Quảng cáo là từ Hán Việt, “quảng” nghĩa là rộng lớn, “cáo” là thông báo, theo nghĩa đen quảng cáo là để thông báo cho mọi người biết đến. Theo Từ điển tiếng Việt, quảng cáo vừa là động từ: Trình bày, giới thiệu rộng rãi để cho nhiều người biết đến sản phẩm được quảng cáo; vừa là danh từ: Thông tin, chương trình quảng cáo nhằm thu hút khách hàng.
Theo Luật Quảng cáo năm 2012 định nghĩa: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”. Trong cuộc sống, từ xưa đến nay, quảng cáo là một hoạt động xã hội để lan tỏa thông tin rộng rãi đến mọi người.
Các phương tiện quảng cáo như: Báo chí, trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối và các thiết bị viễn thông khác. Các sản phẩm in, bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ. Bảng quảng cáo, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo. Phương tiện giao thông. Hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao.
Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo và các phương tiện quảng cáo khác theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, sản phẩm quảng cáo có nhiều yếu tố kêt hợp để nội dung quảng cáo được ấn tượng và dễ truyền tải thông tin sản phẩm đến đông đảo mọi người hơn, như ngôn ngữ, hình ảnh tĩnh và động, âm thanh, hiệu ứng… Quảng cáo là một yếu tố văn hóa, mà trong đó ngôn ngữ sử dụng có vai trò quan trọng hơn cả dành cho việc truyền tải thông tin.
Quảng cáo là một hoạt động được quy định trong khuôn khổ của pháp luật. Tại điều 8 của Luật Quảng cáo đã quy định rõ 16 khoản bị cấm trong hoạt động quảng cáo, trong đó có một số khoản cấm liên quan trực tiếp đến vấn đề ngôn ngữ. Tại “khoản 8”: Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép; khoản 11: Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Về tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo, điều 18 ghi rõ: “khoản 1: Trong các sản phẩm quảng cáo phải có nội dung thể hiện bằng tiếng Việt, trừ những trường hợp sau: a) Nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng tiếng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hóa không thể thay thế bằng tiếng Việt; b) Sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài; chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.
Khoản 2: “Trong trường hợp sử dụng cả tiếng Việt, tiếng nước ngoài trên cùng một sản phẩm quảng cáo thì khổ chữ nước ngoài không được quá ba phần tư khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt; khi phát trên đài phát thanh, truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, phải đọc tiếng Việt trước tiếng nước ngoài”.
Qua một số khảo sát cho thấy trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tên biển hiệu quảng cáo có một vài ấn tượng rất lớn đối với chúng ta. Đó là việc quảng cáo không chỉ sử dụng tiếng Việt mà còn ghép cả tiếng nước ngoài cho “Tây” một tí để gây sự chú ý, phần lớn nội dung quảng cáo nhằm mục đích giúp người xem dễ nhớ, dễ thuộc.
Về tên gọi quảng cáo của các nhà hàng, quán ăn trên địa bàn thành phố nổi bật có các tên: Đồng Viên, Quán Ngon, Cơm Niêu Hoa Sữa, Tuấn Mập Sài Gòn, Mì Quảng Thu Búp, Cơm Gà Nhung 2, Lúa Vàng, Lẩu Dê Vinh, Nướng Phổ Cổ, Cây Bàng, Thùy Dương, Don Sông Trà; một số nhà hàng có tên nước ngoài, hay tên tiếng Việt kết hợp với tên nước ngoài, như: Kawaii Sushi, Light Star (ngôi sao sáng), Sa Ke Beer, Pizza Kids, Bolo Bala Beer Club, Lẩu Gia Đình DuLy S’, Phố nướng Osaka,… cho thấy thay vì đặt tên tiếng Việt thì tên tiếng nước ngoài ngày càng được phổ biến hơn.
Khảo sát tên gọi quảng cáo khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi cũng tương tự như vậy, như tên khách sạn: Hùng Vương, Cẩm Thành, Mỹ Trà, Trung Tâm, Hoa Viên, Ngọc Hương, Tuyết Sương, Đan Phượng, Huyền Trân Công Chúa, Lê Lợi,... Một số đặt tên kết hợp tiếng Việt và tiếng nước ngoài như: Central Holtel Quảng Ngãi, Thiên Ấn Riverside Holtel, NewCC Holtel, Turi Staypoint, King, King Villa Holtel, Romo House, Cocoland River Beach Resort,...
Về tên gọi “Tây hóa” ở các cơ sở kinh doanh cà phê, trà hiện nay trên địa bàn thành phố thì đã trở nên phổ biến: Tea and Coffee, Cafe Sala Center, CAS Tea & Coffee House, Green Floor, Bach’S Coffee, IvyTi – Milk & Coffee, 95Drop Coffe, Cuckoo Café, Coffe AH-64 Apache, Azzan Coffee & Chocolat Quảng Ngãi, Bonsai Coffee, Home’s Coffee – Tea,…
Tên quảng cáo nhà hàng, khách sạn, quán cà phê hay các sản phẩm, dịch vụ bằng tiếng nước ngoài, hoặc tên tiếng Việt kết hợp với tiếng nước ngoài là điều bình thường, nhưng những tài sản có chủ sở hữu là người Việt Nam thì việc đặt tên tiếng Việt sẽ hợp lý hơn, hoặc đặt tên tiếng nước ngoài có kích thước nhỏ hơn cạnh tên tiếng Việt. Xu hướng “Tây hóa” tên gọi để hấp dẫn khách hàng không chỉ ở lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, quán cà phê, mà còn lấn sang các lĩnh vực khác, cho nên việc dùng tiếng Việt, hay tiếng nước ngoài cũng cần cẩn trọng theo quy định của pháp luật.
Chúng ta chắc chắn rằng, vào một nhà hàng của người Việt Nam, nấu các món ăn truyền thống của Việt Nam, mà trên thực đơn của nhà hàng toàn tiếng nước ngoài thì khó chấp nhận. Cho nên, chúng ta cần phải bảo vệ “chủ quyền của tiếng Việt” ngay trên mảnh đất thân yêu của chúng ta đang sống./.
V.M.T

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét