1. Đặt vấn đề
Lễ hội Đổ giàn ở thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, trước đây được tổ chức vào những năm Tỵ, năm Dậu và năm Sửu tính theo Thập nhị địa chi. Chu kỳ 4 năm lễ hội Đổ giàn được tổ chức một lần vào ngày 14, 15, 16[1] tháng Bảy âm lịch (một số lần lễ hội xê dịch sang ngày 15, 16 và 17) tại chùa Bà Thiên hậu Thánh mẫu của cộng đồng người Hoa ở thị tứ An Thái. Chùa này còn có tên gọi là Ngũ bang Hội quán được làm vào năm Quý Dậu 1873[2] do ngụ dân người Hoa nhóm Minh Hương cựu thuộc: Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam hùn phước xây dựng.
Như vậy lễ hội Đổ giàn theo chu kỳ tổ chức vào các năm: Quý Dậu 1873, Đinh Sửu 1877, Tân Tỵ 1881, Ất Dậu 1885, Kỷ Sửu 1889, Quý Tỵ 1893, Đinh Dậu 1897, Tân Sửu 1901, Ất Tỵ 1905, Kỷ Dậu 1909, Quý Sửu 1913, Đinh Tỵ 1917, Tân Dậu 1921, Ất Sửu 1925, Kỷ Tỵ 1929, Quý Dậu 1933, Đinh Sửu 1937, Tân Tỵ 1941. Từ sau năm 1941, lễ hội Đổ giàn không còn tổ chức nữa. Đến năm Ất Dậu 2005 phục hồi trở lại, rồi dừng tiếp cho đến nay 2023.
Ngày xưa trước khi tổ chức lễ hội Đổ giàn, cư dân tại chỗ thành lập Ban tế lễ để phân nhiệm làm công việc chuẩn bị và bầu chọn một ông cao tuổi dày đức hạnh được người dân trong làng trọng vọng giữ vai trò chánh bái. Lễ hội này luôn gắn với văn hóa Phật giáo đại thừa và các chùa ở địa phương cùng với chùa ở các làng lân cận thay phiên nhận cúng. Tùy thuộc vào kinh phí và quy mô tổ chức mà việc cúng kính của lễ hội mỗi kỳ có cấp độ khác nhau: Tiểu đàn thì có khoảng 5 đến 6 vị tăng, trung đàn thì khoảng 9 đến 10 vị tăng, đại đàn thì 12 vị tăng trở lên.
Trình thức lễ hội diễn ra: Trước lễ, đoàn người khiêng kiệu đi cùng ban nhạc gióng chiêng trống làm lễ rước nước ở sông Côn về dâng lên bàn thờ Thiên hậu Thánh mẫu. Tiếp theo, cung thỉnh chư tăng các chùa xung quanh như: Phổ Tịnh, Nhơn Từ, Bửu Quang, Phổ Hải … về nơi tổ chức lễ hội tại Ngũ bang Hội quán để khai kinh cúng chay liên tiếp ba Ngọ ngày 14, 15 và 16 tháng Bảy âm lịch với đầy đủ các nghi thức dâng hương, dâng sớ và thí chẩn. Trong dịp này, các gia đình trong làng thành tâm dâng phẩm vật như gạo, muối, bánh, thịt làm cỗ đến đặt cúng trước bàn thờ tại Ngũ bang Hội quán. Giờ Tý ngày đầu tiên (từ 23g ngày trước – 1g ngày hôm sau) ngày 14/ 7 khai kinh cúng Thiên (Trời), giờ Tuất ngày thứ hai (19 – 21 giờ) ngày 15/ 7 cúng ngài Tiêu Diện đại sĩ cùng hai ngài Thiên lý nhĩ, Thiên lý nhãn và cúng ông Bổn (bổn xứ thành hoàng).
Ngày thứ ba, sau khi cúng ngọ xong cắm lá phướn có ghi bốn chữ Phúc Đức Thần Tài trên nóc Ngũ bang Hội quán báo hiệu sắp bắt đầu thời điểm xô cỗ đổ giàn của màn thi tài tranh lấy phẩm vật trên đàn cúng của các đội võ sĩ từ các võ đường đến tham dự lễ hội. Người dân trong làng và khách các nơi khác đến với lễ hội rất đông, tập trung một lượng lớn người tham gia nên lễ vật cúng bái cùng các nghi thức được chuẩn bị đầy đủ, chu đáo và bài bản. Heo cúng làm thịt nguyên con được gác trên giàn lễ dựng khung bằng tre hoặc gỗ rộng 20 mét vuông và cao khoảng từ 6 đến 10 mét, rất chắc chắn, bảo đảm an toàn. Ngoài ra còn có rất nhiều chè cháo, hoa quả, bánh trái được sắp xếp trong các chiếc nong, chiếc nia bày cỗ xung quanh dưới sân chùa Bà để chẩn thí. Sau khi cúng xong, các phẩm vật sẽ bá thí cho mọi người tham dự lễ. Tiếp đến ban tổ chức lễ hội phát hiệu lệnh, các đoàn võ sĩ thuộc các võ đường tức tốc leo lên giàn quyết liệt tranh giành lá phướn và con heo cúng. Không khí lễ hội mỗi lúc càng náo nhiệt khi các võ sĩ thể hiện các đòn, miếng võ để giật lấy phẩm vật, tranh phần nhau ngay trên giàn cúng[3].
Lễ hội Đổ giàn mang giá trị văn hóa truyền thống của người dân thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định trong quá trình cộng cư và giao lưu tiếp biến văn hóa Việt – Hoa. Trong phần nghi thức lễ được thực hiện bằng sự tôn nghiêm, trang trọng của Phật giáo đại thừa mang tính suy nghiệm hướng về cội nguồn tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho những người đã mất được siêu thoát, không chịu cảnh thiếu thốn, khổ đau. Phần hội Đổ giàn thường tổ chức rất đông vui thông qua các hoạt động tranh giành các phẩm vật trên giàn với tinh thần nhân văn thượng võ của người Bình Định tạo ra không khí náo nhiệt để giải tỏa tâm lý, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng cư dân tại chỗ.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Nguồn gốc lễ hội Đổ giàn ở thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Đặc tính người phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng rất coi trọng tính cộng đồng. Có lẽ một phần do ảnh hưởng của khí hậu, địa lý và tập quán phân bố dân cư đã hình thành bản chất của họ cùng đặc tính văn hóa nông nghiệp[4]. Vì vậy mà lễ hội dân gian là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần mang đậm sắc thái địa phương, vùng miền của cộng đồng cư dân tại chỗ. Lễ hội là dịp để con người tìm về cội nguồn trong cảm thức tưởng nhớ, tri ân. Đây là điều kiện thể hiện sức mạnh của cộng đồng cùng chung ý chí, mục tiêu, đoàn kết vượt qua khó khăn, trở ngại để giành lấy cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Đặc biệt, lễ hội luôn mang tính sáng tạo và thụ hưởng, đồng thời giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống, kết hợp các yếu tố tâm linh với các hình thức trò chơi đua tài giải trí. Tác giả bài viết mong muốn tìm hiểu và làm sáng tỏ lễ hội Đổ giàn của cộng đồng cư dân ở thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Giả thuyết 1: Lễ hội Đổ giàn ra đời vì nơi đây là vùng đất võ
Người Bình Định vẫn còn lưu truyền các câu ca dao về vùng đất An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định ngày nay như: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, hoặc “Trai An Thái, gái An Vinh”, “Tiếng đồn An Thái, Bình Khê/ Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo”.v.v. An Thái là một trong những cái nôi và là địa danh gắn liền với nền võ cổ truyền Bình Định. Minh chứng cho điều này là câu chuyện về thầy giáo Trương Văn Hiến ở làng An Thái đã truyền dạy cả văn lẫn võ cho ba anh em nhà Tây Sơn áo vải cờ đào gây dựng cơ đồ làm nên nghiệp lớn. Thuở trước, người dân vùng đất này ban ngày lao động vất vả, nhưng đêm đến cho con cháu dù gái hay trai cũng đều tìm thầy học võ.
Vùng đất An Thái vào đầu thế kỷ XVII, người Hoa từ các miền Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam của Trung Quốc sang định cư lập nghiệp. Trong số người Hoa đến đây sanh cơ gồm có các dòng họ: Thái, Tạ, Diệp, Trương, Trần, Vương, Huỳnh, Dương, Lý, Lỡ (Lữ), Xà, Tào, Tôn. Hòa cùng nhịp sống của cư dân bản địa, người Hoa đã sớm phát huy ngành nghề và khả năng giao thương, góp phần thúc đẩy An Thái phát triển thành một trong các thị tứ nổi tiếng trên đất Bình Định về niềm tự hào: Tinh thần, kỹ năng võ thuật và các cơ sở làm giấy bản, xưởng dệt, lò nhuộm, lò làm bún Tàu. Có lẽ vì thế mà trong sự kiện ở địa phương như lễ Tết, hội hè, hoặc các trò chơi dân gian cũng đều phản ánh truyền thống hiếu võ. Điều này có một số người lập chứng cho giả thuyết rằng: Lễ hội Đổ giàn An Thái ra đời để tạo cơ hội rèn luyện võ thuật cho các võ đường ở địa phương thi đua phát triển nhân tài võ nghệ.
Giả thuyết 2: Đây là tập tục làm chay cúng thí của cộng đồng người Hoa
Để hiểu rõ về xuất xứ nguồn gốc của lễ hội Đổ giàn, tác giả bài viết xin làm rõ 3 vấn đề: (1) Chủ thể lễ hội; (2) thời gian tổ chức lễ hội; (3) địa điểm (nơi chốn) thực hành nghi thức lễ hội. Trước hết nói đến chủ thể lễ hội, xuất phát đầu tiên là cộng đồng người Hoa với tập tục đã có từ lâu đời trung tuần tháng Bảy âm lịch hàng năm (vào ngày 14, 15, 16) tổ chức lễ Vu Lan báo hiếu và làm chay thí giàn trong ngày xá tội vong nhân, hay còn gọi là lễ cúng cô hồn. Tục này gắn với hai điển tích của Phật giáo đại thừa: Mục Kiền Liên [5] cứu mẹ và A Nan [6] gặp quỷ đói.
Tục làm chay thí giàn trong lễ xá tội vong nhân tổ chức trùng với lễ Vu lan báo hiếu nên dễ bị nhầm lẫn hai lễ này là một. Nhưng thực ra, tục làm chay thí giàn và lễ Vu Lan báo hiếu của cộng đồng người Hoa là hai cái khác nhau, tuy trùng hợp thời điểm và có một số tương đồng về mặt ý nghĩa nhưng có nguồn gốc, xuất xứ khác nhau [7]. Thời gian tổ chức (2) vào ngày rằm tháng Bảy xá tội vong nhân cúng cô hồn và lễ Vu Lan báo hiếu, ngày nay đã có mối quan hệ mật thiết, mang màu sắc tín ngưỡng Phật giáo trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt và người Hoa ở Việt Nam. Địa điểm thực hành nghi lễ (3) thường diễn ra tại các chùa do cộng đồng người Hoa xây dựng như: chùa Bà Thiên hậu Thánh mẫu, chùa Ông Quan thánh Đế quân, .v.v. Lễ hội Đổ giàn ở An Thái được tổ chức tại chùa Bà, được thể hiện qua câu ca dao:
Đồn rằng An Thái, chùa Bà
Làm chay, hát bội đông đà quá đông
Đàn bà cho chí đàn ông,
Xem xong ba Ngọ, lại trông Đổ giàn.
Từ những dẫn chứng và phân tích trên cho thấy, lễ hội Đổ giàn ở An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định có nguồn gốc từ tập tục lâu đời của người Hoa thuộc nhóm Minh Hương cựu thuộc mang theo đến vùng đất mới. Qua thời gian cộng cư và giao lưu tiếp biến văn hóa với người dân bản địa đã tạo nên sự dung hợp hoàn thiện một lễ hội Đổ giàn mang tính nhân văn – thượng võ của người Bình Định ngày nay.
2.2. Những yếu tố Phật giáo trong lễ hội Đổ giàn ở An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định
Tông phái Phật giáo đại thừa theo chân các chúa Nguyễn vào thừa tuyên Thuận Hóa, thừa tuyên Quảng Nam từ thế kỷ XVI, thế kỷ XVII. Đặc biệt, sự kiện Đào Duy Từ ở Bình Định được Khám lý Tuần phủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa tiến cử giúp chúa Sãi – Nguyễn Phước Nguyên từ năm 1627 đến 1634. Đây là giai đoạn buổi đầu gầy dựng thể chế chúa Nguyễn Đàng Trong với công cuộc giữ vững mặt Bắc và khẩn hoang mở rộng phương Nam. Sự ảnh hưởng của Phật giáo trong danh xưng chúa Sãi – Nguyễn Phước Nguyên cũng cho chúng ta nhận thấy trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người dân xứ Đàng Trong nói chung và vùng đất Bình Định nói riêng đã được lan tỏa và thấm nhuần tinh thần Phật giáo noi theo chân chúa.
Xuất phát từ tập tục làm chay cúng thí của cộng đồng người Hoa thuộc dạng tín ngưỡng truyền miệng nên không có quy định cách thức thực hiện một cách bài bản cụ thể. Vì thế mà mỗi cộng đồng người Hoa sang Việt Nam định cư ở mỗi nơi khác nhau, đều có sự ảnh hưởng và thay đổi, áp dụng các trình thức thực hành nghi lễ khác nhau[8]. Tuy nhiên, dù là xô cỗ đổ giàn ở Bình Định, hay làm chay thí giàn ở Bạc Liêu vào dịp trung tuần tháng Bảy âm lịch của cộng đồng người Hoa thì lễ hội này vẫn mang đậm màu sắc Phật giáo trong việc thể hiện tính nhân văn hiếu đạo và tích đức tùng thiện qua hành động bố thí, chẩn thí cho cả người sống và người đã khuất.
Yếu tố Phật giáo trong lễ hội Đổ giàn còn được thể hiện qua trình thức cúng kính. Mỗi nghi thức bái lễ, các chư tăng đều định hướng mọi người thành tâm tưởng nhớ về nguồn cội, ghi khắc công lao của ông bà tổ tiên bằng niềm tin của những tấm lòng hiếu thảo. Sự kính tín chân thành đó được thể hiện ở phương diện vật chất và cả phương diện tinh thần. Thuở sanh thời của ông bà cha mẹ thì con cháu phải biết phụng dưỡng, đền đáp, đến khi qua đời thì một lần nữa sự hiếu đễ được biểu thị qua việc tu tập, vun bồi phước đức của con cháu, nhằm hồi hướng công đức cho ông bà tổ tiên, cửu huyền thất tổ nương nhờ tái sanh cực lạc. Giáo lý của Phật giáo đã góp phần tạo lập bản vị văn hóa cho cộng đồng cư dân nơi đây. Đặc biệt dạy dỗ các thế hệ con cháu phải biết hiếu đạo, có trách nhiệm và bổn phận cung cấp vật chất, phụng dưỡng tinh thần, quan tâm đến cha mẹ, ông bà và biết lập nghiệp chân chính để chăm lo cho gia đình, góp phần phát triển xã hội.
Ngoài ra, lễ hội Đổ giàn còn gắn với tinh thần từ bi, hỷ xả của Phật giáo hướng tới cố kết cộng đồng. Đây cũng là dịp để chư tăng các chùa xiển dương hoằng pháp, giảng giải giáo lý trung đạo, nhân quả luân hồi. Qua ba ngày tham dự và hành lễ, mọi người sẽ có điều kiện am tường thấu hiểu quy luật từ nhân đến quả là cả quá trình tham gia của vô số nhân duyên tạo cơ hội chuyển hóa quả xấu thành lành cho cả hiện tại và tương lai. Theo triết lý Phật giáo thì cứu độ chính là chuyển hóa, cứu giúp một phần khổ đau của chúng sanh, trong đó có ông bà cha mẹ của mình. Hoặc phần nghi thức phóng sanh chim, cá, chình ra sông Côn cũng thể hiện tinh thần từ bi, hỷ xả của Phật giáo hướng con người đến đạo lý vạn vật hiếu sinh, thương người như thể thương thân. Trong lễ xá tội vong nhân và vu lan báo hiếu trung tuần tháng Bảy không chỉ nghĩ đến ông bà, tổ tiên mình, mà còn thương tưởng đến những vong linh cô hồn không nơi nương tựa. Chính vì thế mà các nghi thức của Phật giáo trong lễ hội Đổ giàn đều thể hiện chúc nguyện, hồi hướng phúc báo cho âm dương hài hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở.
3. Kết luận
Trong xu hướng toàn cầu hóa, các tôn giáo trên thế giới ngày càng gắn bó hơn với đời sống thế tục. Đặc biệt, trong lĩnh vực chính trị, văn hóa xã hội và đạo đức, người dân tự giác điều chỉnh để thích ứng với cuộc sống bền vững. Cũng vì vậy mà trong quá trình tồn tại và phát triển Phật Giáo ở Việt Nam đã có những ảnh hưởng trên nhiều phương diện. Nhiều quy phạm, chuẩn mực đạo đức Phật giáo đã được người Việt dựa trên cơ tầng văn hóa của mình để lựa chọn, tiếp nhận, nâng cao và vận dụng ở các mức độ và phương diện khác nhau, góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực. Giáo lý của Phật giáo dung hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt bằng sự ứng xử linh hoạt và tinh tế trên các mặt khác nhau của văn hóa xã hội. Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đã nhận xét về vấn đề này: “Phật giáo mang tính cách của một tôn giáo toàn cầu nên dù phải “dấn thân” chuyển biến theo địa phương trong một chừng mực nào đó – tức phương thức phổ biến theo tinh thần “hạ thừa” – nó vẫn giữ niềm kiêu hãnh của một tôn giáo, và trong sự hội nhập với địa phương, nó vẫn muốn đóng một vai trò trên – trước”.
Yếu tố Phật giáo hiện diện xuyên suốt trong lễ hội Đổ giàn ở thôn An Thái, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Sự ảnh hưởng này đã mang lại cho cộng đồng cư dân người Việt và người Hoa nơi đây có một lối sống an nhiên, giản dị và đầy triết lý nhân sinh, phát huy quan điểm từ bi, tương thân tương ái để định hướng cho sự chuẩn mực các hoạt động thực tiễn của mình. Có lẽ điều này là sự cộng hưởng tích cực của giáo lý Phật giáo và đức tính thiện lương đang tồn tại trong nhân sinh tỉnh thức. Đức Phật dạy rằng: Trong mỗi lối sống, hoặc cách sống từ bi phải được thể hiện trong cuộc đời nhân sinh tại thế, nghĩa là ngay khi còn ở thế gian. Sự dung hợp giữa nghi lễ đạo Phật với tín ngưỡng dân gian thật sự đã gắn kết nhuần nhuyễn theo như đánh giá của HT,TS. Thích Bảo Nghiêm: “Những việc làm xem chừng thiếu khoa học, nhưng lại đầy thiện tâm. Có cái phi lý, lại có chỗ hợp lý, khiến dân gian vẫn gửi gắm niềm tin. Và cũng bởi niềm tin chính đáng đó nên không ai cản phá, mà cũng khó lòng xóa đi đời sống tinh thần của đông đảo nhân dân, vốn dĩ là di sản ngàn xưa để lại”./.
_________________________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
2. L. Cadiere (1997), Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
3. Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế.
4. Tạ Chí Đại Trường (2005), Thần, người và đất Việt, NxbVăn hóa Thông tin, Hà Nội.
5. Thích Thanh Từ (2004), Phật giáo trong mạch sống dân tộc, Nxb Tôn giáo.
6. Thích Phụng Sơn (1995), Những nét đẹp văn hóa của đạo Phật, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hà Nội.
7. Nguyễn Duy Hinh (1990), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
8. Nguyễn Đức Diện (2016), Triết lý đạo với đời của Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội (3/100), tr.44-48.
[1] Tục cúng xô cỗ thí giàn của người Hoa định kỳ tổ chức 14, 15, 16 tháng Bảy âm lịch hàng năm.
[2] Số liệu ông Thái Hóa Khoa sinh năm Ất Dậu (1945) ở thôn An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định ghi chép: “Tằng tổ khảo (ông cố nội) tên Thái Văn Thiện (1851-1901) tham gia xây dựng chùa Bà ở thị tứ An Thái”.
[3] Tư liệu ghi chép điền dã của tác giả Nguyễn Văn Dự (7/2023)
[4] Theo khái niệm và phương pháp nghiên cứu học thuyết sinh thái văn hóa của Julian Haynes Steward.
[5] Mục Kiền Liên là một vị tỳ kheo trong thời đức Phật còn tại thế. Sau khi chứng quả vị La Hán, ngài đắc lục thông quan sát khắp các cõi giới nhìn thấy được mẹ mình đang bị đọa đày nơi địa ngục rất cực khổ, đói khát. Bởi của ngài là bà Thanh Đề khi còn sống đã làm nhiều điều độc ác nên sau khi chết bị đọa xuống địa ngục. Mục Kiền Liên dung thần thông mang cơm dâng cho mẹ đang thọ khổ ở dưới địa ngục để tỏ lòng hiếu kính. Bà Thanh Đề đỡ lấy bát cơm đến chỗ không có ngạ quỷ lén ăn. Nhưng vì nghiệp chướng quá nặng nên cơm vừa đưa lên miệng thì hóa thành hòn than đỏ rực. Thương mẹ, Mục Kiền Liên cầu cứu Phật Tổ. Đức Phật nói: “Mẹ ông nghiệp quá nặng, muốn cứu thì vào ngày rằm tháng Bảy hãy thiết lễ Vu Lan Bồn cúng giải đảo huyền”. Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy, thân mẫu của ngài được thoát nạn. Mục Kiền Liên cảm kích ân Phật nên đã khuyến khích người thế gian hàng năm vào rằm tháng Bảy tổ chức lễ Vu Lan, cúng dường tăng chúng mười phương hội về, tụng kinh Vu Lan Bồn để báo hiếu cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ.
[6] A Nan xuất gia năm 18 tuổi và trở thành thị giả thân cận của Phật. Một đêm vào khoảng canh ba, A Nan đang ngồi một mình trong tịnh thất thì một quỷ đói hiện lên với thân thể khô héo, gầy gò, mặt cháy đen, móng dài nanh nhọn, cổ họng dài, miệng phun lửa. Khi bước vào tịnh thất, quỷ nói với A Nan rằng: "Sau ba ngày nữa, mạng sống của thầy sẽ hết, lập tức thác sinh làm ngạ quỷ". A Nan hỏi quỷ có cách nào để không phải tới cảnh giới đáng sợ đó hay không. Ngạ quỷ đáp, nếu tôn giả bố thí cho số lượng lớn ngạ quỷ được ăn uống để thoát khỏi cảnh khổ và được tái sinh về cõi trời thì ngài mới được tăng tuổi thọ. A Nan đến hỏi Đức Phật: "Bạch đức Thế tôn, nay con làm sao lo liệu đủ số ẩm thực để bố thí cho các ngạ quỷ?". Phật truyền dạy bài chú đà la ni có thể giúp bố thí thực phẩm cho hằng hà sa số ngạ quỷ, giúp chúng loại trừ ác nghiệp, thoát nạn khổ đau, sinh về cõi trời. Phật cũng khuyên A Nan đem cách này phổ biến tất cả chúng sinh đều được cứu. Đây gọi là Kinh nói về đà la ni cứu ngạ quỷ diệm khẩu và cứu chúng sinh khổ đau. Tục cúng vong linh bắt nguồn từ sự tích này nên người ta vẫn gọi cúng cô hồn là “phóng diệm khẩu”, nghĩa là thả quỷ miệng lửa. Về sau, nó được hiểu rộng thành nghĩa xá tội cho tất cả những người đã khuất, hay cúng thí thực cho những cô hồn vất vưởng, như ý nghĩa xá tội vong nhân ngày nay.
7 Lễ hội Vu lan đã tồn tại 1500 năm tại Trung Quốc và được biết đến qua hai bản kinh “Vu Lan” và “Báo hiếu công ơn cha mẹ” với nội dung nhắc đến công sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và phương cách đền đáp công ơn cha mẹ theo quan điểm của Phật giáo đại thừa. Phật giáo Trung Hoa đã kết hợp ngày rằm tháng Bảy với mùa Vu lan theo Kinh Vu lan bồn. Từ đó, việc cầu siêu bạt độ cho hương linh vào ngày rằm tháng Bảy ở các chùa Việt Nam được dân chúng chấp nhận, tin theo và lưu truyền cho đến tận ngày nay (Thích Trí Quảng).
[8] Theo sách Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt của tác giả Trương Thìn và tác phẩm Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét