Thứ Ba, 30 tháng 4, 2024

Hình tượng La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp qua kịch bản tuồng "Phượng hoàng trung đô" (ThS. Nguyễn Trọng Quỳnh)

La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp được hậu thế đánh giá là một người thiên tư sáng suốt, học rộng, hiểu sâu, , được vua Quang Trung tôn làm quân sư của triều đình, tham gia hoạch định, đề ra nhiều cải cách rộng lớn về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội dưới triều đại nhà Tây Sơn, là nhà sư phạm quyết tâm cải cách giáo dục, giúp nhà Tây Sơn cải cách với quan niệm “giáo dục tốt thì người tốt nhiều, người tốt nhiều thì triều cương chính, thiên hạ trị”.

Thông tin về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Thiếp từ lâu đã đi vào sử sách nước nhà, được hậu thế biết đến qua nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu, các bài viết đăng tải rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy vậy, cuộc đời và hành trạng của Nguyễn Thiếp được phản ánh qua nghệ thuật, sân khấu lại không nhiều, nếu có chỉ là điểm xuyết qua một vài sự kiện, tình tiết đơn lẻ.

Tại Liên hoan Tuồng và Dân ca kịch toàn quốc năm 2022 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức ở thành phố Vinh (Nghệ An), lần đầu tiên, hình tượng La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp đã xuất hiện với vai trò nhân vật chính, xuyên suốt trong vở tuồng “Phượng Hoàng Trung Đô” của tác giả: Lê Công Phượng, đạo diễn: NSND Hoài Huệ, do Nhà hát nghệ thuật truyền thống tỉnh Khánh Hòa biểu diễn dự thi. Vở diễn đã đạt Huy chương Đồng, cá nhân diễn viên đạt 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc và 1 Huy chương Đồng.

Tham gia Hội thảo, dưới góc độ của người đã từng có nhiều năm tham gia hoạt động và quản lý nghệ thuật sân khấu truyền thống tại Bình Định, với tấm lòng kính ngưỡng cụ, cá nhân tham gia bài viết với chủ đề “Hình tượng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp qua kịch bản tuồng “Phượng Hoàng Trung Đô””.
1. Về bối cảnh lịch sử, trước kịch

Triều đình Nhà Lê mạt vận, Trịnh - Nguyễn phân tranh, muôn dân cơ cực, Nhà Tây Sơn nổi lên phất cờ khởi nghĩa. Trước thực trạng rối ren của đất nước, Nguyễn Thiếp cũng như nhiều bậc trí thức đương thời rơi vào trạng thái chông chênh, chơ vơ, không biết theo ai để phụng sự non sông nên đành chọn cách ẩn cư dạy học. Đúng lúc đó, Lê Chiêu Thống lại có hành động đê hèn - rước giặc Mãn Thanh về giày xéo giang sơn. Từ đó, ngọn cờ chính nghĩa về tay Nguyễn Huệ, ông lên ngôi tại núi Bân và hiệu triệu muôn dân chống quân xâm lược.
2. Về hệ thống nhân vật

- Tuyến chính diện có: La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp, Nguyễn Huệ (vua Quang Trung), Đặng phu nhân (Vợ của La Sơn Phu Tử), Nguyễn Trí (Học trò, sau này là con rể của La Sơn Phu Tử), Nguyễn Nương (Con gái La Sơn Phu Tử), Nguyễn Quang Đại (Cận thần của vua Quang Trung), Như Thị (Con nuôi của La Sơn Phu Tử);

- Tuyến phản diện có: Bá Xảo (Quan nhà Lê – Trịnh, sau này theo Nguyễn Ánh, là cậu của Nguyễn Thích), Nguyễn Ánh (Sau này là Hoàng đế Gia Long), Nguyễn Thích (Học trò của La Sơn Phu Tử - đốc công xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô, là cháu của Bá Xảo), Đặng Tam và Hữu Tứ (hai thuộc hạ của Bá Xảo).

Ngoài ra, còn có các nhân vật phụ khác: Lão bá, dân làng, quân lính …
3. Về hệ thống màn lớp kịch

Ngoài màn Khai từ (vua Quang Trung lên ngôi tại núi Bân, truyền hịch, tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh), có 08 màn lớp chính, gồm:

- Màn 1 (Cảnh nhà La Sơn Phu Tử): Nguyễn Thiếp từ chối Bá Xảo về theo phò vua Lê Chiêu Thống;

- Màn 2 (Cảnh bến sông Lam): vua Quang Trung tìm gặp Nguyễn Thiếp, Nguyễn Thiếp và gia đình tình nguyện tham gia giúp vua đánh giặc ngoại xâm, xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô;

- Màn 3 (Sân khấu chia làm ba không gian.):

Không gian 1 - Cảnh La Sơn Phu Tử đứng trên bục cao, xung quanh là những dân phu làm động tác ước lệ xây thành Phượng Hoàng Trung Đô;

Không gian 2 - Cảnh Dân làng nô nức kéo về và chia nhau thành từng nhóm đi dựng đô, nhập lính, tải lương thực;

Không gian 3 - Cảnh Luyện binh ở Quỳ Hợp, Quang Trung và Nguyễn Trí đứng trên bục cao, bên dưới quân lính luyện tập;

- Màn 4 (Tại công trình xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô còn dang dở): Hiểu được tâm ý của Nguyễn Huệ trong việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô, cũng như tầm quan trọng của nơi đây với chiến lược xây dựng và phát triển của nhà Tây Sơn về sau, nên Bá Xảo đã dụ dỗ Nguyễn Thích - Tổng quan xây dựng hoàng thành, bày mưu gian cùng bọn thuộc hạ Đặng Tam, Hữu Tứ tìm cách rút ruột, phá hoại công trình;

- Màn 5 (Tại một góc khuất của công trường xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô): bọn Bá Xảo, Nguyễn Thích, Đặng Tam, Hữu Tứ bưng vàng bạc chia nhau; Như Thị đi đến bắt gặp, bị Nguyễn Thích giết chết; bọn Nguyễn Thích, Đặng Tam, Hữu Tứ bị bắt và xử chém, Bá Xảo trốn thoát;

- Màn 6 (Tại viện Sùng Chính): trong bối cảnh triều Tây Sơn đã mất, Bá Xảo đến giết chết Đặng phu nhân, con gái, con rể và bắt ép Nguyễn Thiếp phải về phục vụ triều vua Gia Long, nếu không nghe sẽ giết chết tất cả dân trong vùng;

- Màn 7 (Kinh đô Phú Xuân): Nguyễn Thiếp đối đáp cùng vua Gia Long;

- Màn 8 (Cảnh bến sông Lam): Nguyễn Thiếp về quê, dặn dò học trò trước lúc mất.
4. Về nội dung, tư tưởng

Kịch bản để biểu diễn sân khấu, do không gian và thời gian bị hạn chế nên yêu cầu tính kịch và dung lượng sự kiện cần phải cô đọng đến mức tối đa, ngôn ngữ phải hàm súc, đa nghĩa. Alexandre Dumas (1802 – 1870) là đại văn hào nổi tiếng người Pháp gốc Phi, tác giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như là Ba chàng lính ngự lâm, Bá tước Monte Cristo,… đã từng nói rằng “sự thật lịch sử chỉ là cái đinh để nhà văn móc chiếc áo (ý nói câu chuyện) của mình lên”. Khi đưa các dữ liệu lịch sử lên sân khấu Tuồng, quá trình sáng tạo này đòi hỏi phải nhào nặn lại để thể hiện một tư tưởng khác, một nội dung mới. Đó là quan niệm mới về nhân vật và cách kể. Chính những đặc điểm nêu trên, tác giả đã có nhiều sáng tạo, chắt lọc các sự kiện cần thiết để đảm bảo ý nghĩa nội dung, tư tưởng muốn chuyển tải qua tác phẩm. Kịch bản tuồng “Phượng Hoàng Trung Đô” không đi sâu vào miêu tả toàn bộ cuộc đời và công trạng của La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp mà chỉ khai thác, xoáy sâu vào những dữ kiện lịch sử lớn, những chi tiết có liên quan phục vụ thiết thực nhất cho việc lột tả phẩm chất tài hoa, nhân cách thanh cao của bậc sĩ phu uyên bác này.

Ngay từ màn 1, trước tin Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch, tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh xâm lược, Nguyễn Thiếp đã trải lòng với những ưu tư nặng trĩu trước thời cuộc rối ren, tự hỏi lòng mình về con người Nguyễn Huệ, phân vân khi phải kiếm tìm một vị vua để tôn phò, cứu nước cứu dân.

Ngâm: Thời thế trúc tùng như cỏ dại Nhiễu nhương đen trắng cũng nan phân Hiếu trung thậm khó tìm minh đạo Thôn dã lui về vẹn nghĩa nhân

Nhìn non sông gấm vóc Nay đổ nát hoang tàn

(Chao ôi! Ngẫm… thấy càng xót hận tâm can cho tình thế hiện giờ)

Để chúng dân có được cảnh bình an

Duy chỉ có Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ…

Hát Khách: (Tuy vậy nhưng giờ đây)

Thời thế đảo điên (liệu rằng Bắc Bình Vương có như một số quyền thần Trịnh, Mạc, Nguyễn kia mà)
Giả nhân nghĩa soán ngôi thiên tử

(Chính vì vậy mà đã 3 lần)
Chối từ phụng sự (giúp cho) nhà Tây Sơn dẹp loạn an dân

Kịch bắt đầu từ xung đột. Xung đột là cơ sở của kịch. Xung đột kịch do tính chất sân khấu quy định đồng thời xung đột làm cho kịch có tính sân khấu. Tính kịch đã được tác giả đẩy lên cao trào ngay sau đó bằng sự kiện Bá Xảo đến thuyết phục, dọa dẫm, ép Nguyễn Thiếp theo phò vua Lê Chiêu Thống. Cuối cùng ông đã cự tuyệt với một tâm thế hiên ngang, quyết không theo phò tên vua bán nước để cầu danh lợi cho mình.

Bá Xảo: (Đám quân lính bao vây Nguyễn Thiếp. Bá Xảo gằn giọng) (Ngươi nên nhớ!)
Khách Tẩu: Chống lệnh thánh quân, hậu quả ắt sẽ là bi thảm

(Rồi mai đây)

Thiên triều đại thắng, hẳn nhà ngươi lãnh án tru di! La Sơn Phu Tử: (Ta và gia đình ta)

Thà chịu cảnh thảm thê

(Còn hơn)

Theo về phường bán nước! (Nguyễn Thiếp lại gần Bá Xảo) Tiễn Khách!

Bá Xảo: Nguyễn Thiếp! Ta không quên nỗi nhục này. Rồi đây ngươi sẽ biết, … ngươi chờ đấy!

Về!

Việc tạo xung đột giữa Nguyễn Thiếp và Bá Xảo ngay từ đầu, tác giả đã thành công khi tạo nên một mối kịch quan trọng để dẫn dắt cho các sự biến diễn ra sau đó có liên quan, tác động trực tiếp đến số phận nhân vật Nguyễn Thiếp.

Tại màn 2, với bao khát khao, trông chờ để kiếm tìm một vị minh quân cứu dân cứu nước, và buổi gặp gỡ định mệnh giữa Nguyễn Thiếp và vua Quang Trung tại bến đò trên dòng Lam giang đã được giải tỏa, tạo nên một bước ngoặt trọng đại trong cuộc đời của vị túc nho vốn luôn đau đáu một niềm vì dân vì nước.

Nguyễn Huệ: Thưa tiên sinh, cho phép ta được hỏi?

(Đã nhiều lần Bắc Bình Vương) Mời tiên sinh về vớiTây Sơn (Nhưng người…)

Lại nhất mực chối từ phụng sự?
Nguyễn Quang Đại:

(Đúng là như vậy!)

Đã ba lần, đệ mời tiên sinh về giúp sức với Tây Sơn. Nhưng mà …
La Sơn Phu Tử:

Hát Khách: (Thật không dám giấu gì hai vị! Như lão đây)
Nương chốn thâm sơn,

bởi thời cuộc non sông nhiễu loạn

(Lão chỉ muốn)
Giữ mình thanh sạch,

tránh sa vào toan tính nhuốc nhơ.

Nguyễn Huệ: Dạ thưa tiên sinh, ta chưa hiểu ý tiên sinh?!

Tại sao ông lại bảo theo phò Nguyễn Huệ là toan tính nhuốc nhơ?)

La Sơn Phủ Tử: (Hai người thấy đó!)

Non nước chia năm bè bảy mối

Bọn quyền thần núp bóng phò vua

(Các họ Trịnh – Mạc – Nguyễn kia)

Ngoài mặt nói phò Lê (Nhưng thực chất) Lòng mưu toan soán vị Nguyễn Quang Đại:

(Tiên sinh nói phải lắm)

Nhưng đã có ngọn gió Tây Sơn hùng vĩ Dẹp hai Đàng Trịnh Nguyễn phân tranh Đến hôm nay thống nhất giang sơn

Hoàng đế Quang Trung áo vải cờ đào giúp dân dựng nước.

La Sơn Phu Tử: (Phải lắm! Hoàng đế Quang Trung là của ngày hôm nay, ngày mà Lê Chiêu Thống rước giặc Thanh về giày tiên tổ!)

Nguyễn Huệ:

Đọc Ngâm: Ta dựng nước từ lều tranh giày cỏ Bởi thương dân lòng chẳng quản gian nan

Lòng trong ngọc sáng tỏ cùng trời đất

Vướng bận làm chi với miệng lưỡi thế gian La Sơn Phu Tử: (Kinh ngạc)

Người là …Hoàng Đế Quang Trung (tất cả dân làng ra quỳ sụp xuống)

Tất cả: Hoàng đế Quang Trung!

La Sơn Phu Tử: Ôi! Tận tai lão nghe lời vàng ý ngọc Mới thấy mình có mắt không tròng

Cứ nghĩ rằng giữ tấm thân trong Mà chẳng chịu ra phò minh chủ Lão thật có lỗi.

Khi đã xác định được Quang Trung - Nguyễn Huệ chính là vị minh quân vì dân vì nước, Nguyễn Thiếp đã đem cả gia đình và học trò quy thuận, phò vua đánh giặc. Sau đó, ông đã dốc lòng hiến những kế sách mang tầm chiến lược quân sự cho Hoàng đế Quang Trung an bang trị quốc; xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô – một kinh đô có tầm quan trọng chiến lược, có thể gọi là: “Nơi quy tụ hiền thần/ Chốn non sông uy vũ…”.

Và tại màn 5, chúng ta đã bắt gặp một con người Nguyễn Thiếp có tinh thần thượng tôn pháp luật, quân pháp bất vị thân, xử chém cả học trò Nguyễn Thích khi phạm tội ác: giết người diệt khẩu, tham nhũng, phá hoại công trình của triều đình.

Nguyễn Thích: (Dạ!) Tội lỗi con xin nhận

Mong Sư phụ khai ân (Mà tha cho con một lần!)
La Sơn Phu Tử:

Hát Khách: (Nguyễn Thích….! Như ngươi là)
Bất nghĩa bất trung, làm những việc vô cùng bỉ ổi

(Chua xót cho ta bao nhiêu năm nay)
Vun bồi dạy dỗ, lòng những mong đó được tài hoa

(Những gì ngươi phạm phải là tội lỗi tày trời! Quân!)

Quân: (Dạ!)

La Sơn Phu Tử: (Nguyễn Thích được phó thác làm Tổng quan xây dựng Hoàng thành mà thông đồng cùng giặc mưu đồ phá hoại Trung Đô. Y lệnh ta)

Mau lôi chúng ra ngoài Dụng đại đao chấp pháp

Nguyễn Thích: (Khoan! Chém đầu ta ư!?... Không!... Không…! Nguyễn Thiếp!... Bao năm nay)

Ông dạy ta toàn theo sách vở Sống phải thờ đạo lý thánh hiền

(Ta hỏi ông!.. Đến nay ngoài những thứ Tam cương, Ngũ thường hư ảo đó ta có được gì chứ? Tiền, bạc, công danh đều không…? Đến Nguyễn Nương, người con gái ta yêu cũng yêu kẻ khác… Mà xét đến tài năng ta cũng đâu có thua ai!? Tại sao mọi thứ bỏ ta mà đi hết!? Không…! Không! Ta cần phải có tất cả! Có tất cả ông hiểu chứ? Từ cuộc sống xa hoa đến những thứ mà ta mong muốn…!)(Cười man dại)

La Sơn Phu Tử: Uổng công ta tận tâm dạy dỗ

(Nhưng mà)

Chữ hiền nhân ngươi ngộ không thành Chưa nên bậc tài danh

(mà lòng vị kỷ của ngươi)

Đã chất cao nhường ấy

(Chao ôi! Thật chua xót… chua xót cho ta bấy lâu nay…)

Dốc hết lòng truyền dạy

(Ai có ngờ)

Lầm phải hạng vô nhân

(Không thể dạy dỗ ngươi thành người hiền đức, tâm can này day dứt biết bao! Thôi thì…! Quân!)

Quân: (Dạ!)

La Sơn Phu Tử: (Chấp pháp!)

Đến màn 6, sau khi vua Quang Trung đột ngột băng hà, triều Tây Sơn đến hồi tan rã, Nguyễn Ánh đã lên ngôi Hoàng đế, đem quân truy sát, tìm bắt những người từng cộng tác với cựu triều, tính kịch đã được đẩy lên cao trào khi tác giả để cho Nguyễn Thiếp lộ rõ khí tiết của một trượng phu bất khuất, thà chết chứ không chịu hàng phục dù phải lần lượt chứng kiến cái chết của những người thân: vợ, con gái, con rể và qua đó. Nhưng sau đó, trước tính mạng bao sinh linh bị đe dọa, với một tấm lòng thương dân, không muốn dân trong vùng liên lụy vì việc từ chối hợp tác với tân triều, ông phải đưa ra một lựa chọn trong đau đớn:

La Sơn Phu Tử: (Á! Phu Nhân! Phu nhân ơi…!)

Tột cùng đau đớn Quá đỗi bi thương

Thán đạp: Tang tóc chia lìa, gia cảnh thảm thê lòng tê tái Điêu ninh loạn lạc, nước non tan tác dạxót xa (Cảnh nhà, nỗi nước thế này ta…?!

Phải! Phải lắm…!Chi bằng)

Mượn kiếm bạc hùng anh ngạo nghễ (Cùng với gia đình ta, theo Tiên Hoàng) Đặng giữ tròn khí tiết trượng phu!

(Nhặt kiếm đứng dậy hiên ngang đưa lên cổ)

Bá Xảo: (Nghiến răng quát!)

(Khoan! Nguyễn Thiếp! Ta biết ngươi vốn bậc túc nho, một con phụng hoàng của đất La Sơn này… Ngươi tài lắm, giỏi lắm và cũng dũng khí lắm…! Chẳng thế mà vua Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, Tây Sơn tất cả đều muốn dùng ngươi…! Ta biết ngươi có thể chấp nhận hy sinh cả gia đình mình vì lý tưởng cao đẹp! Nhưng ngươi nên nhớ! Nếu ngươi tự vẫn thì không chỉ gia đình ngươi mà dòng họ của ngươi cũng chết! Không chỉ dòng họ nhà ngươi mà tất cả dân chúng ở vùng La Sơn này cũng chết! Ta sẽ cho chém hết! Chém không sót một ai… không sót một ai đâu… hiểu chứ?!) (Cười man dại)

La Sơn Phu Tử: (Trời!) (Kiếm rớt, sụp xuống)

Sao Người nỡ để quân ác thú

Đem điêu tàn phủ bóng giang sơn!?

(Từ từ đứng dậy hướng về người thân)

(Phu nhân! Các con…! Phu nhân, các con ơi…!

Ta tưởng rằng)

Có thể mượn thanh kiếm báu Giữ tròn khí tiết trượng phu



(Và chúng ta)

Trút bỏ đi ngang trái mịt mù Về đoàn tụ ở miền cực lạc

(Nhưng xem ra ta không thể làm như thế được nữa rồi!

Bởi vì nếu mà ta chết thì!)

Phường sói lang độc ác Chúng tàn sát quê hương (Thôi thời…!)

Để muôn dân thoát cảnh cùng đường

(Ta cũng đành)

Nuốt lệ thảm vào nơi bể hận

Hát Nam: Nuốt lệ vào nơi bể hận
Ngẫm nhân tình lắm nỗi đắng cay

Bá Xảo: (Đắng cay à! Ha ha ha!)

La Sơn Phu Tử: (Ngươi nói đúng! Ta phải sống! Ta phải sống…!) (Cười cay đắng)

Bá Xảo: (Ngươi có theo ta về kinh không..?!)

La Sơn Phu Tử: (Được! Ta theo!)

Bá Xảo: (Ngươi theo! Ngươi theo à?!) (Cười đắc thắng)

Tại màn 7, trên cơ sở sự kiện có thật trong lịch sử, tác giả đã có sự sáng tạo khi tạo ra một màn đối đáp thú vị giữa Nguyễn Thiếp và Nguyễn Ánh sau khi ông bị bắt giải về kinh đô Phú Xuân, làm nổi bật một trung thần Nguyễn Thiếp với khí chất can trường, không thể khuất phục.

(Quân đưa Nguyễn Thiếp vào. Hai người đối diện)

Nguyễn Ánh: (Này ta bảo cho)

Hát Khách: Nghịch tặc La Sơn, (ngươi dám) gặp thánh đế mà không bái lạy ? (Hư…!)

To gan đến vậy,(hẳn là)
cái đầu ngươi chắc lắm phải không ?

La Sơn Phu Tử: (Thưa nhà Chúa! Tôi suốt đời chỉ)

Hành lễ với chủ công

(Còn với người khác thì)



Quyết sẽ không quỳ gối

Nguyễn Ánh: (Khẩu khí lắm! Thôi được! Ta hỏi đây! Như ngươi là)

Hát Khách: Tài trí uyên thâm, (với lũ Ngụy Tây ngươi đã)
dồn tâm huyết cả đời chỉ dạy

(Vậy mà tại sao bây giờ ngươi lại để cho ta)
Nơi đây có thể,

bước hiên ngang trong tiếng khải hoàn (là sao hả?)

La Sơn Phu Tử: Sách thánh hiền bao điều răn dạy

(Nguyễn Thiếp tôi truyền thụ cho học trò)

Cả trăm người lời ấy như nhau

(Nhưng mà)

Việc lĩnh hội nông sâu Còn là do tư chất

Nguyễn Ánh: (Vậy à! Này Nguyễn Thiếp! Ta đây thấy ông)

Khí chất quả sĩ phu đáng mặt. (Nay ta thực lòng muốn vời ông) Đem tài hoa đặng giúp non sông (Ông thấy sao?)

La Sơn Phu Tử: (Việc này! Nguyễn Thiếp tôi không thể!)

Nguyễn Ánh: (Tại sao?) Ông chỉ theo Nguyễn Huệ (Mà lại)

Không thể phụng sự ta?

La Sơn Phu Tử: (Xin thứ cho Nguyễn Thiếp tôi nói thẳng!)

Nguyễn Ánh: (Cứ nói!)

La Sơn Phu Tử: (Vì với)

Hát Khách: Vận mệnh giang sơn, (Tiên đế tôi)

đúng là bậc quân vương chính nghĩa Nguyễn Ánh: (Vậy lẽ nào)

Ta đây chẳng phải,

Bậc đế vương sáng suốt anh minh

La Sơn Phu Tử: (Đúng vậy!)

Nguyễn Ánh: (Á…! Úy cha chả…!)



Nguyễn Thiếp kia lớn mật Dám vấy bẩn thiên uy (à!) (Đao phủ quân!)

Quân: (Dạ!)

Nguyễn Ánh: (Dẫn ra pháp trường, trảm cho ta!)

Quân: (Tuân mệnh!)

Nguyễn Ánh: (Quân vừa đưa Nguyễn Thiếp đi được vài bước thì Nguyễn Ánh kêu lên)

(Khoan đã!) (Chỉ vào mặt Nguyễn Thiếp)

(Này tặc nhân Nguyễn Thiếp! Nhà ngươi đã dám)

Hát Khách: Xúc phạm thiên uy, (Được! Trước khi chết, ta sẽ để cho ngươi nói hết xem vì sao mà ngươi lại dám buông lời xằng bậy rằng Gia Long ta)

không phải là đế vương nhân nghĩa (Ngươi không nói được thì ta sẽ cho) Voi dày ngựa xé,

(Không những thế mà cả ba họ nhà ngươi)
cũng chịu chung số phận tru di La Sơn Phu Tử:

Hát Khách: (Thưa nhà chúa! Như Tiên đế tôi thấy cảnh)

Xã tắc điêu linh, (nên người)

thương dân chúng khởi binh dấy nghĩa

(Còn các đời chúa Nguyễn cùng với chúa Trịnh và nhà Mạc thời chỉ là thừa cơ lúc nhà Lê suy yếu mà)

Chia nhau cát cứ,

giữ mưu đồ soán vị tiếm ngôi

(Chưa hết! Như ngài có được ngày hôm nay cũng là)

Dựa ngoại bang mà thắng chúa tôi

(Như vậy)

Thành quả ấy có rồi mầm họa

Nguyễn Ánh: Ta mượn người Tây Dương giúp sức

(Đại nghiệp thành, mai đây) Vững giang sơn ta trả là xong. (Họa chỗ nào?)



La Sơn Phu Tử: (Có thứ trả được, có thứ không thể nào trả được!)

Nguyễn Ánh: (Thứ gì không trả được?)

La Sơn Phu Tử: (Máu!) (Nguyễn Ánh giật mình, hoảng hốt)

Nguyễn Ánh: (Máu!... máu không trả được… không trả được!)

La Sơn Phu Tử: Đó sẽ là mầm họa về sau

(Nó sẽ lại tiếp tục)

Vùi trăm họ sâu trong khói lửa

Nguyễn Ánh: (Sao…?)

Đó sẽ là mầm họa về sau

vùi trăm họ sâu trong khói lửa (ư?) (Lẩm bẩm 2 đến 3 lần) (Quân! Thả…Thả người!......................................... Ngươi…ngươi hãy đi đi!)

(La Sơn Phu Tử đi, Nguyễn Ánh vẫn cứ lẩm bẩm một mình)

Màn 8, màn kết lại của vở tuồng ca ngợi vị danh sĩ một lòng yêu nước, thương dân, có tầm nhìn xa trông rộng và thấu hiểu lẽ hành tàng xuất xử ở đời.

La Sơn Phu Tử: (Ho một tràng dài!)

(Này các con! Ta đây)

Trải thế sự trầm luân loạn lạc Tuổi già thời sức cũng yếu thay

(Nhưng dẫu vậy thì)

Đạo nghĩa nhân vẹn giữ tâm này

(Dù có chết cũng)

Noi hiền thánh yêu dân yêu nước

(Ta hy vọng rằng các con hiểu và cũng sẽ theo chí hướng của ta!)

Học Trò 1: (Nhưng thưa thầy!)

Làm thế nào noi chí nghĩa nhân?

(Khi)

Nhà Tây Sơn đã không còn nữa!

La Sơn Phu Tử: (Các con!)

Nhà Tây Sơn không còn

(Nhưng)

Non nước ta vẫn đó

(Các con nên nhớ)

Hát Khách: Thế cuộc hưng suy, triều đại cũng có khi thay đổi

(Nhưng mà dân tộc ta thì)


Trường tồn vạn đại, sánh càn khôn tuế nguyệt thiên thu.

(Các con à)

Đạo thánh hiền cốt ở chữ nhân

(Cho nên)

Bậc quân tử phải tròn trách phận.

(Trách phận ở đây là lòng yêu nước thương dân, trách nhiệm với sự tồn vong của giòng giống Lạc Hồng và non sông gấm vóc)

Học Trò: (Vậy chúng con có nên ra làm quan với Nhà Nguyễn không thưa thầy?)

La Sơn Phu Tử: (Các con!)

Trời đất chuyển xoay, nắng mưa có lúc

(Nhưng dẫu thế nào thì)

Thân tùng dáng trúc, cũng vẫn hiên ngang Với việc ra làm quan

(Cốt yếu là để)

Tròn tình dân nghĩa nước Học Trò: (Dạ! Vậy nghĩa là…?) La Sơn Phu Tử: (Nghĩa là)

Gặp minh chúa tận tâm gắng sức Lĩnh điều hay phủ đức muôn dân Còn nếu như trúng phải hôn quân (Thì)

Cần can gián những điều vô đạo (Gây hại cho dân, cho nước)

Tất cả: (Dạ!)

La Sơn Phu Tử: (Hiện nay, thế thời đà thay đổi. Mối nguy hại đối với sự tồn vong của dân tộc chính là)

Bọn giặc Phú Lang Sa

(Chúng mới thực sự)

Là quỷ ma khát máu

(Vậy nên ta mong các con)

Hãy vượt qua quá khứ hận thù

Đặng gìn giữ non sông tươi đẹp

(Đó là bổn phận với giòng giống Lạc Hồng, non sông đất nước! Các con hiểu chứ?)

Tóm lại, “Phượng Hoàng Trung Đô” là kịch bản tuồng lịch sử, câu chuyện kể về nhân vật La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp, một bậc sĩ phu yêu nước tiêu biểu cho tầng
lớp trí thức Bắc Hà của nước ta vào thời kỳ Lê mạt. Với chủ đề tư tưởng là: Trí thức với vận mệnh dân tộc, “Phượng Hoàng Trung Đô” đã đề cập đến cách ứng xử của bậc trí thức trước sự biến thiên thời cuộc, cũng như trách nhiệm của họ với sự tồn vong của xã tắc sơn hà. Tác phẩm được thể hiện qua ngôn ngữ sân khấu Tuồng, phù hợp với đặc trưng thể loại của loại hình nghệ thuật này là đậm chất bi hùng. Tác giả đã biết khai thác, chắt lọc các sự kiện lịch sử và có nhiều sáng tạo trong xây dựng hình tượng nhân vật, tuyến kịch, xung đột kịch; vận dụng phù hợp các thể loại thơ, văn biền ngẫu, hường, kẽ trong hát - nói. Tất cả đã góp phần làm sáng rõ, nổi bật hình tượng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, mang đến khán giả hôm nay một sự cảm nhận mới thông qua ngôn ngữ sân khấu Tuồng, qua đó thể hiện sự kính ngưỡng, tôn vinh của hậu thế về những đóng góp của vị danh sĩ Nguyễn Thiếp trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...