Thứ Năm, 23 tháng 5, 2024

Mai Xuân Thưởng – vị anh hùng văn võ song toàn, lãnh tụ phong trào Cần Vương ở Bình Định (GS.TS. Phạm Hồng Tung)


Mai Xuân Thưởng sinh năm 1860 xuất thân trong một gia đình Nho học ở thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định. Thân phụ ông là Mai Xuân Tín, đỗ cử nhân năm 1847, từng làm quan Bố Chính tỉnh Cao Bằng. [1] Là người theo nghiệp thi thư, nhưng sinh trưởng ở vùng quê nổi tiếng với truyền thống anh hùng, thượng võ, nên Mai Xuân Thưởng đã sớm tự đào luyện mình thành đấng trượng phu văn võ kiêm toàn, vừa sáng đạo Thánh hiền, vừa tinh thông võ nghệ, lại quảng bác kết giao với giới văn thân và hiệp khách khắp nơi trong vùng Bình Định – Khánh Hòa - Phú Yên – Quảng Ngãi.

Sau khi đỗ Tú tài vào năm 18 tuổi (1878), năm 25 tuổi Mai Xuân Thưởng tham dự kỳ thi Hương ở trường thi Bình Định. Kỳ thi này được tổ chức vào đầu tháng 7 năm 1885. Lúc kỳ thi vừa mới chuẩn bị bắt đầu thì đêm ngày 5-7-1885, tại kinh thành Huế nổ ra cuộc khởi nghĩa quật cường của vua Hàm Nghi cùng các quan Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường và Đề đốc Trần Xuân Soạn. Cuộc nổi dậy bất thành, vua Hàm Nghi bèn xuất bôn, rồi ban Dụ Cần Vương (ngày 13-7-1885), lệnh cho sĩ dân trong cả nước đứng lên phò tá nhà vua chống thực dân Pháp.

Nhiều tài liệu xác nhận rằng ngay khi tin tức về cuộc khởi nghĩa của vua quan ở kinh thành Huế dội vào Bình Định, hàng trăm sĩ tử đã lập tức bỏ kỳ thi Hương và mau chóng về quê ứng nghĩa, tụ nghĩa và khởi nghĩa chống Pháp. Hẳn là tâm thức kháng Pháp, bảo vệ Tổ quốc đã nung nấu, thường trực trong sĩ dân cả nước suốt mấy chục năm, từ khi quân Pháp nổ loạt pháo đầu tiên tấn công vào Đà Nẵng (1-9-1858) thì sĩ dân cả nước đã nổi lên chống Pháp. 

Còn nhớ Đốc học Phạm Văn Nghị ở Nam Định đã dẫn ngay một đoàn nghĩa binh hơn 300 người vào Huế xin đi đánh giặc. Rồi khi quân Pháp đánh chiếm Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam Kỳ thì ngay năm 1864, sĩ tử Bắc Kỳ cũng đã hò reo bỏ kỳ thi Hương ở Hà Nội để đòi triều đình kiên quyết kháng Pháp. Cho nên, việc sĩ tử bỏ kỳ thi Bình Định để lao vào cuộc chiến máu lửa với quân xâm lược Pháp là một hành động đã được chuẩn bị tâm thế sẵn sàng từ trước, phù hợp với truyền thống yêu nước của dân tộc và với đạo nghĩa của Nho giáo.

Nhưng tám người, trong đó có Mai Xuân Thưởng đã ở lại, dự thi, và thi đỗ, rồi mới về quê kháng Pháp. Ông ở lại dự thi không phải là ham hố danh lợi, mà khi đó, muốn hiệu triệu và lãnh đạo sĩ dân, người thủ lĩnh phải có danh vị. Ngay cả người đã rất nổi tiếng như Phan Bội Châu mà khi chưa thi đỗ cũng còn gặp khó khăn trên hành trình hiệu triệu, tập hợp lực lượng. [2] Mai Xuân Thưởng hiểu rõ điều này, nên dù tình thế cấp bách, ông vẫn hành sự có tính toán, bình tĩnh và trí lự - tỏ rõ là một người trí dũng, cơ mưu, văn võ kiêm toàn.

Ngay sau khi thi đỗ, Mai Xuân Thưởng trở về quê nhà, khẩn trương cùng với các bạn văn võ tâm giao chiêu mộ nghĩa binh, lập căn cứ ở Hòn Sưng (thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tuy Viễn) để chuẩn bị tấn công thực dân Pháp. Sát cánh cùng với ông tổ chức và chỉ huy đội nghĩa binh còn có các bậc hào kiệt, đều là người địa phương như Nguyễn Nhã, Bùi Điền, Nguyễn Hóa. Nhân dân ba huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Viễn đều nhiệt thành ứng nghĩa và ủng hộ nghĩa quân. Chỉ sau một thời gian ngắn đội nghĩa quân do Mai Xuân Thưởng hiệu triệu và chỉ huy đã có đến hàng trăm người, được trang bị chủ yếu bằng giáo, mác, gươm, gậy và các binh khí truyền thống khác. Ai cũng hừng hực một lòng, cả quyết chiến đấu chống giặc Pháp, sẵn sàng hy sinh vì vua, vì nước, vì đại nghĩa cứu nước, bảo vệ quê hương.

Lúc này, phong trào ứng nghĩa, nổi dậy hưởng ứng dụ Cần Vương đang nhanh chóng dấy lên và lan rộng trên phạm vi cả nước, đặc biệt là ở dải đất miền Trung, từ Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam vv… ra đến vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh và lan mạnh sang khu vực trung châu Bắc Bộ: Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang vv… Đứng đầu các đội nghĩa binh là văn thân, sĩ phu, nhiều người vừa treo ấn từ quan trở về ứng nghĩa, có cả những người đã về hưu hoặc chưa một ngày bước vào chốn quan trường. Dưới ngọn cờ của họ phần lớn là nông dân làng xã, các bậc phú hào cho đến cả những phường lục lâm, giang hồ cũng thức tỉnh, quyết vì nghĩa lớn mà gia nhập các đội nghĩa binh.

Ở Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi có đến hàng chục đội nghĩa binh nổi lên một lúc. Một số cuộc khởi nghĩa có sức lan tỏa mạnh nhất là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Duy Hiệu và Phan Thanh Phiến và nghĩa quân do Lê Trung Đình và Trần Dư ở Quảng Nam. [3] Ở Bình Định, trước khi Phong trào Cần Vương chính thức được phát động đã có nghĩa quân của võ sinh Phạm Toản. Phan Bội Châu cho biết: từ giữa tháng 7 năm 1885 “Hội Cần Vương Bình Định, Toản là người có danh tiếng hơn cả.” [4]

Cùng với nghĩa quân của Phạm Toản, đội nghĩa binh do Đào Doãn Địch, một vị Tổng đốc về hưu lãnh đạo, là có thanh thế hơn cả. Ngay khi vừa mới tụ nghĩa đã có khoảng 600 người đứng dưới cờ của Nguyên súy Đào Doãn Địch. Căn cứ trung tâm của nghĩa quân xã Phước Hòa (huyện Tuy Phước). Ngay sau khi dấy nghĩa, Mai Xuân Thưởng đã liên lạc và đem toàn bộ đội quân của mình gia nhập vào nghĩa quân của Đào Doãn Địch. Lực lượng khởi nghĩa lớn mạnh hơn hẳn, ông được Nguyên súy Đào Doãn Địch giao giữ chức Tán tương quân vụ (tham mưu trưởng), cùng bàn kế sách đánh chiếm tỉnh thành Bình Định. Cuối tháng 7 năm 1885 nghĩa quân bất ngờ tấn công hạ thành Bình Định, trừng trị viên Tổng đốc thân Pháp Lê Bá Thận.

Đây là một thắng lợi to lớn của nghĩa quân Cần Vương tỉnh Bình Định, làm chấn động toàn xứ Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nhân dân trong vùng rất phấn chấn, càng tin tưởng, ủng hộ nghĩa quân mạnh mẽ hơn. Chính trong lúc vừa giành thắng lợi quan trọng đầu tiên, bộ chỉ huy nghĩa quân đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng khi ra lệnh tấn công vào một số làng theo đạo Thiên chúa, giết hại giáo dân và một số giáo sĩ.

Thực ra, đây không phải là sai lầm cá biệt của nghĩa quân Cần Vương ở Bình Định mà là sai lầm phổ biến của phong trào vũ trang kháng Pháp nửa sau thế kỷ XIX. Ngay từ những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên ở Nam Kỳ, khi nhận thấy thực dân Pháp chiêu mộ một số giáo dân để thành lập đội quân tay sai, các vị chỉ huy nghĩa quân đã ra lệnh tấn công vào các cộng đồng giáo dân. [5] Khẩu hiệu “Bình Tây, sát tả!” đã xuất hiện từ khoảng năm 1861 và sau đó lan rộng ra cả nước, vừa một phần là sự tiếp nối chính sách cấm đạo, sát đạo trước kia của triều Nguyễn, vừa một phần là do mắc phải âm mưu chia rẽ thâm độc của thực dân Pháp, có sự tiếp tay đắc lực của những giáo sĩ phản động, phản Thiên chúa, như Pellerin, Puginier vv…

Ngay đầu tháng 8 năm 1885 thực dân Pháp đã kéo quân từ Quy Nhơn lên đàn áp cuộc khởi nghĩa do Đào Doãn Địch và Mai Xuân Thưởng chỉ huy. Giao tranh ác liệt đã xảy ra ở nhiều nơi, nhất là ở các cứ điểm Trường Úc và Phong Niên. Với ưu thế về hỏa lực, lại được một số giáo dân và quân triều đình giúp sức, cuối tháng 8 thực dân Pháp đã đẩy bật được nghĩa quân ra khỏi tỉnh thành Bình Định. Đào Doãn Địch và Mai Xuân Thưởng lui quân về các căn cứ do Mai Xuân Thưởng đã xây dựng từ trước ở Bình Thành (Tuy Viễn) và Đồng Hươu (Phú Phong, Bình Khê).

Đầu tháng 9 năm 1885, Đào Doãn Địch bị ốm nặng rồi qua đời. Khi sắp mất, ông đã giao lại chức Nguyên súy cho Mai Xuân Thưởng. Kể từ đây, chàng cử nhân họ Mai 25 tuổi trở thành thủ lĩnh cao nhất của Phong trào Cần Vương kháng Pháp ở tỉnh Bình Định. Sau khi làm lễ tế cờ, thề quyết đánh đuổi giặc ngoại bang, phò vua khôi phục giang sơn, xã tắc, ông dẫn quân tấn công một số vị trí đóng quân của quân Pháp ở Cẩm Vân, Thủ Thiện, Hòn Kho vv… Hào kiệt các nơi nghe danh tiếng ông cùng nhân dân tiếp tục kéo về tụ nghĩa, trong đó có những người nổi tiếng hào kiệt, như Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Đức Nhuận, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì vv...

Với lực lượng lớn mạnh hơn, Mai Xuân Thưởng cho xây dựng và củng cố một hệ thống căn cứ kháng chiến liên hoàn, như mật khu Linh Đổng (phía tây Lộc Đổng), mật khu Hầm Hô (thuộc xã Tây Phú, huyện Tây Sơn), căn cứ Nam Trại (nay thuộc thôn Thuận Ninh, xã Bình Tường, huyện Tây Sơn), căn cứ Bắc Trại (nay thuộc thôn Thuận Ninh, xã Bình Hiệp, huyện Tây Sơn), căn cứ Thứ Hương Sơn - tức Gò Núi Thơm nằm giữa ba làng Kiên Thành, Trường Định, Vân Tường (nay là xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn), căn cứ núi Kỳ Đồng nằm giữa ba thôn Tân Đức, Đại An, Thiết Tràng (nay thuộc xã Nhơn Mỹ và Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, căn cứ Kho Lương hay Hòn Kho nằm giữa ba xóm Tiên An, Tiên Long, Tiên Hóa (nay thuộc xã Tây Giang, huyện Tây Sơn) vv…

Vừa xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, Mai Xuân Thưởng cùng các thủ lĩnh liên tục tổ chức nhiều cuộc tấn công vào các cứ điểm của quân Pháp và tay sai, uy hiếp thành Bình Định.

Nhưng, cho dù đã trở thành trung tâm kháng chiến lớn nhất ở vùng Nam Trung Kỳ, nhưng Mai Xuân Thưởng vẫn không vượt qua được hạn chế cố hữu của phong trào vũ trang kháng Pháp hồi đó là sự phân tán lực lượng, thiếu liên kết, thống nhất về chỉ huy và hành động với các trung tâm kháng chiến khác ở Trung Kỳ cũng như trên toàn quốc. Hơn nữa, ông vẫn tiếp tục chủ trương sai lầm là cho nghĩa quân tấn công vào các làng công giáo với khẩu hiệu “tiền sát Tả, hậu bình Tây!”

Nhận thấy thế và lực của nghĩa quân Mai Xuân Thưởng ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp quyết tâm đàn áp bằng được. Soái phủ Nam Kỳ điều chiến hạm do Thiếu tá de Lorme chỉ huy ra cửa biển Quy Nhơn yểm trợ cho cuộc hành quân đàn áp của quân Pháp và tay sai trên bộ. Các đội quân bản xứ do Trần Bá Lộc – một phần tử tay sai nổi tiếng hung ác nhất Nam Kỳ chỉ huy được điều ra từ Khánh Hòa, bao vây, tấn công nghĩa quân từ hướng Nam. [6] Trong khi đó, Nguyễn Thân, một phần tử tay sai khét tiếng tàn bạo cũng được thực dân Pháp cho dẫn quân đánh vào từ hướng Bắc.

Chưa có bao giờ và chưa ở đâu quân Pháp phải tập trung lực lượng, bao gồm cả đội quân viễn chinh nhà nghề của Pháp và cùng lúc hai hai đội quân tay sai đắc lực nhất của chúng để đàn áp một cuộc khởi nghĩa như thế. Tuy nhiên, quân Pháp và tay sai đã vấp phải sự phản kháng ngoan cường với ý chí sắt đá và lòng quả cảm hy sinh của hàng nghìn nghĩa binh và các vị chỉ huy, đứng đầu là Mai Xuân Thưởng. [7] Đến tháng 3 năm 1887, Mai Xuân Thưởng bị thương nặng trong một trận giáp chiến ở Bàu Sấu (huyện An Nhơn), ông bèn cho lui quân về căn cứ Linh Đỗng (thuộc vùng núi Phú Phong) để trú ẩn và tìm cách duy trì và khôi phục nghĩa quân, tiếp tục chiến đấu.

Do sự bao vây chặt, kết hợp đàn áp với mua chuộc của quân Pháp và tay sai, lực lượng nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng suy yếu khá nhanh. Sang tháng 4 năm 1887 chỉ còn khoảng 50 nghĩa quân đi theo Mai Xuân Thưởng. Tuy vậy, vị thủ lĩnh trẻ tuổi vẫn không nao núng. Ngay cả khi Trần Bá Lộc cho người bắt giam và tra tấn thân mẫu ông, ông vẫn kiên quyết không đầu hàng. Sau khi mưu trí giải thoát được mẫu thân và gia đình, ông tìm cách dẫn những người còn lại chạy qua đèo Phủ Quý sang Phú Yên để gây lại lực lượng. Tai đây, ông rơi vào trận địa mai phục của Trần Bá Lộc và bị bắt sống vào ngày 4 tháng 5 năm 1887.

Trần Bá Lộc và thực dân Pháp tìm nhiều cách dụ hàng, nhưng Mai Xuân Thưởng khẳng khái đáp: “Chỉ có đoạn đầu tướng quân chứ không có đầu hàng tướng quân”. [8] Ngày 7 tháng 6 năm 1887 người anh hùng Mai Xuân Thưởng cùng 11 nghĩa binh can trường nhất của ông bị thực dân Pháp và tay sai hành quyết tại Gò Chàm, phía Tây Nam tỉnh Bình Định.

Có thể nói, bằng cuộc chiến đấu quả cảm, bằng sự hy sinh anh dũng vô song và khí phách hào hùng ngất trời, Mai Xuân Thưởng xứng đáng được tôn vinh như một trong những vị thủ lĩnh tiêu biểu nhất của phong trào đấu tranh vũ trang kháng Pháp cuối thế kỷ XIX. Với tất cả đóng góp to lớn và cả những hạn chế khó tránh khỏi, ông và nghĩa quân Cần Vương ở Bình Định thực sự tiêu biểu cho truyền thống yêu nước quật cường của nhân dân Nam Trung Kỳ trong khúc quanh bi tráng của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Chú thích:

[1] http://www.baobinhdinh.com.vn/642/2004/2/8790/. Có tài liệu cho biết cụ Mai Xuân Tín còn làm Bố Chính tỉnh Thái Nguyên. Xem: Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Ca Văn Thỉnh, Hướng Tân, Tài liệu tham khảo Cách mạng cận đại Việt Nam, tập I, Ban Nghiên cứu Sử Địa xuất bản, 1955, tr. 26.

[2] Khi chưa thi đỗ, chưa có tiếng tăm, danh vọng gì, Phan Bội Châu đã thử sức mấy lần tập hợp lực lượng, tổ chức hoạt động chống thực dân Pháp ở quê hương nhưng đều thất bại. Về sau, Cụ nhớ lại: “Nhưng khốn thay, thân còn ti tiện, hơi tiếng còn bé, một tờ giấy văn suông chẳng lấy gì làm ảnh hưởng (…) Lúc đó mới biết rằng “thời danh” cần phải cố lập mới xong.” Vì vậy, trong suốt mấy năm liền Phan Bội Châu đã “… hết sức trau dồi văn nghiệp theo thời thượng, lo cướp một món hư danh để cho đời trông ngó”. Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 6, Nxb. Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2000, tr. 112-113.

[3] Phan Bội Châu, “Việt Nam vong quốc sử”, in trong: Toàn tập, tập 2, Nxb. Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2000, tr. 41-43.

[4] Phan Bội Châu, “Việt Nam vong quốc sử”, sđd, tr. 43.

[5] Ngay cả trong áng văn bất hủ của Nguyễn Đình Chiểu “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” cũng có những câu bộc lộ rõ tinh thần này. “Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia.”; “Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn”.

[6] Đội quân này có khoảng 1300 sĩ quan và binh lính do Trần Bá Lộc, trung tá Cheuvreux và Công sứ Tirant cùng chỉ huy. Võ Kim Cương (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 6, Nxb. Khoa học Xã hội, 2017, tr. 299-300.

[7] Võ Kim Cương (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 6, Nxb. Khoa học Xã hội, 2017, tr. 299-300.

[8] Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển (Tập 1), Sài Gòn, 1966, tr. 733.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...