Tóm tắt: Trong xu thế của du lịch đương đại, các vấn đề thường bắt nguồn từ hai yếu tố: cộng đồng địa phương và khách du lịch. Xây dựng chiến lược du lịch cộng đồng một cách hiệu quả và bền vững cũng cần nhìn nhận từ hai góc độ này: sự tác động của du lịch đối với cộng đồng địa phương; khách du lịch - nhu cầu, các xu hướng của khách du lịch và nghiên cứu khách du lịch.
Từ khóa: Cộng đồng địa phương, du lịch, khách du lịch, văn hóa dân gian.
Du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của xã hội, đóng vai trò không nhỏ đối với phát triển kinh tế địa phương nói riêng, quốc gia nói chung. Lịch sử du lịch Việt Nam gắn liền bối cảnh của đất nước qua từng giai đoạn. Bước ngoặt trong sự phát triển của du lịch Việt Nam là Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, thông qua chính sách đổi mới. Từ khoảng những thập niên cuối của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế trong du lịch. Hoạt động này góp phần duy trì và mở rộng thị trường cho du lịch Việt Nam, tăng cường và trao đổi du lịch giữa các nước, tranh thủ được sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trong các lĩnh vực như xây dựng Luật Du lịch, thu hút nguồn vốn đầu tư vào phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển sản phẩm du lịch và đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Bên cạnh đó, hoạt động hợp tác quốc tế trong du lịch giúp cho Việt Nam những kinh nghiệm và ứng dụng khoa học công nghệ tiến bộ vào quản lý và phát triển du lịch, tạo những thuận lợi cho du lịch Việt Nam hội nhập khu vực và thế giới. Theo nhận xét của ba nhà nghiên cứu từ hai trường đại học tại Úc, “cũng như bất cứ điểm du lịch nào, vị trí Việt Nam là một hàng hoá, được đóng gói và phân phát theo các phương pháp khác nhau. Những cái bản địa và những cái ngoại lai được tách ra khỏi không gian và thời gian, rồi đóng gói đưa ra chợ trời thế giới. Trong trường hợp Việt Nam, cảnh quan được mô tả như là một bộ phận của châu Á “chính thống” (cổ, truyền thống), nhưng nếu vén chiếc màn che mặt lên thì ta sẽ thấy nó thật hấp dẫn và thực tế còn vượt xa cả sự lãng mạn… Việt Nam là một điểm chưa được khám phá, một nơi phiêu lưu mới ở châu Á” .
Ở Việt Nam, trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập, ngành công nghiệp không khói được nhiều tỉnh thành chú trọng đầu tư phát triển. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, ngành du lịch vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả. Các điểm tham quan chưa thể hiện được bản sắc, đặc trưng của từng địa phương, các công ty du lịch chưa phát huy vai trò của mình trong các hoạt động nghiệp vụ. Đặc biệt, với giai đoạn thế giới có nhiều biến động, nhu cầu của du khách ngày càng đa dạng và chuyên biệt, số lượng khách du lịch không ổn định, việc xây dựng chiến lược, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động du lịch vô cùng thiết thực. Tham gia Hội thảo Văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ trong tình hình mới, với tham luận này, bài viết chú trọng bàn luận đến vấn đề khai thác văn hóa dân gian trong phát triển du lịch từ góc độ cộng đồng địa phương và khách du lịch.
1. Một số khái niệm liên quan
- Văn hóa dân gian
Theo tác phẩm Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, tác giả Chu Xuân Diên chủ biên: “Thuật ngữ folklore xuất hiện lúc đầu để chỉ một lĩnh vực riêng biệt nghiên cứu về thời cổ, về nhân chủng học, sau đó chỉ một khoa học riêng biệt cả về đối tượng nghiên cứu nữa. Các dạng thức nghiên cứu folklore cũng thay đổi dần dần: từ nhân học, sử học, xã hội học, dân tộc học đến nghiên cứu văn học. Nội hàm của thuật ngữ cũng được mở rộng, có lúc folklore chỉ tất cả các hiện tượng văn hóa tinh thần và một vài hình thức thuộc về văn hóa vật chất của nhân dân, sau đó lại xuất hiện khuynh hướng muốn giới hạn thuật ngữ đó. Cho đến nay vẫn còn tồn tại hai khuynh hướng cực đoan hoặc quá mở rộng, hoặc thu quá hẹp… Nếu khuynh hướng thứ nhất về thực chất coi folklore và dân tộc học (hoặc nhân học văn hóa) là một, thì khuynh hướng thứ hai coi việc nghiên cứu folklore chỉ là việc nghiên cứu văn học . Ở Việt Nam, sự phát triển của ngành khoa học này mới chỉ hình thành từ nửa cuối thế kỷ XX, khi văn hóa phương Tây, chủ yếu là văn hóa Pháp du nhập vào Việt Nam. Quan niệm về văn hóa dân gian, tác giả Trần Quốc Vượng trình bày quan niệm của ông: “Nói folklore Việt Nam là nói tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hóa của dân gian ở mọi nơi, trong mọi thời, của mọi thành phần dân tộc đang hiện tồn trên lãnh thổ Việt Nam… Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống từ sinh hoạt thường nhật (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi, giải trí (thể thao dân gian, võ, vật, đánh cầu, đánh phết), hát hò (hát đò đưa, hò giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo) đến đời sống tâm linh (giỗ, tết, lễ hội). Về các loại hình của văn hóa dân gian, tác giả Đinh Gia Khánh đã chia văn hóa dân gian gồm ba loại hình: nghệ thuật ngữ văn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian và một loại hình tổng hợp là lễ hội dân gian. Sau này, thế hệ kế cận tác giả tại Viện Văn hóa dân gian nay là Viện Nghiên cứu văn hóa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tiếp thu quan điểm của các nhà folklore Hoa Kỳ, bổ sung loại hình tri thức dân gian.
Nhìn chung, cách tiếp cận về văn hoá dân gian còn có nhiều quan điểm và phương pháp tiếp cận khác nhau, trong nội dung bài viết này chúng tôi quan niệm Văn hoá dân gian là toàn bộ các sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, có giá trị phù hợp với cộng đồng, được cộng đồng trao truyền, bổ sung, truyền dạy, lưu giữ cho đến ngày hôm nay.
- Cộng đồng
Theo cách giải thích của wikipedia, cộng đồng là một thể thống nhất các đối tượng sống trong cùng một môi trường .
Trong ngôn ngữ xã hội học, thuật ngữ cộng đồng chỉ các kiểu loại định cư, những người dân sống trong một làng, hay thậm chí những tập hợp theo vùng địa lý quanh các đô thị, lối sống và mạng lưới xã hội của các thành viên của nó . Rộng hơn, cộng đồng có thể giống với khái niệm về chủ thể xã hội của Bettlhem, tức là nơi mà việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội và văn hóa cũng như các quan hệ giữa người với người bên ngoài cấp độ gia đình có được một cơ sở đầu tiên để thực hiện.
Cộng đồng trong quan niệm Mác-xít là mối liên hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.
Tóm lại, cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học có nhiều tuyến nghĩa khác nhau. Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội. Như diễn giải của tác giả Võ Quế, rộng nhất là nói đến những khối tập hợp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng châu Âu..., nhỏ hơn danh từ được áp dụng cho một kiểu/hạng xã hội, căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo. Nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, thân phận xã hội như các đảng phái, nhóm những người lái xe taxi, nhóm người khiếm thị...
Theo kết quả nghiên cứu của một số học giả trên thế giới, các yếu tố chính của cộng đồng là địa vực (tập thể người định cư trên một vùng đất đai), kinh tế (các hoạt động kinh tế hay nghề nghiệp đóng góp vào sự cố kết cộng đồng, tạo ra sự thống nhất chung), văn hóa (biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biết các cộng đồng, như truyền thống lịch sử, tộc người, tôn giáo tín ngưỡng, hệ thống giá trị chuẩn mực, phong tục tập quán...).
Cộng đồng xã hội, theo từ điển Bách khoa Việt Nam, là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc.
Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt các yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát. Đó là những cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, lối sống...
Trong phạm vi bài viết này, khi đề cập đến cộng đồng địa phương, tác giả sử dụng khái niệm “cộng đồng” theo nghĩa cộng đồng về địa lý. Cộng đồng địa phương ở đây hàm nghĩa các cư dân sinh sống ở các điểm du lịch địa phương.
- Khách du lịch: là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, đi làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến .
Tiếng Anh, visitor (khách thăm viếng) là một người đi tới một nơi - khác với nơi họ thường trú, với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ nơi đó). Định nghĩa này có thể được áp dụng cho khách quốc tế (International Visitor) và du khách trong nước (Domestic Visitor). Khách thăm viếng được chia thành hai loại:
+ Khách du lịch (Tourist): Là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.
+ Khách tham quan (Excursionist), còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày (Day Visitor), là khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu trú qua đêm.
Bên cạnh đó, khách du lịch còn được phân chia theo phạm vi lãnh thổ (Du khách quốc tế - International Tourist và Du khách nội địa - Domestic Tourist) và phân chia theo loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch giải trí, du lịch khám phá, du lịch mạo hiểm, du lịch kết hợp…
Khai thác đời sống dân gian trong du lịch, các địa phương xác định chiến lược đáp ứng sự đa dạng của du khách, từ nhiều hình thức phân loại, bao gồm cả khách du lịch và khách tham quan; khách du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nông thôn, du lịch giải trí, du lịch truyền thống, du lịch chuyên biệt... Có như vậy, các khu du lịch gắn với đời sống dân gian mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách.
- Sản phẩm du lịch
Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch, là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển. Nói cách khác, sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hóa, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch.
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của 3 nhóm nhân tố cấu thành bao gồm Hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành, Tài nguyên du lịch, Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật”.
Các yếu tố cấu thành một sản phẩm du lịch bao gồm:
+ Dịch vụ vận chuyển: Đây là các phương tiện phục vụ, hỗ trợ cho các hoạt động du lịch trong việc vận chuyển hàng hóa, khách du lịch đến các địa điểm du lịch hay là một phần cơ bản của sản phẩm du lịch bao gồm các phương tiện như: Máy bay, xe ô tô các loại, xe máy, xe đạp, tàu thuyền,…
+ Dịch vụ lưu trú và ăn uống: Đây là thành phần chính tạo nên sản phẩm du lịch nhằm phục vụ du khách trong các hoạt động ăn uống, cắm trại tại các khu sinh thái, địa điểm du lịch nổi tiếng; các dịch vụ này bao gồm lều trại, nhà hàng, khách sạn…
+ Các dịch vụ tham quan: Đây là các dịch vụ giúp các du khách có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp tại các địa điểm du lịch dịch vụ này có thể có người hướng dẫn hoặc không tùy theo nhu cầu của du khách; các dịch vụ này bao gồm các tuyến điểm tham quan, khu di tích, công viên, hội chợ, cảnh quan…
+ Hàng hóa được bày bán: Đây là những hàng hóa được bán tại các địa điểm du lịch nhằm phục vụ các nhu cầu, tâm lý của khách hàng trong mua bán. Bao gồm hàng tiêu dùng, quà lưu niệm,…
+ Các dịch vụ hỗ trợ: Thủ tục xin hộ chiếu, visa…
Các sản phẩm du lịch phổ biến hiện nay ở Việt Nam bao gồm: Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch miền quê, du lịch mua sắm, du lịch sáng tạo…
2. Du lịch và cộng đồng địa phương
Cộng đồng địa phương là chủ thể văn hóa của các điểm du lịch. Du lịch ở từng địa điểm phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào các cộng đồng cư dân. Du lịch ngay trên địa bàn sinh sống của họ, trên môi trường không gian tự nhiên, văn hóa và xã hội của họ. Các sản phẩm của du lịch (các nghề thủ công, trình diễn văn hóa, ẩm thực địa phương…) đều do cộng đồng sáng tạo và lưu truyền. Cộng đồng địa phương còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực phục vụ du lịch. Đối với du lịch gắn với văn hóa dân gian, cộng đồng địa phương là những cư dân gắn bó lâu đời với nghệ thuật, thủ công, kiến trúc, tín ngưỡng, phong tục tập quán, phong cách ẩm thực, trang phục, truyện kể, vũ điệu và bài hát cùng những biểu cảm văn hóa khác, với các tri thức và kinh nghiệm dân gian trong cộng đồng, đồng thời là chủ thể văn hóa của các di sản văn hóa đó.
Tuy nhiên, khi đưa văn hóa dân gian vào khai thác du lịch, sẽ có không ít những tác động của du lịch đối với cộng đồng địa phương. Cụ thể như:
- Du lịch có thể làm tăng gánh nặng lên người dân địa phương mà không tạo ra những lợi ích giảm thiểu. Thu nhập từ du lịch thường đến với các nhóm dân cư khác (VD các công ty lữ hành, các cư dân kinh doanh trên địa bàn…) chứ không phải là những người chịu gánh nặng của tài nguyên giảm dần.
- Tiềm năng của các hoạt động du lịch không đồng đều cho sự tham gia của cộng đồng. Một số hoạt động du lịch hiện đại cần có sự đào tạo chuyên nghiệp, bài bản, cần có các kỹ năng và trình độ học vấn mà cộng đồng địa phương không phải ai cũng đạt được yêu cầu này.
- Hàng hóa hóa văn hóa và sự xói mòn các tập quán văn hóa. Trong bối cảnh du lịch, những biểu tượng văn hóa được đối xử như hàng hóa có thể mua bán hoặc thay đổi. Vì điều này xảy ra, người ta bắt đầu biểu diễn chủ yếu để phục vụ khách du lịch và các sự kiện có thể mất đi giá trị của chúng như là một biểu hiện văn hóa và tinh thần .
- Sự chấp nhận của cộng đồng địa phương đối với du lịch phụ thuộc nhiều vào mức độ mà điểm du lịch thể hiện nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương và sự hòa nhập của họ vào ngành công nghiệp này. Các tác động văn hóa và kinh tế giảm đi nơi các nhóm địa phương có một số chủ quyền đối với đất đai của mình, nơi họ được hòa nhập vào ngành công nghiệp du lịch. Sự tiếp cận của người dân địa phương vào một điểm du lịch và quan niệm rằng điểm du lịch mang lại những lợi ích kinh tế thông qua việc tạo ra việc làm hoặc thu nhập thêm cho nền kinh tế địa phương là các yếu tố khác góp phần làm cho cộng đồng chấp nhận.
- Xung đột nảy sinh khi những lợi ích kinh tế của du lịch không được phân phối đều, đặc biệt là khi nó tạo ra khoảng cách giàu nghèo lớn.
Khai thác văn hóa dân gian đối với việc xây dựng chiến lược du lịch bền vững rất cần sự nhìn nhận, đánh giá các tác động đối với cộng đồng địa phương. Có chú ý đến các chủ thể văn hóa mới tạo ra được các hoạt động du lịch hấp dẫn cũng như các phương thức quản lý du lịch phù hợp.
3. Khách du lịch
3.1. Nhu cầu của khách du lịch
Du lịch, trước hết là một hoạt động giải trí. Du khách tham gia các hoạt động du lịch chính là phục vụ nhu cầu “tự khẳng định và chuẩn bị cho sự phát triển cá nhân”.
Tuy nhiên, giải trí không chỉ là hiện tượng xã hội phản ánh cấu trúc thể chế của xã hội. Nó còn là thế giới rộng mở, trong đó mỗi cá nhân thực hiện những hành động có liên quan tới việc họ là ai và họ sẽ trở nên như thế nào. Luôn có một phần giải trí phát triển trong suốt cuộc đời. Trẻ em học và phát triển trong khi chơi. Trên thực tế, việc xã hội hóa quan trọng nhất diễn ra trong khi chơi. Trong suốt cuộc đời, cá nhân tiến hành và ôn lại những hành động chủ ý để họ có thể trở thành con người mà họ muốn và có một vài mối quan hệ cộng đồng với những người mà họ muốn chia sẻ một phần nào đó trong cuộc sống của họ. Giải trí vì vậy liên quan chặt chẽ đến sự tự xác định và kế hoạch phát triển. Ý nghĩa của giải trí không phải là tính tạm thời, mà tập trung chủ yếu vào chất lượng của sự trải nghiệm .
Hầu hết khách du lịch, cũng như những ai muốn tham gia hoạt động giải trí nói chung, đều bị thúc giục bởi:
+ Mong muốn củng cố bản sắc riêng thông qua các hoạt động du lịch
+ Mong muốn tiếp tục tự phát triển về trí tuệ, văn hóa, tình cảm và xã hội.
Nghiên cứu gần đây của một số nhà xã hội học Hoa Kỳ cho thấy, ngoài những hoạt động giải trí khác, một số cá nhân lựa chọn đi du lịch vì họ muốn điều gì đó đặc biệt mà các sản phẩm du lịch có thể cung cấp. Họ muốn những trải nghiệm cụ thể. Và, họ có vẻ muốn những trải nghiệm đó như một phần của cuộc đời họ . Cũng theo kết quả nghiên cứu này, các trải nghiệm có thể chia làm bốn loại chính: trải nghiệm xã hội, trải nghiệm vật thật, trải nghiệm nhận thức và trải nghiệm nội tâm.
- Trải nghiệm xã hội: Dành thời gian với bạn bè/ gia đình/ những người khác.
- Trải nghiệm vật thật
+ Bị xúc động bởi vẻ đẹp.
+ Xem những thứ hiếm/ lạ/ giá trị.
- Trải nghiệm nhận thức
+ Làm phong phú thêm hiểu biết.
+ Thu nhận thông tin hoặc tri thức.
+ Phản hồi lại ý nghĩa của những gì đã nhìn thấy.
- Trải nghiệm nội tâm
+ Cảm thấy một mối liên hệ tinh thần.
+ Tưởng tượng ra thời gian và không gian khác.
+ Nghĩ xem nếu sở hữu những thứ đó sẽ ra sao.
+ Gợi nhớ lại những chuyến đi/ kinh nghiệm thời thơ ấu/ những ấn tượng khác.
Chính vì vậy, du lịch gắn với văn hóa dân gian cần đưa ra các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu trải nghiệm của du khách.
3.2. Vai trò của việc nghiên cứu khách du lịch
Những lý do để tiến hành một nghiên cứu khách du lịch:
- Để đạt được những dữ liệu có chất lượng mà còn giá trị và đáng tin cậy
- Để xác định những đối tượng công chúng
- Để điều tra về những nhu cầu và mong đợi của công chúng
- Để thu được những phản hồi về những sản phẩm du lịch
- Để đặt ra những ưu tiên cho việc lập kế hoạch (ngắn và dài hạn)
- Để biết tại sao mọi người đến và không đến địa điểm du lịch này
- Để đạt được những mục tiêu thu hút và thoả mãn khách du lịch, các địa phương tổ chức đánh giá các sản phẩm du lịch, hệ thống hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
Việc đánh giá này được thực hiện thông qua tiếp cận công chúng, du khách để thu thập dữ liệu, thông tin. Đánh giá là chìa khoá cho quá trình phát triển du lịch, được diễn ra giữa hai đối tượng: người làm công tác du lịch ở địa phương, của các công ty lữ hành và khách du lịch. Mục đích của công việc này là tìm hiểu khách du lịch có phản hồi như thế nào đối với các sản phẩm và dịch vụ du lịch để địa phương chỉnh lý, phát triển trưng bày. “Du khách không chỉ là những tấm bảng trống để viết lên trên mà họ có trí não riêng và có sự đam mê, thành kiến, hiểu biết riêng của họ” . “Cần phải nghĩ cách đem đến cho du khách thứ gì đó mà họ không thể có khi ở nhà, ở trường hoặc ở thư viện, ở cửa hàng; và quyết định điều gì công chúng nên học, nên cảm nhận, thích thú hoặc tin tưởng” .
Việc nghiên cứu khách du lịch ngày càng quan trọng. Hoạt động này không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu của khách mà còn liên quan đến những nhà tài trợ, những nguồn đầu tư cho địa phương.
3.3. Một số xu hướng của khách du lịch hiện nay
Theo Cẩm nang quản lý du lịch tại các khu di sản thế giới, khách du lịch có các xu hướng như sau:
- Khách du lịch ngày càng quan tâm đến bảo vệ môi trường. Ngày càng nhiều khách coi trọng chất lượng môi trường và các dịch vụ. Khách du lịch hiện nay thích các điểm du lịch không bị phá hoại và không đông đúc, có tiêu chuẩn bảo vệ môi trường cao.
- Quan tâm đến du lịch văn hóa
- Khách du lịch ngày càng muốn các trải nghiệm “thực” với các nền văn hóa và lối sống khác. Nói khác đi, khách du lịch chú ý đến kiến thức về văn hóa dân gian, các ngành nghề thủ công cũng như kiến thức về lịch sử địa phương.
- Khách du lịch ngày càng tìm kiếm các kỳ nghỉ mang tính chất giáo dục.
Với kết quả tìm hiểu của cẩm nang quản lý du lịch, các khu du lịch gắn với văn hóa dân gian nên dựa trên những xu hướng du lịch của khách để xây dựng các hoạt động phù hợp.
4. Thay lời kết luận
Qua việc nhìn nhận từ hai nhóm đối tượng: cộng đồng địa phương và khách du lịch nêu trên, chúng tôi có một số ý kiến đối với việc xây dựng chiến lược du lịch bền vững gắn với văn hóa dân gian như sau:
- Phân tích thị trường là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch bền vững. Có phân tích thị trường mới thấy được bối cảnh du lịch với các yếu tố về chính sách, khả năng kinh tế, nhu cầu xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ ngành công nghiệp không khói này. Cũng trên kết quả phân tích thị trường, các nhà quản lý mới xác định sự đầu tư vào các hoạt động du lịch một cách hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Hiện nay có rất nhiều công cụ, kỹ năng phân tích thị trường. Các địa điểm khai thác văn hóa dân gian vào phục vụ du lịch nên tham khảo, tiến hành phân tích thị trường để có chiến lược du lịch bền vững.
- Phát triển kinh tế từ du lịch không tự nhiên chuyển thành những hành động tham gia vào công tác bảo tồn và bảo vệ của cộng đồng. Mối quan hệ giữa lợi ích du lịch và các hoạt động bảo tồn có thể không rõ hoặc không có. Để tăng cường bảo tồn, cộng đồng địa phương phải được hưởng lợi về mặt kinh tế và thấy rõ mối quan hệ giữa lợi ích và nhu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên. “Nếu lợi ích không ở lại với khu vực địa phương hoặc được phân phối rất ít, có rất ít cơ hội làm cho mối quan hệ này quan trọng”.
- Sự ổn định và cơ cấu của một cộng đồng có ảnh hưởng quan trọng đến sự phục hồi của các tác động từ du lịch. Quản lý du lịch cần chú trọng vấn đề này khi khai thác các điểm du lịch liên quan đến văn hóa dân gian. Xác định các hoạt động sử dụng nguồn lực và kỹ năng trong các dịch vụ du lịch sẽ làm tăng lợi ích của cộng đồng địa phương cũng như việc phân phối thu nhập từ du lịch đối với cộng đồng địa phương.
- Khai thác các yếu tố văn hóa của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch, không nên áp đặt khách du lịch muốn xem gì ở cộng đồng mà quan tâm đến việc người dân địa phương - các chủ thể văn hóa chuẩn bị như thế nào để giới thiệu các di sản văn hóa đó cho khách du lịch.
Tài liệu tham khảo
1. International Scientific Committee on Cultural Tourism, 2003: Tourism at world heritage cultural sites: the site manager's hand book - ICOMOS.
2. Roger Miles, Clark Giles (1993), “Bắt đầu bằng bước đi phù hợp: Đánh giá ban đầu”, Trích từ Môi trường và Cách ứng xử 25 (6), tháng 11/1993, tr.698- 709, Nxb. Sage, Vương quốc Anh.
3. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Số 2473/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 12 năm 2011).
4. Trung tâm Nghiên cứu, Hỗ trợ và phát triển văn hóa (2009), Bảo tàng và Du lịch di sản, Tài liệu Khóa Mùa hè nghiên cứu và thực hành bảo tàng, Hà Nội.
5. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng, Lý thuyết và Vận dụng, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
6. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng - Lý thuyết và vận dụng, tập 1, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
7. Zahava D. Doering (1999), “Người lạ, khách hay khách hàng, trải nghiệm của khách tham quan”, Hội thảo Quản lý Nghệ thuật: Biểu diễn, Tài chính, Dịch vụ Weimar, Đức, 17-19/3/1999.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét