Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

Lã Nguyên - Tia lửa điện thắp lên khát vọng nghiên cứu văn chương (PGS.TS. Phùng Gia Thế)

Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lã Nguyên tên thật là La Khắc Hòa, sinh năm 1947 tại Đông Sơn, Thanh Hóa. Tốt nghiệp khoa Văn Trường ĐHSP Vinh (nay là Đại học Vinh) năm 1968. Giảng viên Trường ĐHSP Vinh từ năm 1968 đến 1972. Bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Leningrad (Liên bang Nga) năm 1982. Nhận học hàm PGS năm 1992. Giảng dạy tại ĐHSP Hà Nội từ năm 1972 cho đến khi nghỉ hưu năm 2012.

Các công trình chính: Lev Tolstoi, Đường sống - Văn thư nghị luận chọn lọc (dịch chung), Nxb Tri thức, 2010; Lí luận văn học - Những vấn đề hiện đại (tuyển dịch, Nxb. Đại học Sư phạm, 2012; tái bản 2017); Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại (chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015); Kí hiệu học văn hóa (dịch chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015); Tự sự học - Lí thuyết và ứng dụng (viết chung, Nxb. Giáo dục, 2018); Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học (nghiên cứu, Nxb. Phụ nữ, 2018); Phê bình kí hiệu học - Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ (chuyên luận, Nxb. Phụ nữ, 2019); Việt Nam - một thế kỉ tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài (chủ biên, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020); Nguyễn Duy - nhà thơ hiện đại Việt Nam (thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (chuyên khảo, Nxb. Khoa học xã hội, 2021)…
* *
*
​Lã Nguyên là nhà giáo, nhà nghiên cứu phê bình có lối đi riêng vào thế giới văn học nghệ thuật. Thời kì đầu lập nghiệp, ông chủ yếu dạy học, phần phải lo sinh kế, phần do tích lũy kiến thức nên ông viết không nhiều. Nhưng cũng ngay từ đấy, những bài giảng độc đáo, sinh động, sôi nổi của ông tỏ ra có sức sống lâu bền trong kí ức học đường của nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Lã Nguyên cuốn hút bởi ông luôn chọn nói điều chưa nghe, giới thiệu vấn đề chưa gặp. Có người ví bài giảng của Lã Nguyên như tia lửa điện, luôn chực làm bén lên trong người nghe khát vọng nghiên cứu văn chương. Vào đầu những năm 1980, Lã Nguyên bắt đầu viết giáo trình đại học và tiểu luận phê bình văn học. Tuy nhiên, con đường học thuật của ông chỉ thực sự nảy nở vào những năm đầu “Đổi mới” và kết tinh xuất sắc khoảng hơn mười năm trở lại đây.

Có thể chia nghiên cứu, phê bình văn học của Lã Nguyên thành hai mảng: một là việc tiếp nhận/giới thiệu các lí thuyết văn học nước ngoài và hai là nghiên cứu - phê bình văn học Việt Nam hiện đại.

Thứ nhất, về việc tiếp nhận/giới thiệu các lí thuyết văn học nước ngoài. Bằng trải nghiệm cá nhân, Lã Nguyên hiểu rằng, nền lí luận của chúng ta còn rất nhiều khoảng trống. Ở đây, có lí do lịch sử, có lí do cá nhân, có sự chi phối của hệ hình tri thức và diễn ngôn thời đại. Đặt vào bối cảnh ấy, có thể thấy Lã Nguyên là nhà phê bình kĩ tính trong lựa chọn. Ông chọn đọc, chọn viết, chọn in. Tiếp cận các lí thuyết mới, Lã Nguyên không ham nhiều, mà chủ yếu truy tìm cái tinh hoa, năng sản, hiện đại, đặc biệt là những thứ có tiềm năng ứng dụng trong nghiên cứu, giải mã các vấn đề văn học Việt Nam đương đại. “Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học” (chuyên luận), “Lí luận văn học Nga hậu Xô viết” (chuyên luận), “Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại” (chủ biên), “Lí luận văn học - Những vấn đề hiện đại” (tuyển dịch)… là các công trình tiêu biểu trong số đó.

“Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học” (570 trang) là một “khảo cổ học” công phu, dày dặn nhưng thoáng rõ về những thăng trầm trồi sụt của lí thuyết văn chương hiện đại. Sách gồm ba phần: 1) Lí luận văn học Nga hậu Xô viết; 2) Lí thuyết phương Tây trên quê hương Việt thời mở cửa; 3) Lí luận văn nghệ Việt Nam - lịch sử và thời sự. Về lí luận văn học Nga hậu Xô viết, Lã Nguyên quan tâm nghiên cứu nền lí luận Xô viết chính thống (chủ yếu là những nốt trầm); tư tưởng triết học và lí luận văn học của M. Bakhtin; Tiến hóa luận của trường phái hình thức Nga và Di truyền luận của O. Freidenberg; Y.M. Lotman và trường phái kí hiệu học Tartus-Moskva; Tự sự học ứng dụng Nga; sự tiếp nhận các học phái Âu - Mĩ và sự “hồi hương” của lí luận văn học hải ngoại; M.B. Khrapchenko và G.N. Pospelov trong lịch sử tiếp nhận tư tưởng ở Việt Nam… 

Điều này cho thấy, là người am tường lí luận văn học Nga, song Lã Nguyên chủ yếu quan tâm đến những khu vực và thời đoạn đặc biệt của nó: những bước thăng trầm, sự phục sinh các giá trị bị khuất lấp, sự lên ngôi của khu vực ngoại biên. Từ bài học lí luận văn học Nga hậu Xô viết, Lã Nguyên trở về với câu chuyện lí thuyết phương Tây trên quê hương Việt. Ở đây, bằng việc phác dựng sinh động bức tranh tiếp nhận mĩ học và lí thuyết văn học nhân loại thế kỉ XX (các bình diện lịch sử chi phối việc tiếp nhận tư tưởng văn nghệ; những ưu tiên lựa chọn của một thế kỉ tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài; sự tiếp nhận mĩ học cổ điển phương Đông và phương Tây từ sau 1986; mĩ học mác-xít phương Tây trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam; sự tiếp nhận các lí thuyết văn nghệ phương Tây hiện đại từ sau 1986 với những phương pháp, hệ hình tư duy mới), nhà nghiên cứu ghi nhận sự mở thoáng của không gian lí thuyết đương đại sau những “bước chuyển” vốn dĩ chẳng dễ dàng. 

Điều có ý nghĩa ở đây là, qua câu chuyện lịch sử sống động, Lã Nguyên đã cung cấp một tham chiếu về bài học lựa chọn và ứng xử đối với lí thuyết trong một không gian văn học đặc thù như chúng ta. Hóa ra, cái bị phê phán ở thời kì này lại có thể đâm chồi nảy lộc ở thời kì sau. Ngược lại, cái được xem là điển phạm một thời vị tất đã có ý nghĩa gì khi hệ hình thay đổi. “Cuốn sách giới thiệu nhiều lí thuyết văn học, nhưng tác giả hi vọng, lần theo lô-gic nội tại của nó, độc giả không chỉ làm quen các lí thuyết ấy, mà còn nhìn thấy số phận lịch sử của chúng, thấy nhiều lí thuyết đã đến với chúng ta, thấy không ít lí thuyết đã bỏ ta mà ra đi, thấy chúng đến hay đi đều chẳng dễ dàng gì...”(1). Qua Lã Nguyên, lịch sử lí thuyết cho thấy nó cũng thăng trầm trồi sụt không kém gì lịch sử sáng tác, vì lí thuyết văn học, không bao giờ đơn thuần là tư duy về văn học, mà suy đến cùng, nó cũng là tư tưởng hệ.

Lã Nguyên dành nhiều thời gian và công sức nghiên cứu quá trình tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài trong văn học Việt Nam hiện đại. Tiếp nối với “Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học”, ông và cộng sự xuất bản hai công trình công phu về chủ đề này: “Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại” (2015) và “Việt Nam, một thế kỉ tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài” (2020)(2).

Thực tiễn cho thấy, tư tưởng văn nghệ là nền tảng của mọi hoạt động văn nghệ, hạt nhân tư tưởng văn nghệ là mĩ học và các lí thuyết nghệ thuật. Nước ta không có truyền thống lí luận quá phong phú, cho nên, trên một ý nghĩa nào đó, có thể xem lịch sử lí luận cũng là lịch sử tiếp nhận lí luận. Tiếp nhận lí luận ở đây, theo Lã Nguyên, luôn là câu chuyện lựa chọn. Từ đầu thế kỉ XX đến 1945, chúng ta có hai lựa chọn lớn: mĩ học hiện đại phương Tây (đặc biệt là mĩ học Pháp) và mĩ học mác-xít. 

Từ năm 1945-1986, trên cơ sở quan điểm chính thống, những nguyên tắc lớn trong tiếp nhận tư tưởng văn nghệ cơ bản được duy trì. Giai đoạn 1945-1975, ở miền Bắc chỉ có một lựa chọn duy nhất: văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa và mĩ học Xô viết chính thống, trong khi ở miền Nam có năm lựa chọn chính: Chủ nghĩa hiện sinh, Phân tâm học, Chủ nghĩa cấu trúc, Lí thuyết tiếp nhận và Tâm lí học nghệ thuật, Chủ nghĩa Mác. Từ năm 1986 đến nay xuất hiện hàng loạt dấu ấn tư tưởng văn nghệ nước ngoài trong văn học Việt Nam trên nhiều bình diện. Lã Nguyên cho rằng, ngày nay biên độ tiếp nhận và lựa chọn dường như được mở ra với toàn bộ tinh hoa nhân loại tuy vẫn có sự phân biệt giữa khu vực chính thống và phi chính thống, giữa trung tâm và ngoại biên, giữa cái cốt lõi tư tưởng hệ và cái bổ trợ.

Quan sát kĩ con đường hiện đại hóa của lí luận Việt Nam, Lã Nguyên nhận thấy một quá trình mở rộng hệ quy chiếu, giải phóng lí luận văn học thoát khỏi tính quy phạm và ý thức vụ lợi của một nền văn học chức năng. Dành sự quan tâm thỏa đáng đến hệ mĩ học mác-xít ở Việt Nam, ông đề xuất ý kiến để lí luận mác-xít vẫn là nhân tố kiến tạo lí thuyết. Bàn về những vấn đề thời sự của lí luận văn nghệ Việt Nam, Lã Nguyên nêu những nguyên tắc thay đổi khung tri thức (khung truyền thống, khung hiện đại và khung hậu hiện đại) và mô hình kiến tạo lí thuyết (đơn trị và đa bội), xem đây là bước đi tất yếu để nhịp bước cùng tiến trình tư duy nhân loại. Theo nhà nghiên cứu, thực tế ở ta, phê bình văn học trở nên già cỗi là ở chỗ, các nhà phê bình cố thủ trong các khung tri thức và mô hình truyền thống. Ông khẳng định, “đã đến lúc cần đổi mới khung tri thức và mô hình lí thuyết của các ngành nhân văn học nói chung, ngữ văn học nói riêng. Đổi mới mô hình lí thuyết và khung tri thức là nhu cầu bức thiết và là cơ sở để nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học”(3).

Trong hình dung của Lã Nguyên, tất cả các lí thuyết văn nghệ khi vào Việt Nam, bằng cách này hay khác, đều được “nhào nặn” cho phù hợp, hoàn toàn không phải sự bắt chước thô thiển, giản đơn. Trước hết, chúng được biểu đạt bằng hệ thống phạm trù, khái niệm của tiếng Việt. Thứ hai, chúng không ngừng được tiếp nhận lại. Chẳng hạn, mĩ học lãng mạn phương Tây được tiếp nhận đầu thế kỉ XX, bị chối bỏ ở giai đoạn 1945-1985, từ sau 1986, trên một tầm mức và tâm thế khác, lại được tái khẳng định. Việc tiếp nhận mĩ học mác-xít chính thống từ Liên Xô và Trung Quốc trước kia, nay cũng được bổ khuyết các vấn đề, nội dung mới trên tinh thần đổi mới.

Nghiên cứu lịch sử tiếp nhận, các công trình của Lã Nguyên và cộng sự đã thực hiện thành công một mục tiêu kép: mô tả khách quan lịch sử tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam và đúc rút các bài học lịch sử từ quá trình tiếp nhận đó ngõ hầu gợi ý cho việc hoạch định chiến lược phát triển lí luận văn học trong bối cảnh đương đại. Lã Nguyên chủ ý đặt vấn đề nghiên cứu “tiếp nhận”, không trọng tâm vào “ảnh hưởng”. Điều này có nghĩa, ông quan tâm đến hoạt động lựa chọn có chủ ý, có ý thức của chủ thể, và đương nhiên, đi kèm với nó là “tiếp biến”. Ông khẳng định, “từ đầu thế kỉ XX, tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ hiện đại từ nước ngoài để xây dựng một nền văn nghệ hiện đại và nền khoa học hiện đại về văn nghệ là ưu tiên lựa chọn hàng đầu của Việt Nam. 

Tuy nhiên, trước 1986, Việt Nam tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài trong bối cảnh chiến tranh và đối lập ý thức hệ. Sau 1986, Việt Nam tiếp nhận các tư tưởng văn nghệ nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa và bản thân Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào các quan hệ quốc tế (…). Trước 1986, các tư tưởng văn nghệ được tiếp nhận ở Việt Nam theo nguyên tắc thắt chặt, thu hẹp qua hàng rào của mặt trận tư tưởng hệ. Sau 1986, các tư tưởng văn nghệ nước ngoài được tiếp nhận ở Viêt Nam theo nguyên tắc nới lỏng, mở rộng các biên độ giá trị nối liền Việt Nam với văn hóa nhân loại”(4). 

Về chủ đề này, trong một tiểu luận khác, ông nhấn mạnh: “Việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ 1986 đến nay dẫn tới hai hệ quả trực tiếp. Thứ nhất: Nó góp phần làm thay đổi hệ hình tri thức và nguyên tắc kiến tạo lí thuyết của lí luận văn nghệ Việt Nam. Thứ hai: Nó tạo ra nhiều đột phá trong việc tìm kiếm các hướng tiếp cận hiệu quả, mang tính cách tân đối với thực tiễn sáng tác văn nghệ. Nói cách khác, việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam đã thực sự tạo nên sự tiếp biến. Ngành nghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật ở nước ta đã gặt hái được nhiều thành công đáng khích lệ trong việc biến tri thức hiện đại thành phương pháp luận khoa học”(5).

Trong nghiên cứu, giới thiệu lí luận văn học nước ngoài, không thể không nói tới mảng dịch thuật của Lã Nguyên. Nguyên tắc dịch của ông vẫn là câu chuyện “tìm chọn” đầy ý thức. Có thể nói, từ/nhờ dịch thuật, Lã Nguyên truy cầu cái mới ngõ hầu thay đổi bản thân, và trên cơ sở đó, thay đổi cách chúng ta tư duy về văn học. Trên cơ sở nguồn tài liệu tiếng Nga phong phú (đôi chỗ từ nguồn tiếng Pháp), ông ưu tiên chọn dịch Bakhtin, xem đây là tiêu điểm hàng đầu. Có thể kể đến một số bản dịch quan trọng của Lã Nguyên liên quan đến nhà bác học này như “Vấn đề thể loại lời nói” (M. Bakhtin), “Di sản Bakhtin” (Tz. Todorov), “Một nền thi pháp học sụp đổ” (J. Kristeva), “Lịch sử văn học như là sự sáng tác và nghiên cứu: trường hợp Bakhtin” (M.L. Gasparov)(6)...

Mảng dịch thuật thứ hai của Lã Nguyên là lí thuyết kí hiệu học. Lí thuyết kí hiệu học như một khu rừng. Lã Nguyên quan tâm chủ yếu đến trường phái Tartus-Moskva mà đại diện lớn nhất là Lotman. Cuốn Iu.M. Lotman - Kí hiệu học văn hóa dầy 600 trang, khổ lớn, chủ yếu do ông dịch, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu từ lâu đã được xếp vào hàng kinh điển, ví như Về kí hiệu quyển, Quan điểm hiện đại về khái niệm văn bản, Vấn đề loại hình văn bản, Biểu tượng - “Gien truyện kể”, Huyền thoại - tên gọi - văn hóa, Nguồn gốc truyện kể dưới sự soi sáng của loại hình học…(7). Ngoài ra, Lã Nguyên cũng dành thời gian dịch các bài quan trọng của R. Barthes (“Phê bình là gì?”, “Nhà văn và người viết”), Al.V. Mikhailov (“Về khái niệm thời đại văn học”), Tz. Todorov (“Vắng các thiên thần ta chịu được, nhưng thiếu những người khác, mình không sống nổi đâu”)…(8).

Thứ hai là những đóng góp trong nghiên cứu, phê bình văn học. Ngòi bút phê bình của Lã Nguyên vươn sang cả lĩnh vực mĩ thuật. Ông viết về mĩ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn trước 1986, về bộ tranh “Xác phàm” của Doãn Hoàng Lâm, về “tranh ngựa” của họa sĩ - điêu khắc gia Nguyễn Hồng Hưng và về phong cách nghệ thuật độc đáo của danh họa Thành Chương. Nhưng Lã Nguyên chủ yếu là nhà phê bình văn học. Tuy viết không nhiều, nhưng ông là một trong số những cây bút đánh dấu bước chuyển đổi của hệ hình phê bình văn học thời kì “đổi mới” sau 1986. Ai cũng thấy, ở ta, từ Hoài Thanh về sau, dường như không nhà phê nào không thấm nhuần quan niệm “văn tức là người”, “phong cách là toàn bộ con người” (“Le style, c’est tout l’homme”- Buffon). 

Cho nên, trước 1986, phê bình văn học Việt Nam thực chất là phê bình tác giả. Các nhà nghiên cứu phân tích tác phẩm của nhà văn chủ yếu là để rút ra những kết luận cần thiết về tác giả. Lã Nguyên không bỏ qua phạm trù tác giả, nhưng ông phân biệt các khái niệm tác giả tiểu sử, tác giả - người sáng tạo với khái niệm hình tượng tác giả. Trong quan niệm của ông, cả tác giả tiểu sử lẫn tác giả - người sáng tạo đều tồn tại bên ngoài văn bản nghệ thuật. Nhưng hình tượng tác giả chỉ tồn tại bên trong văn bản của tác phẩm và văn bản là đại diện duy nhất của nó. Cho nên, phê bình văn học của Lã Nguyên chủ yếu là phê bình văn bản. Ông phân tích văn bản trong sáng tác của nhiều nhà văn và của nhiều thời kì văn học. Mục đích nghiên cứu cuối cùng của ông khi phân tích văn bản là để rút ra những kết luận về lịch sử văn học trong tiến trình vận động của nó.

​Lã Nguyên có cách mô tả lịch sử văn học rất lạ. Chẳng hạn, có lần ông mô tả lịch sử văn học qua “tiếng nói” và “giọng nói” của nó ở các thời kì khác nhau. Có lẽ ông là người đầu tiên “nghe” được những tiếng nói và giọng nói “đặc thù” trong văn học Việt Nam sau 1945: tiếng nói rất to, tiếng thét, tiếng hát hùng tráng của văn học giai đoạn 1945-1975; tiếng nói to gắn với tiếng cười trào tiếu thể hiện khát vọng đổi mới xã hội trong văn học thế sự sau 1975; tiếng nói nhỏ, nói thầm trong không gian sinh hoạt hàng ngày… 

Từ những “tiếng nói” như thế, ông chăm chú nhìn lại “bước đi” và chỉ ra những “bước ngoặt” trong văn học Việt Nam đương đại: những dấu hiệu hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài; màu sắc “hậu hiện đại-tân cổ điển” trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; một hậu hiện đại thuần thành, một chủ thể khác, một cách viết khác, một tư duy khác trong sáng tác của Đặng Thân. Lã Nguyên cũng say mê truy tìm mã truyện của Ma Văn Kháng, những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh...

Vị trí văn học sử của hàng loạt cây bút văn xuôi khác cũng được Lã Nguyên xác định qua việc phân tích những cách tân nghệ thuật của họ như vậy. Chẳng hạn, ông chỉ ra sự đột phá trong truyện ngắn Nam Cao bởi nhà văn đã phá vỡ được tính “cố sự” (giải phóng sự kiện, biến cố ra khỏi chức năng tạo “gút”), từ đó “giải phóng truyện kể khỏi chức năng nghệ thuật truyền thống để mở rộng đến vô cùng khả năng phản ánh hiện thực của truyện ngắn, làm cho truyện ngắn không thua kém các hình thức tự sự khác trong việc thể hiện quá trình vận động của đời sống”(9). 

Trên cơ sở cho truyện kể là tổng thể các mô-típ được trình bày theo một trật tự nhất định, Lã Nguyên gọi Thạch Lam là “nhà văn của nội động từ” và Nguyễn Công Hoan là “nhà văn của ngoại động từ”. Nói thế là bởi, theo Lã Nguyên, truyện ngắn Thạch Lam được tổ chức trên cơ sở các sự kiện tâm tư, ngôn ngữ của ông là ngôn ngữ tinh tế của giác quan, cảm giác. Trái lại, sáng tác của Nguyễn Công Hoan lại đầy ắp các mô-típ truyện kể trào phúng, mà mỗi mô-típ là một hành động nên nó là cái tiềm tàng ở động từ. Cũng như thế, Lã Nguyên xem Nguyễn Tuân là “nhà văn của hình dung từ”. 

Theo ông, mọi sự độc đáo trong văn Nguyễn Tuân bắt nguồn từ hình tượng nghệ thuật, chứ không phải các mô-típ truyện kể hay yếu tố trò diễn. Mà hình tượng là sự vật, nhân vật được hình dung một cách cụ thể, cảm tính. Nguyễn Tuân kể chuyện “chẳng qua cũng là để mô tả. Chất liệu chủ yếu chủ yếu cần được sử dụng để mô tả hình tượng chỉ có thể là hình dung từ. Nhà văn càng sáng tạo nhiều hình dung từ để mô tả con người và sự vật, hình tượng nghệ thuật càng in đậm dấu ấn phong cách cá nhân (...). Trong cú pháp truyện kể, hình dung từ là vị ngữ, giữ chức năng tương đương một vị từ. Nó có nhiệm vụ gọi tên sự vật, mô tả đặc điểm, trạng thái của chủ thể chứ không thông tin sự kiện. 

Vì thế, đây là bộ phận cơ bản làm nên nội dung của hình tượng văn bản, hình tượng tác phẩm”(10). Lã Nguyên cho hình tượng tác phẩm trong văn Nguyễn Tuân thuộc về bốn phạm trù quen thuộc của mĩ học phương Đông: kì, quái, chí, tuyệt. Nếu xem toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân là một văn bản thì văn bản đó là chỉnh thể của bốn hình tượng: kì nhân, kì thú, kì quan, quái nhân. Lã Nguyên cho con đường “từ hiện đại tìm về truyền thống” là tiến trình phát triển tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Với Lã Nguyên, việc phân tích tác giả hay hiện tượng dường như chỉ là cái cớ để ông đặt ra một vấn đề/câu chuyện nào đó, quan trọng hơn, về văn học.

Trong một chuyên luận về Nguyễn Duy(11), Lã Nguyên đặt ra một vấn đề quan trọng: việc loại hình hóa các khuynh hướng, dòng mạch trong một thời kì, một không gian văn học cụ thể. Bằng các thao tác phân tích diễn ngôn thuần thục, nhà phê bình đã chứng minh thuyết phục thơ Nguyễn Duy không phải phiên bản của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa, mà là “thơ của chúng sinh”. Hình tượng tác giả trong thơ Nguyễn Duy không phải hình tượng “nghệ sĩ - chiến sĩ” phổ biến một thời, mà là “kiểu tác giả của nhân dân”. Tiếng nói trữ tình trong thơ Nguyễn Duy là “tiếng nói của chúng sinh, từ chúng sinh mà cất lên”. 

Từ kiểu tác giả với nhãn quan giá trị đặc thù như thế, thế giới nghệ thuật của Nguyễn Duy hiện ra, tuy không phải duy nhất, nhưng là tiếng nói rất riêng trong không gian văn học miền Bắc sau 1954 vốn một thời dành rất nhiều dư địa cho văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa. Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy, do đó là thế giới của “lòng dân”, “dân vạn đại”, “Mẹ trường tồn”. Theo Lã Nguyên, mọi bình diện thi pháp làm nên cấu trúc diễn ngôn trong thơ Nguyễn Duy, “từ nhân vật trữ tình, qua thể tài và cảm hứng, cho tới ngôn ngữ và phương thức biểu hiện, đều là sự tiếp tục phát triển và hoàn thiện mĩ học Thơ mới, biến mĩ học ấy thành hình thức hiện đại của thi ca dân tộc. Tôi gọi Nguyễn Duy là nhà thơ hiện - đại - cổ - điển Việt Nam theo ý nghĩa như vậy”(12).

Trên một ý nghĩa nào đó, chuyên luận của Lã Nguyên về thơ Nguyễn Duy vượt ra khỏi giới hạn của một đối tượng nghiên cứu cụ thể, có khả năng gợi ý những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu văn học nói chung. Một mặt là bởi điều này giúp chúng ta thấy được dòng mạch/khuynh hướng/nhà thơ trong tổng thể giai đoạn văn học, tránh sự đánh đồng tùy tiện, vô cớ, giản đơn; một mặt khác, thực hành phân tích diễn ngôn của Lã Nguyên giúp khắc phục sự sơ giản của lối viết phổ biến “Tác giả - cuộc đời và sự nghiệp thơ văn”, thường chỉ nói được cái chung chung, mà không nói được ai là ai, tức không ra tác giả.

Quan sát hoạt động của các cây bút phê bình hiện nay, có thể nhận ra, dường như mỗi người trong số họ đều có một lịch sử văn học riêng để nghiên cứu. Chẳng hạn, Đỗ Lai Thúy thường chọn đối tượng phân tích là những tác gia, tác phẩm, hay những hiện tượng văn hóa, văn học được ít người đọc, thậm chí bị bỏ quên, bỏ sót, tạo thành những “khoảng trống” của tiến trình lịch sử thường được mô tả trong sách vở chính thống. Lã Nguyên đọc lại các tác gia, tác phẩm nằm ngay ở khu vực trung tâm của nền văn học chính thống. Đối tượng quan sát của ông là trường nghĩa bị đọc sai, hoặc bị bỏ sót ở những tác gia, tác phẩm ấy. Ta hiểu vì sao, ông gọi công việc phê bình của ông là “khảo cổ học tri thức”. Nhờ “khảo cổ”, phát hiện nghĩa bị đọc sai, hoặc bỏ sót, ông giúp người đọc nhận ra một lịch sử văn học vừa rất quen, lại vừa vô cùng lạ lẫm.

Lịch sử văn học là bình diện quan trọng nhất của lịch sử văn hóa. Lịch sử văn hóa là lịch sử của các cấu trúc biểu nghĩa. Tiếp cận lịch sử văn học từ góc độ như thế, dĩ nhiên, Lã Nguyên phải có công cụ riêng. Bộ “cưa đục” công cụ hành nghề Lã Nguyên chọn riêng cho mình là kí hiệu học, vì kí hiệu học chính là văn hóa học. 

Ở phương Tây những năm đầu của thế kỷ XX, từ những cơ sở ban đầu của Ch. Peirce, F. de Saussure, kí hiệu học bùng nổ gắn liền với những tên tuổi lỗi lạc, đánh dấu bước chuyển mang tính cách mạng của khoa học xã hội - nhân văn. R. Jacobson, C. Lévi-Strauss, R. Barthes, J. Kristeva, Tz. Todorov, Y.M. Lotman, B. Uspenski… đã nghiên cứu văn bản văn học như là nơi lưu giữ, truyền đạt và sáng tạo thông tin. Với các ông, kí hiệu học là con đường đích đáng nhất, thậm chí duy nhất để nghiên cứu các hiện tượng văn hóa nghệ thuật.

Lựa chọn tư tưởng kí hiệu học từ trường phái Tartus-Moskva, Lã Nguyên có bước đi đột phá trong phê bình kí hiệu học ở Việt Nam. Ông quan niệm, trong nghệ thuật, không có kí hiệu nào vô nghĩa, nên không có gì không thể hiểu, nếu “không hiểu” thì chẳng qua là do “chưa hiểu” mà thôi. Ông cũng nhận ra, bản chất của kí hiệu là “đỏng đảnh”, mơ hồ, văn bản nghệ thuật giống như cổ vật khảo cổ, và do thế “muốn giải mã cái văn bản ấy cần tái cấu trúc ngôn ngữ đã mất”(13). Phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên thực chất là việc tái cấu trúc các “hệ thống ngôn ngữ đặc thù” (siêu ngôn ngữ) làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học của một thời kì, một giai đoạn, một không gian văn học và trong sáng tác của các nhà văn. Không phải ngẫu nhiên, Lã Nguyên nói đọc văn là hành trình tái thiết ngôn ngữ.

Phê bình kí hiệu học truyền thống ở Việt Nam chủ yếu mô tả kí hiệu văn học với cặp phạm trù “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”. Đến Lã Nguyên, ông tập trung vào mô hình kí hiệu ba thành phần: tên gọi, nghĩa và ý nghĩa. Trước hết, ông dụng công tái thiết các “mô hình giao tiếp nghệ thuật”. Ở đây, câu chuyện ai nói, nói cái gì, nói với ai, nói như thế nào và mối quan hệ lô-gic và trật tự giữa chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên là việc phát hiện - giải mã - phiên dịch - giải thích ý nghĩa của kí hiệu. 

Cũng bởi thế, “ngôn ngữ” phê bình kí hiệu học của ông châu tuần vào hai mảng mà ông gọi là “tiếng nói thời đại” và “ngôn ngữ tác giả”. Trong “tiếng nói thời đại”, ông tập trung đi tìm mô hình và ý nghĩa để tái thiết “ngôn ngữ thời đại”. Ông nhận ra, “ngôn ngữ” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa là “mô hình thế giới bổ đôi” (ta/địch, chúng ta/chúng nó, chính diện/phản diện…). Nó dùng quan hệ gia đình, thân tộc (cha mẹ, con cái, chú bác, cô dì, cháu chắt…), quan hệ tự nhiên (trời-cha, đất-mẹ, con người-người tốt/người xấu…) để mô hình hóa thế giới. 

Ngôn ngữ của nó, do thế, rất gần với ngôn ngữ thần thoại cổ xưa. Trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, Lã Nguyên chỉ ra mô hình nhân vật - kí hiệu đặc thù: Cha (lãnh tụ anh minh), Mẹ (Tổ quốc đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng), Các con (đồng bào chiến sĩ anh hùng, chiến đấu hi sinh) và Kẻ thù (bầy thú dữ tàn độc). Ông cũng chỉ ra kiểu nhân vật được quyền cất tiếng nói và kiểu nhân vật không có tiếng nói trong mô hình giao tiếp nghệ thuật đặc thù này. Hình tượng chủ thể phát ngôn làm điểm tựa giá trị của lời nói nghệ thuật là hình tượng người chiến thắng, chủ nhân của thời đại mới. Từ phân tích của Lã Nguyên, độc giả có thể nhận ra ý nghĩa của các kí hiệu trong “trường kí hiệu” thời đại.

Như đã nói, phê bình của Lã Nguyên là hành trình “đọc lại lịch sử”. Không thể phủ nhận, trước những đối tượng quen biết, phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên đã giúp bạn đọc nhận ra những điều vô cùng mới mẻ. Các bài phân tích văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (“Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa như một hệ hình giao tiếp nghệ thuật”; “Nguyên tắc vẽ tranh, tạc tượng dài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước năm 1975”), thơ Tố Hữu (“Thơ Tố Hữu - kho kí ức thể loại của văn học từ chương”), Nguyễn Tuân (“Nguyễn Tuân - nhà văn của hình dung từ”)… là những ví dụ cụ thể. Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy nhận xét: “đọc La Khắc Hòa với Phê bình kí hiệu học, tôi thấy ông, chẳng những nhận chân được tác giả, “ai là ai”, mà còn làm giàu cho các tác phẩm đích thực, bằng chính cái-nhìn-lí-thuyết, vốn là điểm mạnh trong lối viết khai-minh-sôi-nổi, cả quyết, rõ ràng, chắc nịch như dao chém đá của ông”(14).

Đọc phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên, có thể nhận ra một trong những tiểu luận thể hiện xuất sắc nhất tinh thần phân tích kí hiệu học và thực hành phân tích diễn ngôn của ông là bài “Tố Hữu - kho kí ức thể loại của văn học từ chương”. Xem thơ Tố Hữu như một thực tiễn diễn ngôn, Lã Nguyên quan tâm nghiên cứu chiến lược diễn ngôn, ngôn ngữ thế giới quan, bức tranh thế giới bằng ngôn từ, và cuối cùng là các mô thức tu từ. Văn học nói bằng thể loại. Nói như Bakhtin, “không có tác phẩm nào tồn tại bên ngoài thể loại lời nói”. Lựa chọn chiến lược diễn ngôn thực chất là lựa chọn thể loại lời nói trong giao tiếp nghệ thuật. Thể loại ở đây được hiểu như là một cấu trúc diễn ngôn. Đó là cấu trúc ba chiều được thỏa thuận trong sử dụng giao tiếp giữa người nói và người nghe. 

Có bốn biến thể chính trong vô số biểu hiện phức tạp của diễn ngôn văn học hiện đại: truyền thuyết, dụ ngôn, giai thoại và truyện kể. “Mỗi thể loại đều có mục đích giao tiếp cụ thể (khiến diễn ngôn nghệ thuật ngay từ đầu đã là một chỉnh thể), có bức tranh thế giới được kiến tạo theo kiểu riêng và có mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể giao tiếp được đặt vào những cấp độ khác nhau để tạo thành một chiến lược giao tiếp”(15). Theo Lã Nguyên, toàn bộ nội dung thơ Tố Hữu có thể gói gọn vào hai truyền thuyết: truyền thuyết về sự cứu rỗi con người cá nhân và truyền thuyết về cứu rỗi dân tộc. 

Để truyền đạt những tri thức khả tín và không cần kiểm chứng ấy, bức tranh thế giới trong truyền thuyết là bức tranh của những vai trò, những chức năng. Mọi nhân vật đều bị đồng nhất với một chức năng, một vai trò, không có nhân vật nào được phép lớn hơn hay nhỏ hơn chức năng của nó. Theo đây, Tố Hữu như một hiện thân tiêu biểu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tạo ra bức tranh thế giới theo nguyên tắc phân vai, được khuôn vào bốn vai cổ mẫu có từ huyền thoại: Cha - anh minh, Mẹ - Tổ quốc, Chúng con - anh hùng và Kẻ thù - bầy thú dữ. Mỗi chiến lược diễn ngôn bao giờ cũng lựa chọn cho chủ thể lời nói một mặt nạ ngôn ngữ và đặt quan hệ giữa người nói với người nghe vào một cấp độ giao tiếp cụ thể. Lã Nguyên cho mặt nạ ngôn ngữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng là hình tượng người sở đắc chân lí, người chiến thắng.

Lã Nguyên chỉ ra, sự chi phối của chiến lược diễn ngôn tất yếu sẽ chi phối sự lựa chọn ngôn ngữ thế giới quan và các mô thức tu từ trong thơ. Ai nấy đều biết, văn học là tư tưởng hệ, diễn ngôn văn học “nói” bằng ngôn ngữ thế giới quan. Đó là hệ thống kí hiệu, là cấu trúc biểu nghĩa của một cộng đồng ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi để kiến tạo bức tranh thế giới qua lăng kính giá trị của nó trong giao tiếp, nó thuộc cấp độ tư tưởng hệ. Có thể nói, có bao nhiêu lĩnh vực giao tiếp lời nói, có bấy nhiêu ngôn ngữ thế giới quan. Có bao nhiêu ngôn ngữ thế giới quan, có bấy nhiêu bức tranh thế giới bằng ngôn từ. 

Theo đó, ngôn ngữ thế giới quan trong thơ Tố Hữu là ngôn ngữ nhà binh, ngôn ngữ dòng tộc và ngôn ngữ hội hè. Ngôn ngữ ấy biểu hiện những cung bậc tình cảm khác nhau, tựu trung ở căm hận, khinh ghét; thiêng liêng cung kính; thân thiết ấm áp; và hớn hở vui tươi. “Ở đây, ba loại ngôn ngữ thế giới quan và bức tranh thế giới bằng ngôn từ thực ra là những bình diện khác nhau của chiến lược diễn ngôn lấy truyền thuyết làm nguyên tắc của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa”(16). Lã Nguyên khẳng định, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thuộc loại hình văn học từ chương. Do đó, nó có bốn mô thức tu từ phổ quát với những biến thể khác nhau, kết đọng tiêu biểu trong thơ Tố Hữu. Bốn mô thức đó là Thệ (diễn ngôn hứa hẹn), Hịch (kêu gọi chiến đấu), Ca thi (xưng tụng, tán dương, ca ngợi) và Đại cáo (bố cáo cho thiên hạ được biết về một sự kiện lịch sử, một thắng lợi to lớn).

Không chỉ là việc khảo cổ học tìm mã văn học quá khứ, Lã Nguyên tỏ ra nhạy bén đặc biệt đối với những sự kiện văn chương đương đại. Qua phê bình kí hiệu học, các hiện tượng văn học hiện ra như những cổ vật/mẫu vật được phân tích, giải mã, không phải được ngợi ca, đôi khi mang ý nghĩa như một phản tỉnh (dĩ nhiên, đây đó không tránh khỏi cảm xúc “tiễn đưa” hay “chào đón”). 

Đặt các mã cạnh nhau, bạn đọc sẽ thấy ý đồ người viết trong việc xếp các cổ vật trong bảo tàng văn học, từ đó thấy được sự chuyển mã, thấy được đâu là sự kiện và bước ngoặt trong đời sống lịch sử văn học. Khi sự giải mã một hiện tượng thành công thì cũng là lúc bạn đọc có cơ hội nhìn hiện tượng theo một cách khác, đọc nó theo một nghĩa khác. Điều này tạo nên câu chuyện lịch sử của tiếp nhận và lịch sử phê bình. “Mọi cố gắng của chúng tôi đều hướng tới mục đích khảo cổ học tri thức”, nhằm vào việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ”(17).

Kí hiệu học của Lã Nguyên là kí hiệu học ứng dụng. Phê bình kí hiệu học của Lã Nguyên khác các nghiên cứu kí hiệu học của tiền bối Việt bởi ông tập trung vào phát hiện, kiến tạo, giải mã, phiên dịch và giải thích ý nghĩa kí hiệu. Kí hiệu học ứng dụng của Lã Nguyên vừa là kí hiệu học văn hóa, vừa là sự mở rộng thi pháp học sang một chân trời mới. Không phải ngẫu nhiên, khi phân tích văn học, Lã Nguyên thường dùng các mã văn hóa, liên văn bản đã có để mô tả cấu trúc ngôn ngữ văn bản được tái thiết. 

Ông cũng tái cấu trúc các phạm trù thi pháp và đặt chúng trong không gian kí hiệu học một cách đầy ý vị khiến phê bình kí hiệu học của ông không xa rời các đặc trưng thẩm mĩ của văn chương. Thành công trong phê bình kí hiệu học của ông, trên tinh thần đó, vừa mang ý nghĩa tư tưởng học thuật, vừa mang ý nghĩa phương pháp luận. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận xét: “Mặc dù kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 thế kỉ trước, song phải đến Phê bình kí hiệu học - đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của Lã Nguyên, chúng ta mới có thể coi là một thành quả đáng kể của việc vận dụng lĩnh vực tri thức này vào nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành và triển vọng của ngành nghiên cứu kí hiệu học nước nhà”(18).

Lã Nguyên là nhà phê bình có tư tưởng dân chủ và phóng khoáng. Mọi định giá văn học của ông đều dựa trên tinh thần phân tích văn bản. Ông quan niệm, phê bình có việc riêng của phê bình, sáng tác tìm thấy điều gì có ích ở nó là việc riêng của sáng tác, vì cả hai đều sinh ra từ ý thức nghệ thuật của thời đại. 

Là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp song Lã Nguyên không thuộc kiểu phu chữ. Trái lại, phẩm tính nghệ sĩ khiến tư tưởng và văn phong của ông luôn khoáng hoạt, tràn đầy xúc cảm. Quan sát hành trình nghiên cứu, phê bình của Lã Nguyên, thấy ông thuộc típ nhà nghiên cứu ưa “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Ông không ham nhiều, mà chủ yếu tập trung chọn lọc những vấn đề cốt lõi, tâm đắc, và đặc biệt là những vấn đề hữu ích cho văn học Việt Nam đương đại. 

Ông cũng thuộc mẫu nhà lí luận ứng dụng, bởi hầu hết những gì ông đọc ra, suy ngẫm hay chắt lọc đều được vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu phê bình văn học. Lã Nguyên có những đóng góp quan trọng trong chuyển đổi hệ hình tư duy lí luận phê bình thời đổi mới. Lí luận của Lã Nguyên là thứ lí luận luôn chực nảy mầm. Nó như thứ men ủ, dễ khiến người ta ngây ngất, say mê, và đôi khi, cả tỉnh thức. Phê bình văn học Việt Nam từ sau Đổi mới và đặc biệt trong giai đoạn gần đây có sự góp công sức rất lớn của Lã Nguyên. Phê bình văn học Lã Nguyên, đặc biệt là phê bình kí hiệu học và thực hành phân tích diễn ngôn văn học của ông làm giàu có thêm cho phê bình văn học Việt Nam hiện đại./.
(Viết & Đọc mùa Hạ 2024)

---------------
(*) Đầu bài do BBT Viết & Đọc đặt. Tên gốc của tác giả: “Lã Nguyên và nghiên cứu, phê bình văn học”. Xin cảm ơn BBT VVĐ!

CHÚ THÍCH:

1) Lã Nguyên, Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học, Nxb. Phụ nữ, 2018, tr.12.

2) Công trình này là sự cụ thể hóa hướng nghiên cứu từ đề tài khoa học cấp Nhà nước “Quá trình tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX” do La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy và Huỳnh Như Phương chủ trì, cũng là một phân nhánh của Đề án “Lí luận văn nghệ ở Việt Nam - Thực tiễn và định hướng phát triển” do PGS, TS Nguyễn Hồng Vinh làm chủ nhiệm, PGS, TS Phan Trọng Thưởng làm Phó chủ nhiệm thường trực.

3) Lã Nguyên, Số phận lịch sử của các lí thuyết văn học, sách đã dẫn, tr.533.

4) Lã Nguyên (chủ biên), Việt Nam - Một thế kỉ tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài, Nxb. Đại học Sư phạm, 2020, tr.39.

5) La Khắc Hòa, “Tổng quan về sự tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ 1986 đến nay”, in trong: Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - Kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại (La Khắc Hòa, Lộc Phương Thủy, Huỳnh Như Phương đồng chủ biên), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr.301-302.

6) Xin xem: Lã Nguyên, Lí luận văn học - Những vấn đề hiện đại (tuyển dịch, 331 trang), Nxb. Đại học Sư phạm, 2012.

7) Iu.M. Lotman, Kí hiệu học văn hóa (Lã Nguyên, Đỗ Hải Phong, Trần Đình Sử dịch), Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2015.

8. Lã Nguyên, Lí luận văn học - Những vấn đề hiện đại, sách đã dẫn.

9) Lã Nguyên, “Mấy cách tân nghệ thuật của truyện ngắn Nam Cao”, in trong: Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học - Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ, Nxb. Phụ nữ, 2019, tr.180.

10) Lã Nguyên, “Nguyễn Tuân, nhà văn của hình dung từ”, in trong: Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, tr.138-139.

11) Lã Nguyên, Nguyễn Duy - Nhà thơ Việt Nam hiện đại (thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (255 trang), Nxb. Khoa học xã hội, 2021.

12) Lã Nguyên, Nguyễn Duy - Nhà thơ Việt Nam…, sách đã dẫn, tr.166-167.

13) Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, Nxb. Phụ nữ, 2019, tr.9.

14) Đỗ Lai Thúy, La Khắc Hòa - “Phượng hoàng thì phục sinh, sư tử thì gầm rống”, in trong: Đỗ Lai Thúy, Tròng trành và lệch chuẩn (viết như là nội tâm hóa tham dự văn chương), Nxb. Hội Nhà văn, 2020, tr.335.

15) Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, tr.189.

16) Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, tr.210.

17) Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, tr.10.

18) Trần Đình Sử, “Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học”, in trong Phê bình kí hiệu học…, sách đã dẫn, tr.399.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...