Truyện núi Tản Viên trong sách Lĩnh Nam chích quái (bản A.2914, Đoàn Vĩnh Phúc biên soạn năm 1554, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm) có đoạn như sau: "Núi Tản Viên ở cửa phía tây kinh thành Thăng Long triều Lý, kinh đô nước Nam Việt. Núi ấy cao sừng sững, đỉnh tròn như cái tán cho nên gọi là núi Tản Viên. Xưa, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sau có thai, sinh ra một bọc trong có trăm quả trứng.
Bọc nở ra mỗi quả trứng một cậu con trai. Long Quân mang 50 người con về biển Đông, Âu Cơ mang 50 người con về hang núi cùng phân nhau cai trị thiên hạ lấy hiệu là Hùng Vương. Đại Vương núi Tản Viên là một trong 50 người con trai về biển Đông [không phải] là thần của núi cao chung đúc. Vương [35a] từ Hải Môn, qua cửa biển Thần Phù trở về tìm nơi đất cao ráo, thoáng đãng, dân tục thuần phác để ở" (Đoạn này cũng có trong Thế Pháp tập, bản Lĩnh Nam chích quái, ký hiệu A.33, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
"Hải Môn"海門 có phải là địa danh? trong bài "Khảo sát lớp địa danh ở bản Lĩnh Nam chích quái A.2914 qua so sánh với Hồng Đức bản đồ" đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4 (179) năm 2023, chúng tôi đã dựa vào đoạn ghi chép về địa danh "Hải Khẩu" được chép trong sách Thiên Nam lộ đồ天南路圖, bản sao vào năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) hiện lưu trữ tại Pháp: "Hải Khẩu sơ Hà Hoa, Hải Môn dã" 海口初河花海門也 (Hải Khẩu xưa là Hải Môn của huyện Hà Hoa) để chứng minh Hải Môn là địa danh thời Trần, tên gọi trước đây của Hải Khẩu, huyện Hà Hoa, nay thuộc xã Kỳ Ninh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Nhân chuyến trở về di sản vào 18-20/5 vừa rồi, chúng tôi đã đến Hải Khẩu, chiêm ngưỡng một những trong cửa biển quan trọng nhất ở phía Nam Đại Việt xưa và để hồi tưởng câu chuyện về Đại Vương núi Tản từ Hải Môn (Hải Khẩu) men theo các con sông để trở về đất Phong Châu, Phú Thọ. Trước khi ra cửa biển Hải Khẩu, chúng tôi vào thắp hương ở đền Chế Thắng phu nhân, thờ liệt nữ Nguyễn Thị Bích Châu, dân gian thường gọi là đền Bà Hải, hay đền Hải Khẩu. Đền bà Hải tọa lạc ở một khu đất rộng lớn, cây cối um tùm xanh tốt, được xây dựng theo kiểu tiền miếu hậu lăng (phía trước là miếu thờ, phía sau là lăng mộ), phía trước đền là con sông đổ ra cửa biển Hải Khẩu.
Cũng theo sách Thiên Nam lộ đồ: "Hải Khẩu xưa là Hải Môn của Hà Hoa, trên cửa biển có miếu, xưa Trần Duệ Tông nam chinh đến đây gặp trở phong (gió cản), bất lợi với thuyền, vua bèn trai giới, lấy cung nữ Chế Thắng phu nhân đặt tiền vàng trên mâm rồi cho trôi trên biển làm thành Loan thần (Thần vũng biển) rồi bị chìm ở đó. Bà rất linh thiêng nên có người đã lập đền thờ ở phía bên phải cửa đó, nay trong tự điển (điển thờ của nhà nước) đã phong làm Trung đẳng thần. Đền ở phía dưới vịnh gọi là cửa Nương Loan. Phía bên phải cửa biển có núi Bàn Độ, có đình Tòng Thủy, có mấy vị khanh nhân mộng thấy hai tiên nữ theo vào núi ở trong đầm, bên phải núi có Bàn Thượng".
Sau khi viếng đền bà Hải, chúng tôi theo chỉ dẫn của google, men theo bờ sông đi thẳng đến cồn cát cuối cùng, phía bên trái là đồn biên phòng Hải Khẩu, theo sử sách nơi đây các đời đều đặt đội tuần tra cửa biển. Đến đây, chúng tôi xuống dưới chân cù lao cát để ra cửa biển, đi khoảng 100 m, chúng tôi đã nghe tiếng vọng của sóng biển ùa về, tiến sâu hơn vài chục mét nữa, chúng tôi đã ra tới sát mép bờ biển, gió lồng lộng thổi, sóng vỗ bờ ào ạt, bờ cát trắng phau, trải dải vài trăm mét.
Một cảm giác rất "Yomost", lâng lâng xúc động, đầy ắp sự tưởng tượng bay bổng khi nghĩ về hình ảnh con trai của Lạc Long Quân - một chàng trai của biển cả, sức vóc vạm vỡ, đã từ đây theo cửa biển Thần Phù, đi theo các sông để trở về với mẹ trên đất Phong Châu, Phú Thọ và trở thành Đại Vương núi Tản. Tôi thực sự xúc động, không nghĩ mình đã từng đọc, từng nghiên cứu Hải Khẩu trên trên các bàn đồ cổ, nay có dịp đặt chân tới cửa biển linh thiêng này.
Phía bên trái (nếu nhìn từ biển) là núi Cao Vọng; phía bên phải là núi Bàn Độ, có lẽ cách xa cửa biển nên không thể nhìn thấy. "Người xưa kể rằng núi Bàn Độ đẹp như cảnh tiên, cây cối chim muông nhiều vô kể. Trên núi có đầm nước trong, thổ dân thường thấy các tiên nữ xuống tắm, rồi từ trong đầm đi lên núi chơi ở chỗ bàn cờ. Bởi vậy, đầm nước này gọi là đầm Thủy Tiên và chỗ bàn cờ cũng gọi là bàn cờ tiên".
Xúc động trước cảnh mây núi giăng giăng, biển trời bát ngát, sừng sững đền thiêng, năm 1471 trên đường đi đánh Chiêm Thành trở về nghỉ lại đây, vua Lê Thánh Tông đã cảm hứng viết bài thơ như sau (theo Thiên Nam lộ đồ):
御制詩云:
河華到處雨崇朝
寰海茫然四望遙
觸石悠悠雲戀岫
泝崖洶洶浪隨朝
水仙潭上煙霞古
制勝祠中草木嬌
倚蓬窻吟興發
詩懷客切倍無聊
Phiên âm:
Ngự chế thi vân:
Hà hoa đáo xứ vũ sùng triêu,
Hoàn hải mang nhiên tứ vọng diêu,
Xúc thạch du du vân luyến tụ,
Tố nhai húng húng lãng tùy triều,
Thủy tiên đàm thượng yên hà cổ,
Chế Thắng từ trung thảo mộc kiều,
Túy ỷ bồng song ngâm hứng phát,
Thi hoài khách thiết bội vô liêu.
Nhà nho Đỗ ngọc Toại dịch thơ:
Mưa mai mù mịt cửa Hà Hoa,
Ngắm biển mênh mang bốn phía xa.
Mây mến đầu non vờn vách đá (*),
Sóng va sườn núi bọt tung ra (**).
Thủy Tiên đầm nọ đầy sương ráng,
Chế Thắng đền kia rực cỏ hoa.
Say tựa bên mui càng nảy hứng,
Lòng thơ dạ khách khó khuây khoa.
(*) (**) Chúng tôi dịch theo bản chữ Hán Thiên Nam lộ đồ. Bản dịch cũ: "Mây mến đầu non lơ lửng đứng, Sóng theo con nước rập rờn qua".
Từ thành phố Vinh về Hải Khẩu ở Kỳ Ninh khoảng hơn 150 cây số, men theo đường biển về Kỳ Ninh, bạn sẽ cảm thấy choáng ngợp với phong cảnh rất đẹp hai bên đường. Hy vọng Hải Khẩu và đền Chế Thắng phu nhân sẽ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích thiên nhiên và di sản.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét