Trong tinh thần của tâm lý học tiếp nhận, từ năm 1986 tôi đã đề xuất một phương pháp mới của riêng tôi , và nó cũng có giá trị bổ sung cho các phương pháp khác, đó là phương pháp dùng “ngưỡng tâm lý” để xác định hiệu quả thẩm mỹ của tác phẩm, có thể gọi là “phương pháp ngưỡng tâm lý” (“Nghiên cứu sự tiếp nhận văn chương trên quan điểm liên ngành”, “Tạp chí văn học”, số 4-1986). Tôi xin nhắc lại một số luận điểm chính của phương pháp này.
Xuất phát điểm của tôi là tôi có nhận xét rằng nhìn chung, các lý thuyết tâm lý học phương Tây chưa chú ý thoả đáng đến cái cơ chế cảm thụ thẩm mỹ của người tiếp nhận văn học. Ngay cả Vygotskij, một trong số ít người rất quan tâm đến cơ chế này, lại cho rằng, khác với cảm xúc thông thường, cảm xúc nghệ thuật không biểu lộ ra ngoài, mà nó được giải quyết chủ yếu bằng các hình ảnh của tưởng tượng.
Ở đây cần phải thấy rằng quan điểm tâm lý học của Vygotskij về catharsis lại chưa phân tích đầy đủ hết các khía cạnh tâm lý của vấn đề. Theo tôi, cảm xúc thẩm mỹ là một cảm xúc vừa mang tính trí tuệ vừa mang tính tâm lý. Và một khi nó còn mang tính tâm lý thì mọi biểu hiện ra bên ngoài đều không thể tránh khỏi. Có điều, đối với mỗi một loại hình nghệ thuật khác nhau và đối với mỗi trình độ nghệ thuật khác nhau thì sự biểu lộ cảm xúc nghệ thuật cũng khác nhau, nó có thể đi từ chỗ biểu lộ rõ ràng nhất, ồn ào nhất (như cảm xúc khi xem hài kịch) đến sự thể hiện tinh tế, kín đáo (thưởng thức một cuốn tiểu thuyết triết lý).
Đến đây chúng ta có thể đặt câu hỏi: khả năng chịu đựng của cảm xúc tâm lý - nghệ thuật của độc giả là vô hạn hay hữu hạn?
Chúng ta biết rằng khả năng chịu đựng của các giác quan sinh lý con người là có hạn, hơn nữa người ta còn tiến tới đo được các cảm giác tâm - sinh lý của con người. Từ thế kỷ XIX, nhà sinh lý học đồng thời là nhà triết học người Đức Gustav Theodor Fechner (1801-1887) đã đưa ra khái niệm “ngưỡng” trong phép đo cảm giác. Fechner phân ra hai loại ngưỡng: * “ngưỡng tuyệt đối” (ngưỡng kích thích dưới), là khối lượng năng lượng vật lý nhỏ nhất có thể gây ra một cảm giác (chuyển từ chỗ không có cảm giác sang chỗ có cảm giác – ví dụ như ngưỡng nghe của thính giác); và * “ngưỡng vi phân”, là sự gia tăng cường độ vật lý vừa đủ để gây ra một cảm giác mới (chuyển từ cảm giác này sang cảm cảm giác khác – ví dụ: ngưỡng đau thính giác). Vậy liệu ta có thể nói tới một khái niệm “ngưỡng tâm lý” trong cảm xúc nghệ thuật được không? Chúng tôi cho rằng có thể nói tới ngưỡng tâm lý, nhưng trong cảm xúc nghệ thuật, cảm xúc tâm lý gắn rất chặt với phản ứng của ý thức và chịu ảnh hưởng mạnh bởi ý thức, cho nên ta cũng có thể gọi đó là ngưỡng tâm lý - ý thức.
Cũng như ngưỡng tâm - sinh lý, chúng ta có thể nói tới hai loại ngưỡng tâm lý - ý thức: * “Ngưỡng tuyệt đối”, là cường độ tác động nhỏ nhất đủ để gây ra một "loại" cảm xúc hoặc ấn tượng; và * “Ngưỡng vi phân”, là sự gia tăng cường độ tác động đủ để chuyển từ một “loại” cảm xúc này sang một “loại” cảm xúc khác, từ một “loại” ấn tượng này sang một “loại” ấn tượng khác. Hiện nay, ngưỡng tâm lý mới chỉ là một giả thiết của chúng tôi, chúng tôi chưa thể đo được nó một cách cụ thể và chính xác, nhưng rõ ràng ở mỗi loại tác động khác nhau thì cảm xúc và ấn tượng của chúng ta cũng khác nhau. Người ta cười dễ hơn là khóc, do đó có thể nói ngưỡng tiếp nhận cái hài khác với ngưỡng tiếp nhận cái bi. Có những hiện tượng nghệ thuật gây ấn tượng vui vẻ, phấn khởi, thoải mái, hưng phấn,... và có những hiện tượng nghệ thuật gây ấn tượng đau buồn, nuối tiếc, bi thương, cảm thông, kính phục,...
Những ấn tượng này đều có khả năng gây xúc động, và cộng với tác động của yếu tố tư tưởng, chúng tạo cho ta khoái cảm thẩm mỹ mỗi cái theo một cách riêng. Chúng tôi cho rằng trong các trường hợp cụ thể, sở dĩ chúng tạo cho ta có được khoái cảm thẩm mỹ là do chúng chưa tác động vượt quá ngưỡng chịu đựng tâm lý - ý thức của chúng ta. Nhưng trong khi tiếp nhận văn học, đôi khi chúng tôi thấy có những hiện tượng văn học khi được lặp lại nhiều lần thì chúng có thể gây cho ta những ấn tượng nặng nề, khó chịu, bực bội. Đó là vì chúng đã vượt quá ngưỡng chịu đựng tâm lý của chúng ta, làm cho chúng ta chuyển từ loại ấn tượng này sang loại ấn tượng khác, ví dụ từ vui thích sang bực bội, từ hưng phấn sang nặng nề, khó chịu.
Có thể nói, đứng từ góc độ tiếp nhận, phương pháp ngưỡng tâm lý là một phương pháp kiểm nghiệm sự tác động thẩm mỹ của tác phẩm, qua đó góp phần đánh giá giá trị của tác phẩm. Còn đứng từ góc độ hiệu lực thực tiễn sáng tác mà xét thì khái niệm ngưỡng tâm lý trong khâu tiếp nhận văn học có một ý nghĩa quan trọng. Nó có tác động ngược lại đối với tác giả, góp phần giải đáp cho câu hỏi: “viết như thế nào?”, qua đó thực hiện chức năng “đồng tác giả” của độc giả. Phương pháp ngưỡng tâm lý có tác dụng nhắc nhở các nhà văn khi viết không nên chồng chất các sự kiện cùng loại đến mức “quá tải”, đi đến chỗ vượt quá ngưỡng chịu đựng tâm lý của người đọc, làm giảm hiệu ứng thẩm mỹ của tác phẩm. Ở đây, bắt buộc nhà văn phải vừa là độc giả để kiểm tra hiệu ứng tâm lý của tác phẩm, thử nghiệm cơ chế cảm thụ thẩm mỹ của người đọc, từ đó chấn chỉnh lại kỹ thuật viết văn của mình. Để làm được công việc này, nhà văn phải đứng từ một góc độ khác – góc độ độc giả –, để kiểm tra công việc lao động nghề nghiệp của mình. Do đó, có lẽ tôi xin đề xuất một khái niệm nữa là “tác giả - đồng độc giả”. Khái niệm này có khi có hiệu quả thực tiễn hơn là khái niệm “độc giả - đồng tác giả” của W. Iser trong trường phái “mỹ học tiếp nhận” ở Konstanz (Đức).
Đến đây xuất hiện một câu hỏi nữa: “Khả năng tiếp nhận của bộ nhớ của con người là vô hạn hay hữu hạn?” Với những gì diễn ra liên quan đến ngưỡng tâm lý, ta có thể cho rằng bộ nhớ con người có khả năng dừng tiếp nhận và đào thải thông tin. Liên hệ với lĩnh vực tiếp nhận văn học, khi một bộ nhớ đã được nạp đủ thông tin về một loại hình văn học rồi thì nó sẽ không tiếp nhận thêm những thông tin cùng loại này nữa. Tức là khi gặp một sản phẩm văn chương thuộc một loại hình đã được tiếp nhận bão hoà thì chủ thể tiếp nhận sẽ không đón nhận các sản phẩm thuộc loại đó nữa. Tuy nhiên, cộng đồng tiếp nhận là một tập thể đa dạng, vì thế việc dừng tiếp nhận lại diễn ra không đồng đều: có bộ nhớ dừng tiếp nhận nhưng cũng có bộ nhớ, thậm chí nhiều bộ nhớ, vẫn tiếp nhận cùng một sản phẩm được đưa ra. Trong trường hợp đó, ta có thể nói sản phẩm sáng tạo chưa chạm đến ngưỡng tiếp nhận của số đông người tiếp nhận. Và vì thế, việc tiếp nhận chỉ là một tiêu chuẩn động, tức “tiêu chuẩn khả biến”, để đánh giá giá trị nghệ thuật của sản phẩm. Cùng với thời gian, khi bộ nhớ tập thể đạt tới ngưỡng bão hoà, rất có thể các sản phẩm trước đó sẽ bị đào thải, chỉ những gì còn lại mới trở thành các giá trị nghệ thuật trường tồn. Chỉ có điều, ta cũng không nên phủ nhận hoàn toàn các sản phẩm bị đào thải, mà nên coi chúng là những giá trị có ý nghĩa tồn tại lịch sử. Trong tinh thần đó, tại một thời điểm lịch sử, một người có bộ nhớ sớm bão hoà cũng không nên coi thường những sản phẩm được số đông tiếp nhận, mà vẫn phải ghi nhận giá trị lịch sử của sản phẩm đó, nhưng có thể chỉ ra sự hạn chế có tính lịch sử của sản phẩm (kể cả đối với những tác phẩm được giải thưởng). Đó cũng là một đặc điểm cần thiết của phương pháp phê bình ngưỡng tâm lý.
(Trích NVD, “Phương pháp luận nghiên cứu văn học”, 2012 [in lần 3]).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét