Theo ghi nhận của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí 1820 (GĐTTC 1820), BA THẮC 波忒 là tên “giang” 江 (sông), tên “hải môn” 海門 (cửa biển), tên “cảng” 港, tên “hải phận” 海分, tên “phủ” 府 (phủ Ba Thắc của người Khmer), tên xứ 處, và Ba Thắc 波忒 cũng là một địa danh trên đất Lào [có liên quan đến tỉnh Champasak].
Trong GĐTTC 1820, Phạm Hoàng Quân dịch, chú và khảo chứng (Nxb Tp. HCM, 2019) có các chú giải sau đây:
- “Ba Thắc giang (波忒江), sông Ba Thắc, tức sông Ba Xuyên, kinh Phú Hữu, vàm sông tại Đại Ngãi [tức Vàm Tấn, nay là thị trấn Đại Ngãi, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng], theo dòng rạch Ngã Cũ đến xóm Ngã Tư giáp rạch Sóc Trăng, đến chợ Bãi Xào rồi gặp rạch Nhu Gia. Năm 1879, đào xong kinh Sáng [kinh Xáng] (người Pháp gọi là kinh Saintard[1], người Việt đọc trại ra Sáng], kinh này nhập vào đoạn gần vàm của sông Ba Thắc/ Ba Xuyên (đoạn kinh Phú Hữu), từ đó tên “kinh Sáng” phổ biến hơn tên “sông Ba Xuyên”, và cũng từ đó, đoạn trung lưu dài ngoằn ngoèo của sông Ba Thắc/ Ba Xuyên cũ được gọi bằng tên “rạch Ngã Cũ” [ý là đường rạch hồi trước].
HVNTDĐC 1806 (quyển 7) viết là “𠀧忒瀝” (Ba Thắc rạch); bản đồ “An Giang toàn đồ” trong TQDCHC 1840 ghi là “𠀧川江” (Ba Xuyên giang), và vẽ con sông này từ vàm Đại Ngãi thẳng đến nơi gặp ngã ba Sốc Trăng rồi theo hướng đông gặp sông Mỹ Thanh và sông Cổ Cò. ĐNNTC – tỉnh Vĩnh Long chép về sông này với tên Ba Xuyên giang (巴川江). Bản đồ VNCH 1964 ghi đoạn gần vàm là “kinh Phú Hữu”, bản đồ hiện nay ghi chung là “kênh Sáng”. Do Ba Thắc là tên vùng đất, tên phủ, nên lấy tên phủ làm tên con sông chính trong phủ, năm 1835 đổi tên phủ Ba Thắc là phủ Ba Xuyên, nên tên sông cũng đổi gọi là sông Ba Xuyên. Hiệu khám, bản dịch LVD 2006 chú thích lòng vòng về từ “Bassac”, nhưng xác định sai dòng sông, cho rằng sông Ba Thắc là đoạn cuối của sông Hậu [nguyên văn chú thích, trích: Ba Thắc giang (波忒江).
Tiếng Pháp gọi là Bassac. Từ Bassac có 3 nghĩa, (...). Tên một nhánh của Cửu Long giang, gọi là sông Hậu, là tên trong đoạn sông Ba Thắc này, từ biên giới Campuchia chảy ra Nam Hải qua An Giang, Vĩnh Long, Phong Dinh, Vĩnh Bình, Ba Xuyên (Long Xuyên, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng)”], do không phân tích kỹ văn bản nên dịch giả LVD đã xác định dòng sông này theo thói quen dựa vào các bản đồ hoặc ghi chép địa lý do người Pháp thực hiện sau này [ghi sông Hậu là sông Bassac/ Tonle Bassac], bởi nếu sông Ba Thắc là đoạn hạ lưu sông Hậu thì tất cả mô tả của Trịnh Hoài Đức trong đoạn văn này đều sai, thí dụ như, nó không thể rộng 30 tấm (tức rộng khoảng 60 m), và đồng loạt các chi lưu không thể thông với dòng chính được.” (tr.247-248).
- “Ba Thắc hải môn (波忒海門), cửa biển Ba Thắc, một trong ba cửa của sông Hậu, nằm giữa cửa Định An và cửa Trấn Di [nay gọi Trần Đề], thuộc địa bàn huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, cửa biển này đã bị bồi lấp vào khoảng những năm 1970, HVNTDĐC 1806 (quyển 2, quyển 7) viết là “𠀧忒海門” (Ba Thắc hải môn) [chữ “𠀧”/ Ba (chữ Nôm, chỉ số 3), GĐTTC đổi thành chữ “波”/ Ba (chữ Hán, nghĩa là sóng)]; XLQLTTL 1810 viết là “𠀧忒海門” (Ba Thắc hải môn); “Đại Nam nhất thống toàn đồ” ( ~ 1840) ghi là “𠀧忒門/ Ba Thắc môn”; bản đồ “Đại Nam toàn đồ” (1838) ghi là “𠀧川口” (Ba Xuyên khẩu) [do năm 1835 đổi tên phủ Ba Thắc thành Ba Xuyên]; bản đồ “An Giang toàn đồ” trong TQDCHC 1840 ghi là “𠀧川海汛” (Ba Xuyên hải tấn); bản đồ “An Nam đại quốc họa đồ” của Tabert (1838, chữ quốc ngữ) ghi là “Cữa Ba thắc”, cửa Trấn Di thì viết là “Cữa Cha vang”, cửa Định An thì viết là “Cữa Vam rây”. Địa danh Ba Thắc, do phiên âm tên gốc Khmer là Bàsàk (neak Tà Bàsàk[2]), người Pháp phiên âm là Bassac, các từ điển địa danh và sách địa lý tự nhiên Việt Nam hiện nay cũng có khi viết là Bát Xát hoặc Ba Sắc.” (tr.248)
- “Trà Vinh Ba Thắc nhị phủ (茶榮波忒二府), 2 phủ Trà Vinh, Ba Thắc. Phủ Trà Vinh ứng với vùng Trà Vinh; phủ Ba Thắc ứng với vùng Sóc Trăng – Bạc Liêu. Hiệu khám, Trà Vinh, bản SEI chép “搽𣞁” (Trà Vang); Ba Thắc, bản R.258 viết “巴忒”.” (tr.449).
Về địa danh Ba Thắc, Phạm Hoàng Quân chú thích như sau:
“Ba Thắc (波忒), tức tên ký âm địa danh Bassac, nay là tên thị trấn thuộc tỉnh Champasak, Lào.”[3] (tr.452)
[Các chữ viết tắt: HVNTDĐC 1806: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí 1806; ĐNNTC: Đại Nam nhất thống chí; LVD 2006: Lý Việt Dũng 2006; XLQLTTL 1810: Xiêm La quốc lộ trình tạp lục; TQDCHC 1840: Thông quốc diên cách hải chử ( ~1820- 1840); bản SEI: bản chép tay GĐTTC in kèm trong bản dịch Nguyễn Tạo 1872; bản R.258: bản chép tay GĐTTC lưu ở Thư viện Quốc gia, Hà Nội.]
--------
[1] Kinh Saintard: Trong Monographie de la province de Sốc-Trăng (Saigon, Imprimerie Commercial Ménard & Rey, 1904) của Hội Nghiên cứu Đông Dương có đoạn sau đây: “Canal Saintard. Longuer 11km 500, largeur 25m. Nous savons déjà que ce canal remplace une partie du rạch Ba-xuyên trop tortueux et trop peu profond et facilite ainsi la communication entre le Bassac et Bãi-xàu.” (p.12). Tạm dịch: Kinh Saintard - dài 11,5km, rộng 25m. Như chúng ta đã biết, kinh này thay thể một phần rạch Ba Xuyên vừa quá quanh co, vừa quá cạn, và do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông từ sông Hậu đến Bãi Xàu. (Các tác giả sách địa chí này dùng từ Bassac để trỏ sông Hậu, còn sông/ rạch Ba Thắc thì gọi là “rạch Ba Xuyên”).
[2] Neak Tà Bàsàk: អ្នកតាបាសាក់.
[3] Bassac: Theo bài Vương quốc Champasak, Vương quốc Champasak (tiếng Lào: ຈຳປາສັກ [tɕàmpàːsák]) hay cũng gọi là Bassac.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét