Theo chương trình của kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV (diễn ra từ ngày 28/10 đến ngày 30/11/2024), Quốc hội sẽ xem xét, thông qua 18 dự án luật, trong đó có dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi).
Trước đó, ngày 17/4/2024, tại phiên họp thứ 32 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng, đã trình bày tờ trình về dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi). Theo đó, dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) lần này gồm 9 chương 102 điều, tăng 2 chương 29 điều so với Luật Di sản văn hóa hiện hành (gồm 7 chương 73 điều).
Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng, việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa là nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa, di sản văn hóa; sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật về di sản văn hóa; tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; đảm bảo tính kế thừa, tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Di sản văn hóa với các luật khác có liên quan. Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) lần này tập trung vào ba nội dung chính:
[1] Hoàn thiện các quy định về nguyên tắc, đối tượng, trình tự, thủ tục kiểm kê, nhận diện, ghi danh, biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở các lĩnh vực di sản văn hóa vật thể (di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia), di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu và hoạt động bảo tàng;
[2] Nâng cao hiệu quả tổ chức, hoạt động của các cơ quan trực tiếp quản lý di sản, tăng cường nội dung, trách nhiệm, cơ chế thực hiện phân cấp, phân quyền quản lý nhà nước về di sản văn hóa từ Trung ương đến địa phương;
[3] Tăng cường nội dung, cơ chế, chính sách thúc đẩy xã hội hóa và thu hút, nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Là một người từng làm công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa trong nhiều chục năm, đã tham gia góp ý cho các dự thảo Luật Di sản văn hóa (được Quốc hội khóa X thông qua vào tháng 6/2001) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (được Quốc hội khóa XII thông qua vào tháng 6/2009), đồng thời từng giảng dạy học phần Luật Di sản văn hóa Việt Nam tại nhiều trường đại học ở Huế, Quảng Nam và Đà Nẵng; từng nghiên cứu về các đạo luật bảo vệ di sản / tài sản văn hóa của một số nước châu Á, tôi kỳ vọng việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa (năm 2024) sẽ khắc phục những hạn chế của hai Luật đã được Quốc hội Việt Nam ban hành trước đây; tiệm cận với hệ thống luật lệ về văn hóa trong các công ước của UNESCO, tổ chức quốc tế lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa; có phạm vi điều chỉnh bao quát và đầy đủ các điều luật nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa quốc gia, góp phần xây dựng và lan tỏa sức mạnh mềm của văn hóa ra cộng đồng quốc tế, như các luật về di sản / tài sản văn hóa của các nước phát triển.
Dù dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2024) đã hoàn chỉnh, sẵn sàng trình ra Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 này, tôi vẫn muốn có “đôi điều nói thêm” sau khi tiếp cận nội dung tóm tắt về dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2024) trên các phương tiện truyền thông của nhà nước. Đó là:
- Thứ nhất, lẽ ra, nên đổi tên Luật này thành Luật Bảo vệ Tài sản văn hóa như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước ở châu Âu đã làm. Bởi lẽ, “di sản văn hóa” là những tài sản văn hóa do thế hệ trước để lại cho thế hệ sau, nên nếu dùng thuật ngữ “di sản văn hóa”, thì phạm vi điều chỉnh của Luật chỉ sẽ tập trung vào những tài sản văn hóa “đã có tuổi” do tiền nhân để lại. Trong khi có, có nhiều tài sản văn hóa vừa được tạo sinh trong xã hội đương đại, nhưng có giá trị đặc sắc về văn hóa, nghệ thuật, thẩm mỹ… thì lại không được bảo vệ, hoặc không được tạo điều kiện để phát huy giá trị. Một số nước đã nhận ra sự hạn chế của việc sử dụng thuật ngữ “di sản văn hóa” trong các đạo luật tương tự ở quốc gia họ, nên đã đổi thành Luật Bảo vệ tài sản văn hóa khi sửa đổi, ban hành luật mới.
Chẳng hạn, năm 1950, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Văn hóa tài bảo hộ pháp (Luật Bảo vệ Tài sản văn hóa) thay cho ba đạo luật riêng rẽ đã ban hành trước đó là: Cổ khí cựu vật bảo tồn phương (Pháp lệnh Bảo tồn cổ vật, ra đời năm 1871), Cổ xã tự bảo tồn pháp (Luật Bảo tồn đền chùa cổ, 1897) và Quốc bảo bảo tồn pháp (Luật Bảo tồn bảo vật quốc gia, 1927); hay Hàn Quốc vào năm 1962 đã ban hành Đạo luật số 961 về Bảo vệ tài sản văn hóa, thay thế cho các luật lệ bảo vệ di sản văn hóa có từ thời Joseon (1392 - 1910).
- Thứ hai, những người làm luật này cần tham khảo các luật lệ về di sản / tài sản văn hóa ở những nước có nhiều thành tựu trong việc bảo tồn và phát huy giá trị, sức mạnh mềm từ di sản / tài sản văn hóa; từ các công ước do UNESCO ban hành trong lĩnh vực di sản văn hóa, để soạn thảo / điều chỉnh những thuật ngữ / khái niệm / nội hàm của các điều luật trong Luật Di sản văn hóa mà Việt Nam đang sửa đổi, nhằm phù hợp / tương thích với thông lệ của luật pháp quốc tế. Chẳng hạn, các khái niệm / định nghĩa về: tính nguyên gốc / tính chân xác (authenticity), bảo tồn (conservation), bảo vệ (preservation), phát huy giá trị (promotion of value)… Trong vài thập kỷ gần đây, thuật ngữ bảo vệ di sản văn hóa (preservation of cultural heritage) được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ bảo tồn di sản văn hóa (conservation of cultural heritage) trong các công ước của UNESCO và các luật về di sản / tài sản văn hóa ở các nước phát triển.
Sự khai sinh thuật ngữ bảo vệ di sản văn hóa với nội hàm mới đã khiến cho thuật ngữ bảo tồn (conservation) trước đây, nay chỉ giới hạn trong hoạt động tu bổ (restoration), tôn tạo (embelishment) các di sản văn hóa vật thể mà thôi. Sự phù hợp / tương thích với các điều luật quốc tế, sẽ giúp Luật Di sản văn hóa của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế trong lĩnh vực này, tạo điều kiện cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật về di sản / tài sản văn hóa của Việt Nam; hỗ trợ cho Việt Nam trong hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ và phát huy giá trị tài sản văn hóa quốc gia, lan tỏa “sức mạnh mềm văn hóa” của Việt Nam ra thế giới.
- Thứ ba, Luật Di sản văn hóa hiện hành ở Việt Nam chỉ công nhận các di vật, cổ vật (thuộc nhóm “di tích động sản” trong di sản văn hóa vật thể) có giá trị đặc biệt về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, khoa học… là bảo vật quốc gia, trong khi không công nhận những di sản văn hóa vật thể là bất động sản như: cung điện, thành quách, đình chùa, bi ký…; hay các di sản văn hóa phi vật thể như: nghề truyền thống, diễn xướng dân gian, tri thức của cộng đồng… có giá trị cao / đặc biệt về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, khoa học…
Trong khi đó, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc… đều công nhận “quốc bảo” (kokuhō trong tiếng Nhật, kukpo trong tiếng Hàn…) cho di sản văn hóa phi vật thể và nhóm “di tích bất động sản” thuộc di sản văn hóa vật thể. Thậm chí, Nhật Bản còn công nhận “nhân gian quốc bảo” (ningen kokuhō) còn Hàn Quốc thì công nhận “nhân gian văn hóa giả (inganmunhwajae) cho “những cá nhân (hoặc nhóm người) đang nắm giữ và phổ biến những kỹ năng và bí quyết nhằm lưu truyền những tài sản văn hóa phi vật thể quan trọng của đất nước cho các thế hệ tương lai”, mà UNESCO tôn vinh là Living human treasures trong Khuyến nghị về việc Bảo vệ văn hóa cổ truyền và văn hóa dân gian, được thông qua tại kỳ họp của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 25 ở Paris vào ngày 15.11.1989. Từ thực tế trên, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2024) cần công nhận bảo vật quốc gia cho tất các loại hình di sản / tài sản văn hóa, như tôi đã tiên phong thực hiện vào năm 2005, khi chủ trì lập hồ sơ đề nghị công nhận tấm bia Khiêm cung ký trong lăng vua Tự Đức là bảo vật quốc gia, và đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận vào năm 2015.
Với riêng tỉnh Quảng Nam, “đôi điều nói thêm” có thể giúp ích cho những việc sau: bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa đang được tạo sinh hàng ngày, nhất là khi địa phương này có thành phố Hội An được công nhận là “Thành phố sáng tạo trong lĩnh vực thủ công - nghệ thuật dân gian” trong Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO, nơi đang có những tài sản văn hóa đáng giá được tạo tác và lan tỏa ra cộng đồng, quốc gia và nhân loại từng ngày từng giờ.
“Đôi điều nói thêm” này cũng sẽ góp phần bảo vệ những tài sản chưa được công nhận là di sản văn hóa, vì “chưa đủ tuổi để trở thành di sản” theo Luật Di sản văn hóa cũ, nhưng lại xứng đáng là “bảo vật quốc gia” như: các kiến trúc thời thuộc địa, các nghề tinh hoa và làng nghề truyền thống của địa phương; hay những tấm bi ký chứa đựng những “thông điệp ngàn năm” đang bị lãng quên ở các phế tích Champa ở Mỹ Sơn, Đồng Dương, Chiên Đàn, Trà Kiệu…
T.Đ.A.S.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét