lớn trong số họ đều xuất thân từ khoa cử. Tùy theo từng triều đại mà việc tiến hành lựa chọn nhân tài ra giúp nước được tiến hành theo những cách khác nhau.
Nhưng tựu trung, đều phải trải qua các kỳ thi để tuyển những người có học hành, năng lực vượt trội ra cáng đáng việc quốc gia.
Không rõ triều Đinh và Tiền Lê có tổ chức các khoa thi hay không, nhưng đến đời Lý đã có các khoa thi để chọn người tài. Vào năm Ất Mão, niên hiệu Thái Ninh thứ tư đời Lý Nhân Tông (1076), mở khoa thi có tên "Minh kinh bác học" (thông hiểu kinh sách) chọn người cho vào học ở nhà Thị học (tương tự như Quốc Tử Giám). Sau đó, mở khoa thi văn học lấy người sung vào Hàn Lâm viện.
Đầu năm Kiến Trung (1226) đời Trần Thái Tông mở khoa thi Thái Học Sinh, lấy những người đỗ phân ra thành Tam giáp. Đến năm Bính Ngọ (1246) định lệ mở các khoa thi lớn để lấy chọn học trò. Năm Đinh Tị (1247) mở đại khoa. Từ đây bắt đầu ban danh hiệu Tam khôi, người đứng đầu là Trạng nguyên, rồi đến Bảng nhãn và cuối cùng là Thám hoa. Những người đạt danh hiệu đầu tiên của khoa thi này là Trạng nguyên Nguyễn Hiền (đỗ lúc mới 13 tuổi), Bảng nhãn Lê Văn Hưu (17 tuổi) và Thám hoa Đặng Ma La (cũng mới chỉ 14 tuổi).
Năm Bính Thìn, Hưng Long (1304) ngoài Tam khôi, còn có thêm danh hiệu mới là Hoàng giáp dành cho những người đỗ sau Tam khôi.
Năm Giáp Thìn niên hiệu Long Khánh đời Trần có ban thêm danh hiệu, ngoài Tam khôi, và Hoàng giáp (lúc này có thêm từ cập đệ) còn có Đồng cập đệ xuất thân.
Năm Quý Tị, Quang Thuận thứ 3 đời Lê, vua Lê Tư Thành thay đổi lệ thi cử, đặt lại các danh hiệu, gọi chung là tam giáp Tiến sĩ. Gồm có Tiến sĩ đệ nhất giáp cập đệ đệ nhất danh, đệ nhị danh, đệ tam danh thay cho Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa trước đây. Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân thay cho Hoàng giáp và Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thay cho Đồng cập đệ xuất thân. Bậc Đệ nhất giáp vẫn gọi là Tam khôi, Đệ nhị giáp gọi là Hoàng giáp, Đệ tam giáp gọi chung là Tiến sĩ. Và tên gọi ấy được tiếp tục sử dụng cho đến khi kết thúc lối thi cử từ chương kiểu cũ năm 1918.
Triều Nguyễn thời Gia long chỉ tổ chức thi Hương. Lệ thi chia làm tứ trường, đỗ tam trường gọi là Sinh đồ, đỗ tứ trường gọi là Hương cống. Người đỗ Hương cống cũng được ban áo mũ, dự tiệc mừng và được bổ làm Tri huyện.
Đến năm Tân tỵ, Minh mạng thứ 2 bắt đầu mở Ân khoa thi Hương. Năm Nhâm ngọ, Minh mạng thứ 3 mở Ân khoa thi Hội, thi Tiến sĩ Triều Nguyễn bắt đầu từ đó. Những người đỗ Tiến sĩ thời này đều được bổ làm Tri phủ, đỗ Hương cống được sung vào Lục bộ làm Hành tẩu (chạy văn thư, giấy tờ).
Cũng năm này đổi gọi Hương cống là Cử nhân, Sinh đồ là Tú tài.
Về thể lệ thi cử, các trấn lớn mở kỳ thi địa phương, gọi là thi Hương. Mỗi kỳ thi được chia làm 4 vòng gọi là tứ trường, mỗi vòng có một đề thi riêng không hề giống nhau. Ai đỗ vòng đầu mới được vào vòng kế tiếp, người đỗ cả 4 trường nhận được danh hiệu là Hương cống, dân gian gọi là Cống sĩ, được tham gia kỳ thi quốc gia vào năm sau hoặc không có điều kiện học để thi tiếp cũng được bổ một chức quan nhỏ ở huyện. Người chỉ đỗ Tam trường gọi là Sinh đồ, không muốn tiếp tục dùi mài kinh sử để thi nữa thì về nhà dạy học hoặc làm các chân thư ký ở xã, do đó những người này được gọi là thầy đồ.
Những Cống sĩ đỗ năm trước năm sau phải lội bộ về Kinh đô để thi Hội. Thể lệ thi Hôi không khác thi Hương nhưng đề ra khó hơn, quy định ngặt nghèo hơn. Kỳ thi này chỉ có đỗ và hỏng chứ chưa có xếp hạng. Những người đỗ vào thi điện để xếp hạng Tiến sĩ. Kỳ thi này được đích thân vua làm chánh chủ khảo, ra đề thi. Thường đề thi phần này hỏi về các vấn đề xã hội, thuật trị nước ... chứ không hỏi về văn sách như các kỳ thi trước.
Tất nhiên trong trường thứ tư của các kỳ thi Hương và thi Hội cũng có phần thi lý luận gọi là sách vấn, nhưng câu hỏi đề chỉ chung chung, lấy trong sách để liên hệ thực tế chứ thí sinh không phải trổ tài hùng biện như kỳ thi Đình. Thi xong, nhà vua bàn bạc với các giám khảo để xếp hạng Tiến sĩ, sau đó ban áo mũ, biển lọng để vinh quy bái tổ.
Các giám sinh học ở Quốc tử giám thường được sát hạch định kỳ mỗi năm một lần, ai đỗ cho học tiếp, ai liệt phải về làm ruộng. Sau mỗi 3 năm có cuộc sát hạch lớn, qua được kỳ này được gọi là "khiêu trúng", chờ "hậu bổ" chức Tri huyện. Trường hợp này cũng không kém phần vẻ vang, mặc dù không đỗ kỳ thi Hôi để được vào thi Đình xếp hạng Tiến sĩ nhưng vẫn được dân gian gọi là "ông Nghè". Trong các văn bản hành chính, khi bổ quan người ta dùng các từ "Giám sinh xuất thân".
Ngoài các kỳ thi theo lệ gọi là Chế khoa thì triều đình còn tổ chức những kì thi nhân những dịp đại khánh tiết. Những kì thi này được gọi là Ân khoa.
Nhà Lê trải 400 năm, mở rất nhiều khoa thi kén chọn người tài giỏi, trong đó có 4 người từ thi Hương đến thi Đình đều đứng đầu bảng. Đó là Phạm Đôn Lễ, Vũ Dương, Nguyễn Đăng và Lê Quý Đôn.
Cha con đậu cùng khoa có 4 người, đặc biệt có nhà cha con ông cháu kế tiếp nhau thi đỗ đến 10 người. Và tất cả đều được ra làm quan. Có người đến chức Thượng thư.
Khi đã đi thi, học trò ai cũng mong ước thi đỗ. Nhưng vào thời Lê, khi mới ban danh hiệu Tam giáp Tiến sĩ thì nhiều người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân lại từ chối không nhận, về học lại để kỳ sau thi tiếp. Không ít người thi lại đỗ được Tam khôi hoặc Hoàng giáp, một số khác vẫn đỗ Đệ tam giáp nên cũng đành phải nhận.
Nguyên nhân của chuyện này, theo Trương Quốc Dụng (Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân thời Thiệu Trị) là do lệ triều đình ban áo mũ cho Tiến sĩ, những người đỗ đệ nhất nhị giáp nhận mũ "phốc đầu lưỡng cân", hai bên có hai cái tai. Đỗ đệ tam giáp cũng cái mũ ấy nhưng không có tai, chỉ phía sau có 2 cái dải, loại mũ này ngày nay thường thấy các anh Tư văn trong các lễ làng hay đội. Học trò bấy giờ chế nhạo nhau có câu "dốt có đuôi", có ý chê ông "Đồng Tiến sĩ" cho nên người đỗ đệ tam giáp thường từ chối không nhận. Vua Thánh Tông nghe thấy liền cho bỏ cái mũ ấy. Lại còn có lệ bắt ông đứng cuối bảng phải dắt ngựa cho ông Trạng nguyên khi đi du nhai. Sau đó có người uất quá, đập đầu vô cửa điện mà chết nên cũng bỏ luôn.
Xin nói qua về một vài danh xưng trong thi cử mà hiện nay vẫn còn được dùng.
Ngày xưa, các triều đại Trung Quốc cổ đại chưa có khái niệm thi cử. Vị quân chủ chọn người ra giúp nước thông qua để cử hoặc ứng cử nên mới gọi những người này là Cử nhân. Những người được cử (cử nhân) thường có những đức tính quan trọng được ưa chuộng thời đó, họ là những người con hiếu thảo và trong sạch, cho nên những người này được mang danh là Hiếu liêm.
Thứ đến là những người có tài năng, giỏi giang quán xuyến, được gọi là Tú tài tức là người tài giỏi. Những người có hiếu thảo, nhiều tài năng ở các địa phương được quan báo lên, đồng thời tiến cống vào triều đình để phó tá nên mới có danh hiệu là Hương cống.
Thời bấy giờ đánh giá đức hạnh trên tài năng nên Hiếu liêm luôn xếp trên Tú tài. Đến khi xã hội phát triển, kiến thức trở nên quan trọng, việc tuyển chọn người tài (cử nhân) bắt đầu được quy định bằng việc thi cử, những người đỗ đạt được mang danh hiệu Hiếu liêm, Cử nhân, Hương cống hay Tú tài. Những tên gọi đó sau 5000 năm vẫn còn được sử dụng nhưng không ít người đã quên mất ý nghĩa của nó.
Nhiều người cho rằng do điều lệ thi cử thời phong kiến quá khắt khe, những người có tài năng nhưng không câu nệ lề lối khi đi thi thường hay phạm trường qui và bị đánh hỏng, có khi còn bị bắt tội. Điều này không đúng.
Trong việc tổ chức thi cử, các kỳ thi thường được chia ra làm 4 phần như đã nói trên, thì sinh đỗ trường trước mới được vào thi trường sau. Ba trường đầu, đề thi thuần túy chỉ là thơ phú, kinh nghĩa. Ta có thể thấy nhiều ông Đồ, ông Tú rất hay chữ, như Cao Bá Quát, Trần Tế Xương ... nhưng thi mãi vẫn không qua được tứ trường, chồng chất Tú đụp, Tú mền, Tú ... Tú mãi mà không thấy Tài.
Ngoài thể lệ thi cử khắt khe ra thì còn có một nguyên nhân khác nữa, điều này chắc chắn đến từ các ông Đồ, ông Tú. Bởi vì luật lệ khắt khe thì ai cũng phải chịu như nhau, chỉ có những người chưa đủ chính chắn, bộp chộp mới phạm phải trường quy. Có tài văn học, thông làu kinh sử không thôi thì chưa đủ, vì các kỳ thi tứ trường không liên quan việc trong bụng có bao nhiêu chữ. Câu hỏi của kỳ thi này đòi hỏi thí sinh phải liên hệ kinh sách với thực tế cuộc sống, thời cuộc. Chỉ có những người nào đủ tài thao lược, có năng lực chính trị, nêu đối sách sắc sảo mới qua được kỳ thi này, còn không thì chịu khó mang danh ông Đồ, ông Tú suốt đời.
Các triều đại quân chủ nước ta tuyển "công chức" cho bộ máy bằng việc thi cử, với lối học từ chương và kiến thức lạc hậu. Nhưng khi ra làm quan các vị ấy đều là những nhà chính trị ưu tú, những nhà kinh tế tài ba và những nhà quân sự kiệt xuất. Có lẽ nhờ vào điều mà họ được học nhiều nhất, đó là sự LIÊM SỈ.
Nguồn: facebook tác giả

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét