Thứ Hai, 3 tháng 6, 2024

Cửa Thuận An và làng Thai Dương (Nhà báo Lê Minh Khiêm)


Thuận An vốn là tên của một cửa biển được vua Minh Mạng ban ngự danh trước khi mở ra cửa mới vào đầu thế kỷ XX (1904) cho đến nay. Trong quá khứ, dọc theo dải đất của làng Thai Dương đã từng có các cửa mở rồi lấp ở nhiều vị trí khác nhau vì vùng này đối diện với hạ lưu của sông Hương, nơi có một lượng nước rất lớn tuôn ra vào mùa mưa lũ.

Hệ thống đầm phá từ Tam Giang đến Cầu Hai như một cái túi đựng nước của tất cả các sông lớn nhỏ của Hóa châu rót vào, miệng của túi nước đổ ra biển chính là cửa Thuận An và Tư Hiền.

Cửa Thuận An trước thế kỷ XX nằm trên ranh giới tự nhiên giữa 2 làng Hòa Duân và Thai Dương Hạ, có tên chữ Hán là 渜. Trong các bản dịch sách Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, các dịch giả phiên tên bằng nhiều âm khác nhau là Nhuyên, Nhuyễn, Noãn, Nộn, do chữ này có nhiều âm đọc, có khi là dị thể của chữ 濡. 

Không rõ người dân địa phương gọi tên cửa này là gì, vì trong các văn bản của làng Thai Dương Hạ cũng viết bằng chữ ấy. Theo chúng tôi có thể dân gian gọi là cửa Duân rồi khi lập văn tự người ta dựa vào âm Nhuyên của chữ 渜 này để ký âm tên cửa (dân ở đây nói lẫn lộn vần "nh" và "d" và duân => duyên). 

Khi nghiên cứu về cửa Thuận An và hệ thống phòng ngự cửa biển của triều Nguyễn ở vùng này, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng đây cũng là cửa Eo được Dương Văn An ghi chép trong Ô châu cận lục giữa thế kỷ XVI. Điều này có lẽ nhầm.

Cửa Eo trong sách ÔCCL nằm ở đâu?

Cửa Eo nằm giữa làng Thai Dương.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì năm Khai Đại nhà Hậu Hồ (1404) nơi đây bị lụt lớn, nước lũ mở ra cửa Eo, triều đình cho quân lính đến đắp đất lấp lại. Nhưng hằng năm, vào khoảng tháng tám, chín âm lịch thường hay có nạn nước lũ. Đến năm Cảnh Thống thứ 3 (1453) lại xảy ra vỡ lớn, từ đó không thể đắp lại được nữa. Điều này cũng được Dương Văn An chép trong ÔCCL và cũng gọi tên cửa là Yêu hải môn 沃海門 tức cửa Eo, con sông thông nước từ đầm phá ra biển là Yêu Lục 沃淥, tức sông Eo.

Làng Thai Dương được hình thành từ rất lâu, trước khi cửa Eo mở thông ra biển, người dân trong làng có thờ 3 vị khai canh họ Võ, Nguyễn, Trương chung một miếu, gọi là miếu Khai canh. Từ khi con sông Eo chảy giữa làng, lâu dần qua năm tháng, từ khoảng cách địa lý tạo nên khoảng cách văn hóa. 

Không rõ do sự quản lý của chính quyền hay thỏa thuận trong nội bộ dân làng mà con sông Eo chia làng ra thành Thai Dương Thượng và Thai Dương Hạ. Mộ ông Khai canh họ Trương nằm ở làng Thai Dương Hạ và phần lớn người họ Trương sống ở đây nên xin đem thần vị khai canh về thờ riêng, từ đó các sinh hoạt văn hóa tâm linh giữa mỗi làng trở nên biệt lập.

Trong các tập địa bạ của 2 làng thời Gia Long cho biết đầu thế kỷ XIX ranh giới tự nhiên giữa 2 làng là một dải cát, cuối địa phận của làng Thai Dương Thượng vẫn còn một cái bàu. Bàu này trong địa bạ của làng Thai Dương Thượng gọi là "bàu Eo". Có lẽ đây là vết tích còn lại của con sông Eo ngày xưa, qua thời gian đã bị cát bồi lấp gần hết.

Như vậy cửa Eo chép trong "Ô Châu cận lục" của Dương Văn An hoàn toàn khác với cửa Duân do Lê Quý Đôn chép trong "Phủ biên tạp lục" và dĩ nhiên khác với cửa Thuận An hiện tại.

Về cái tên làng, trong sách "Ô Châu cận lục" có chép về sự tích thần Thai Dương. Phần đầu có vẻ giống như chuyện đá Vọng phu ở Đồng Đăng của miền Bắc. Nhưng ở đây, sau khi người chồng bỏ đi thì người vợ có thai, khi chết bào thai biến thành hòn đá. Sau có người đánh cá đêm gối đầu trên hòn đá ngủ say mộng thấy thần hiện lên nói rằng :"Không được động vào cái thai". Lấy làm linh dị liền khấn xin cho đánh được nhiều cá. Quả được như lời cầu xin, bèn đem hòn đá ấy lập đền thờ cúng, rất là linh nghiệm, dân gian gọi là thần Thai Dương.

Câu chuyện trên giải thích về nguồn gốc tên gọi của làng, nhưng xét về mặt văn tự, chữ Thai trong tên làng cũng như tên thần là chữ thai 台 hoặc chữ thai 邰 này, hoàn toàn khác với chữ thai 胎 nghĩa là bào thai. Và một điều nữa, trong câu chuyện này, không biết người kể ám chỉ thần là hòn đá hay là người mẹ.

Sách Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng cũng chép một dị bản, tạm dịch như sau:

"Phía bắc của cửa Thuận An có đền thờ Thai Dương phu nhân. Ngày xưa có một người đánh cá, sau mấy lần kéo lưới đều chỉ được một hòn đá. Lấy làm linh dị, người dân ở đấy mới đem về lập đền thờ, cầu mưa rất là ứng nghiệm.

Trong đền có một cái hòm gỗ sơn đen, không ai dám mở. Chuyện kể rằng có một vị sư Nhật Bản muốn trộm hòn đá ấy nhưng không được, liền bị chết thảm. Từ đó, hòm được đem giấu kín đi. Có người cho rằng hòn đá là do người vợ chờ chồng mà biến thành.

Giữa đầm, phía trước ngôi đền thường có một dải khí màu trắng hoặc vàng bốc lên, cao chừng 10 trượng. Mỗi khi trời tạnh, vào khoảng giờ thìn hoặc giờ thân thì thấy. Đó ắt là linh khí của Giang sơn vậy".

Thuyết sau của Trương Quốc Dụng nghe có lý hơn. Nữ thần Thai Dương được thờ rộng rãi tại các làng xã miền Trung, có làng chỉ dùng tên thần là Dương Phu Nhân (tức Bà Giàng, khác với nữ thần Dương Phi của miền Bắc là thần Đại Càn), thậm chí có làng gọi là Thái Dương Phu Nhân. Liệu đây có phải là những tên phiên âm của một vị thần bản địa?

Người Chăm xưa theo mẫu hệ, họ vốn có tục thờ nữ thần. Vị nữ thần tối cao trong thần thoại của họ tên là Yang Po Inư. Khi người Việt kế tục tiếp quản vùng châu Ô, họ tiếp nhận luôn vị thần bản địa vào tín ngưỡng của mình và gọi gọn lại thành Bà Giàng. Rồi từ Bà Giàng được Hán hóa ra thành "Dương Phu Nhân" trong Thai Dương, Thái Dương hay "Thiên" trong Thiên Mụ (Yang Po), Thiên Y A Na.

Dấu tích một thời tụ cư của người Chăm trên dải cát ven biển miền Trung này vẫn còn, ngôi tháp xây dang dở bị vùi dưới mấy mét cát biển ở Phú Diên là một minh chứng. Hòn đá được thờ trong miếu làng Thai Dương thuở mới "quy dân lập ấp" có thể là bức phù điêu nữ thần của người Chăm đặt trong các ngôi tháp cổ tương tự như khối đá được tôn là Kỳ Thạch Phu Nhân ở làng Thanh Phước.

Nguồn: facebook tác giả


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...