Mai Xuân Thưởng đã hy sinh anh dũng, tỏ rõ khí phách hiên ngang, bất khuất của một kẻ sĩ – anh hùng, tỏ rõ tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh máu lửa của toàn thể dân tộc Việt Nam chống lại cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Đó là sự thực lịch sử không gì có thể làm lu mờ hay xuyên tạc được.
Song, về việc Mai Xuân Thưởng bị bắt sống rồi sau đó không chịu khuất phục giặc ngoại xâm và bọn tay sai mà bị chúng sát hại, hay là ông bị cùng đường, phải ra hàng, rồi bị bắt và bị hành quyết? Khoảng trống lịch sử này đã tồn tại như một điều tồn nghi khiến cho hậu thế không thể đành lòng, cần phải làm rõ.
Một điều đáng tiếc thứ nhất, là các nhà nghiên cứu, cho đến nay, đã không thể tiếp cận được với toàn bộ hồ sơ về Mai Xuân Thưởng và cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo, đặc biệt là những tài liệu trực tiếp liên quan đến việc bắt giữ và cái chết của ông. Đây chính là nguyên do để nảy sinh những ý kiến khác nhau.
Thứ hai là trong khi nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vào nửa sau thế kỷ XIX, bao gồm cả Phong trào Cần Vương, còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hiện tượng “đầu hàng” của những cá nhân và nhóm người Việt Nam khác nhau. Cho nên, khi tùy tiện sử dụng các từ “đầu hàng”, “quy hàng”, “hàng” để mô tả những sự thực khác nhau liên quan đến các sự kiện và nhân vật lịch sử thời kỳ này là không bao giờ thỏa đáng.
Ở đây, chúng tôi xin nêu ra những ý kiến ngắn gọn của mình về một loạt những động thái được gọi là “hàng” trong diễn trình lịch sử của cuộc chiến Pháp – Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, qua đó có thể giúp cho mọi người bước đầu phân biệt và hiểu rõ hơn bản chất của vấn đề.
Một là sự đầu hàng của triều đình Huế: Đối diện với cuộc xâm lăng của người Pháp, rõ ràng là triều đình Huế của triều đại Nguyễn (1802-1945) phải là người đại diện chính yếu nhất, tối cao cho quốc gia – dân tộc Việt Nam và là người phải chịu trách nhiệm cao nhất về sự thắng – bại của cuộc kháng chiến và sự mất – còn của chủ quyền quốc gia – dân tộc.
Triều đình Huế đã lần lượt phải ký các hiệp ước với quân Pháp và các năm 1862, 1874, 1883 và 1884 và từng bước bị tước bỏ quyền uy và do vậy, chủ quyền và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia – dân tộc từng bước phải “nhượng” vào tay thực dân Pháp. Dẫu về danh nghĩa, triều đình Huế gọi đó là những “hòa ước”, người Pháp thì gọi là “hiệp ước”, nhưng thực chất là những “hàng ước”.
Dẫu rằng triều đinh Huế đã xoay xở đủ đường, tìm mọi cách để thoát khỏi thế bị bế tắc, sa lầy, không chủ động “bán nước” cho thực dân Pháp, nhưng họ đã đầu hàng thực dân Pháp từng bước một, và cuối cùng là đầu hàng hoàn toàn, chấp nhận trở thành bù nhìn, một bộ phận trong cấu trúc quyền lực thuộc địa của người Pháp. Tuy rằng sau năm 1884, trong số vua quan triều Nguyễn vẫn còn có những cá nhân yêu nước, sẵn sàng xả thân cứu nước, như vua Hàm Nghi, vua Thành Thái, vua Duy Tân, hoàng thân Cường Để vv, nhưng việc triều đình kháng chiến thất bại, phải đầu hàng là sự thực lịch sử không gì thay đổi được.
Hai là sự đầu hàng, phản quốc, hại dân của những cá nhân, như Huỳnh Công Tấn, Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương, Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải vv là sự chủ động đầu hàng, cầu vinh, trục lợi của những phần tử Việt gian. Sau khi đầu hàng thực dân Pháp, những người này đã trở thành những tay sai đắc lực, giúp thực dân Pháp đánh phá phong trào kháng chiến và đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam chống Pháp.
Huỳnh Công Tấn đã giúp người Pháp tấn công và đàn áp các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực; Trần Bá Lộc đã giúp quân Pháp tấn công, đàn áp một loạt cuộc khởi nghĩa của sĩ dân miền Nam Trung Bộ, trong đó có cuộc khởi nghĩa của nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Mai Xuân Thưởng; Nguyễn Thân đã giúp thực dân Pháp đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Trung Kỳ, trong đó có việc đào mả cụ Phan Đình Phùng; Hoàng Cao Khải giúp thực dân Pháp đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Những người này, nhờ đầu hàng và làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp mà được quyền cao, chức trọng, bổng lộc to lớn. Họ không chỉ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam khi đó mà còn là tội đồ của lịch sử đến muôn đời, không gì có thể bào chữa được cho họ.
Thứ ba là trường hợp của các thủ lĩnh và nghĩa quân của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, họ đã anh dũng quyết chiến nhưng khi lâm vào thế cùng đường thì bị bắt. Bên cạnh những người hy sinh trong chiến đấu, hoặc cùng đường phải tự sát, như Trương Định, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thiệp, Đinh Công Tráng vv thì có rất nhiều người được ghi nhận đã buộc phải kết thúc hoạt động chiến đấu của mình trong thế cùng đường. Đây cũng là hiện tượng diễn ra trong tất cả các cuộc chiến tranh, ở tất cả các thời đại. Đó là các trường hợp như vua Hàm Nghi, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân), Tống Duy Tân, Hoàng Đình Kinh, Phạm Bành, Đốc Tít (Nguyễn Duy Hiệu) vv và Mai Xuân Thưởng là vị tướng bị giặc bắt trong trường hợp như vậy.
Tất cả những người này, tuy không bị giết chết ngay tại trận, nhưng phần lớn sau đó, dù rơi vào tay giặc Pháp và tay sai, họ dứt khoát không chịu quy hàng, làm tay sai cho giặc. Và vì vậy, họ đều bị hành quyết hoặc bị đày đi xa hòng khuất phục ý chí chiến đấu.
Vì vậy, không ai được phép nhìn nhận hành vi bị quân giặc bắt sống, bị cưỡng ép hạ vũ khí của những người này là hành vi “đầu hàng”, “hàng” hay “quy hàng”. Nếu họ quy hàng thì sau đó họ ít nhất sẽ tỏ ra hối hận vì đã tham gia kháng chiến, chống lại thực dân Pháp và tay sai; xin được tha mạng, hoặc tệ hơn, là hợp tác với người Pháp và trở thành tay sai của họ, quay lại đánh phá, đàn áp phong trào yêu nước của nhân dân.
Về phía quân Pháp và quân đội Nam triều, tại sao họ lại ra sức tuyên truyền cho cái gọi là hành vi “đầu hàng”, “quy hàng” của các thủ lĩnh nghĩa quân, cho dù chúng đã hành quyết họ rất dã man, hoặc lưu đày họ đi xa? Câu trả lời rất rõ ràng: vì mục đích tuyên truyền của chúng. Họ tuyên truyền cái gì? đối với ai? Nhằm tới hiệu quả tác động gì?
Trước hết là đối với sĩ dân Việt Nam, việc họ lu loa rằng các thủ lĩnh nổi tiếng, vốn rất được nhân dân ngưỡng mộ, tin tưởng, nay đã “hàng” là để khủng bố tinh thần kháng chiến của quảng đại dân chúng; để hạ thấp uy danh của các vị thủ lĩnh, và cao nhất là để làm xói mòn, làm giảm đi lòng tin của nhân dân vào tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến, khởi nghĩa. Ở mức độ nhất định, luận điệu tuyên truyền này cũng nhằm thị uy, khoe khoang sức mạnh của quân đội thực dân và tay sai.
Đối với đội ngũ quan lại, sĩ phu Việt Nam, luận điệu tuyên truyền này cũng nhằm trước hết là để chính đáng hóa (legitimize) triều đình Huế - triều đình đã bất lực, đầu hàng giặc và bị mất lòng dân nghiêm trọng. Triều đình khoe khoang việc các thủ lĩnh đã “đầu hàng”, rồi có thể thực hiện những nghi lễ, như tước bỏ mũ áo, học vị, chức tước vv (vì tuyệt đại đa số các thủ lĩnh là các nhà Nho, cựu mệnh quan triều đình), rồi sau đó trừng phạt họ như những kẻ phạm tội “khi quân”, “bất trung” vv là cũng nhằm góp phần hạ thấp uy tín của các thủ lĩnh, đề cao uy danh và tính “chính thống” của triều đình.
Còn về phía quân Pháp, việc tuyên truyền về cái gọi là sự “quy hàng” của các thủ lĩnh nghĩa quân không chỉ nhằm tác động tới các tầng lớp nhân dân, sĩ phu, quan lại ở Việt Nam mà chủ yếu là nhằm tới những tác động ở chính quốc và các thuộc địa khác. Đây là điều mà xưa nay, trong nghiên cứu chúng ta còn rất ít quan tâm đến.
Không chỉ cuộc xâm lăng của thực dân Pháp ở Việt Nam hồi nửa sau thế kỷ XIX (1858-1895) mà là suốt gần 100 năm thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam, kể cả cuộc chiến tranh của họ nhằm tái lập chế độ thực dân (9/1945 – 7/1954) đều chịu sự xem xét, giám sát của chính giới, công luận và nhân dân Pháp. Sự thực là từ 1858 đến 1954, đối với Việt Nam và toàn bộ thế giới thuộc địa ở hải ngoại, nước Pháp không bao giờ là một, không bao giờ nhất quán và thống nhất về quan điểm, chính sách và thái độ. Liên tiếp, trong tất cả các thời kỳ lịch sử, là các cuộc tranh luận, đấu tranh giữa các phe phái, các chính đảng, các xu hướng và các lực lượng ở nước Pháp về chính sách thuộc địa.
Phải nói ngay rằng, qua theo dõi chính trường Pháp suốt thời cận đại, chúng tôi đã nhiều lần chứng kiến những mâu thuẫn trầm trọng ngay trong nội bộ chính giới Pháp về chính sách đối với Việt Nam. Xin nêu ra một vài ví dụ:
Một là ngay sau khi cưỡng chiếm được Nam Kỳ Lục tỉnh, nước Pháp đã bị đại bại trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870-1871), hoàng đế Pháp Napoléon III bị bắt sống, nước Pháp phải đầu hàng, và bị buộc phải cắt hai tỉnh Alsace và Lorraine cho Phổ. Lúc này trong chính giới Pháp đã xuất hiện hai luồng ý kiến: một phe thì phải chấp nhận và đáp ứng yêu sách của Phổ. Phe kia thì đàm phán với Phổ xin dâng cho Phổ vùng Nam Kỳ Lục tỉnh để đổi lấy hai tỉnh Alsace và Lorraine. Cuối cùng, chính Otto von Bismarkc, Thủ tướng Phổ, đã quyết định từ chối đánh đổi, kiên quyết đòi chiếm Alsace và Lorraine. [1]
Khi thực dân Pháp đánh ra Bắc Kỳ lần thứ I (1873) chính giới Pháp ở Paris phản đối kịch liệt, khiến cho chính phủ Pháp phải tuyên bố với thực dân Pháp ở Việt Nam, rằng họ không thể ủng hộ. Chỉ huy quân Pháp ở Nam Kỳ phải cam kết: họ tự hành động với những phương tiện của họ, và tự gánh chịu mọi trách nhiệm. [2]
Tương tự như vậy, việc De Courcy gây sức ép để dẫn đến việc nổ ra sự biến ở Kinh thành Huế (1885) rồi phong trào Cần Vương bùng phát, tiếp theo là những cuộc hành quân đánh dẹp liên miên của thực dân Pháp và tay sai ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ vừa gây ra muôn vàn chết chóc, phẫn uất của người dân bản xứ, vừa gây ra những phí tổn khổng lồ cho ngân sách chính quốc. Điều này đã làm cho Nghị viện Pháp nổi gió dậy sóng, tranh cãi gay gắt và chia rẽ nghiêm trọng. Chính phủ Pháp xin Nghị viện Pháp 75 triệu francs để trang trải cho quân đội thực dân ở Việt Nam, nhưng Nghị viện chỉ phê chuẩn 18 triệu francs. De Courcy cũng bị triệu hồi, trao lại quyền chỉ huy cho tướng Warnel. Đồng thời, đầu năm 1886, Paul Bert, một quan chức dân sự đầu tiên đươc cử sang làm Thống sứ ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. [3]
Việc chính giới Pháp, cho đến tận năm 1945, chia rẽ và có những phe cánh, chính đảng hay cá nhân phản đối chính sách này hay hành vi nọ của thực dân Pháp ở Việt Nam, cần phải nói rõ, là không phải vì họ ủng hộ nền độc lập, tự chủ của Việt Nam và phản đối chủ nghĩa thực dân Pháp. Họ chỉ là đại diện cho những tính toán lợi ích vị kỷ khác nhau của họ mà thôi.
Sau này, cá biệt có một số phe, đảng, cá nhân thuộc xu hướng cấp tiến, như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Xã hội Pháp vv thì họ phản đối chính sách tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trước hết cũng là để bảo vệ danh dự và uy tín của nước Pháp và dân tộc Pháp. Và vì vậy, những người như Marius Moutet, Léon Blum vv có thể tuyên bố những câu rất đanh thép tại Nghị viện Pháp, như: “Chúng tôi tuyên bố to lên rằng: Nếu nước Pháp chỉ còn một cách là phải giết, phải chém, phải dùng vũ lực mới có thể ở lại trong đất Đông Dương được, thì thà cuốn gói về ngay đi là hơn.” [4] Và: “Nếu Chính phủ cứ khăng khăng một mực dùng vũ lực, dùng sự khủng bố mà giữ được xứ Đông Dương, thì tôi sẽ tán đồng ý kiến bỏ hết cả các thuộc địa”. [5]
Trong bối cảnh như thế, việc thực dân Pháp ở Việt Nam, một mặt vừa lu loa chuyện họ “chiêu hàng” được nhiều thủ lĩnh kháng chiến và nhân dân, đồng thời cũng thổi phồng uy danh của đội quân viễn chính với những chiến công đàn áp dã man dân chúng, hành quyết, đày đọa “thẳng tay” những thủ lĩnh “nổi loạn” là nhằm tác động đến các phe cánh khác nhau trong chính giới Pháp, bằng những cách khác nhau. Với nhóm “diều hâu”, “dân tộc thượng đẳng” thì chúng dùng tin tức, hình ảnh của những cuộc đàn áp để thỏa mãn tham vọng thực dân, cực đoan và bất chấp đạo lý. Còn đối với các nhóm, phe cánh “cấp tiến”, “khai hóa văn minh” thì chúng khoe khoang thành tích “chiêu hàng” để vuốt ve tinh thần dân tộc thượng đẳng, cũng không kém phần cực đoan của họ.
Vì vậy, ngày nay, trong nghiên cứu lịch sử, nếu không tỉnh táo, không có đủ thông tin sử liệu đa chiều, thì rất dễ bị sa vào luận điệu tuyên truyền thâm độc của thực dân Pháp hồi đó.
Riêng với trường hợp Mai Xuân Thưởng, trong hầu hết những công trình nghiên cứu của giới sử gia chuyên nghiệp ở cả Việt Nam, Pháp và một số nước khác, người ta đều thống nhất ghi nhận, rằng ông đã kiên quyết chiến đấu đến cùng, khi bị sa vào thế cùng đường cũng không nao núng. Rồi ông bị sa vào ổ phục kích và bị bắt sống. Sau khi bị bắt, thực dân Pháp và tay sai tìm cách dụ hàng ông, nhưng Mai Xuân Thưởng đã kiên quyết từ chối. Ông đã chọn cái chết để bảo tồn khí tiết, và thực dân Pháp và tay sai đã hành quyết ông một cách dã man và hèn hạ.
Chỉ có ý kiến của một số tác giả như Quách Tấn (1967) dẫn lại ý kiến của tờ L’Écho annamite (Tiếng vọng An Nam, 1927), rồi sau này được Đặng Quý Địch dẫn lại, là cho rằng ông đã “tự nộp mình”, hay là “ra hàng” quân Pháp và tay sai. [6]
Những ý kiến trên đây không được minh chứng bởi những cơ sở sử liệu chắc chắn và đã được TS. Đinh Bá Hòa bác bỏ một cách thuyết phục, với những thông tin đáng tin cậy. [7]
Ở đây tôi chỉ xin bổ sung thêm, rằng ngay trong công trình Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, một trí thức thân Pháp, biên soạn từ năm 1919, xuất bản lần đầu vào năm 1920, cũng ghi nhận: “Ở mạn Bình Thuận, Phú Yên thì thiếu tá De Lorme và viên Công sứ Aymonier cùng với Trần Bá Lộc đem lính Tây và lính Nam Kỳ ra đánh dẹp. Trần Bá Lộc dùng cách đánh dữ dội, chém giết rất nhiều, bởi vậy đất Bình Thuận không bao lâu mà yên; rồi đem quân ra dẹp đảng văn thân ở Phú Yên và Bình Định, bắt được cử nhân Mai Xuân Thưởng, Bùi Điền và Nguyễn Đức Nhuận đem chém”. [8]
Những dòng ghi chép sắc lạnh như trên của một sử gia nổi tiếng cẩn trọng, đứng ở lập trường thân thực dân Pháp, như thế là đã rõ ràng. Việc Quách Tấn, Bùi Đăng Địch và một số người khác có ý kiến khác biệt như trên hẳn là do chưa có sự suy xét thấu đáo, dựa trên những sử liệu đáng tin cậy và đầy đủ. Tuy nhiên, đó chỉ thuần túy là sự thiếu hụt, nhầm lẫn thông tin, không có dụng ý xấu, muốn xuyên tạc lịch sử hay làm lu mờ tấm gương oanh liệt, sáng ngời của vị anh hùng Mai Xuân Thưởng./.
[1] Xem: Phạm Hồng Tung, “Tìm hiểu vị trí của nước Đức trong bối cảnh của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20”, Nghiên cứu Châu Âu, 1999, số. 1, tr. 53-60.
[2] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 541.
[3] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tr. 585.
[4] Tiếng Dân, số 392, ngày 13-6-1931.
[5] Tiếng Dân, số 392, ngày 13-6-1931. Xem: Phạm Hồng Tung, “Cao trào cách mạng 1930-1931 ở Việt Nam và cơn “đại địa chấn” của chính trường nước Pháp”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10 – 2020, tr.13-19.
[6] https://baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=257567. Truy cập ngày 8-5-2024.
[7] https://baobinhdinh.vn/vanhoa-nghethuat/2007/4/42042/. Truy cập ngày 8-5-2024.
[8] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, sđd, tr. 588. PHT nhấn mạnh.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét