Thứ Tư, 21 tháng 8, 2024

DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN TỘC MIỀN NÚI QUẢNG NGÃI - TIẾP CẬN TỪ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY (ThS. Phan Đình Dũng - ThS. Cao Nguyễn Ngọc Anh)

Tóm tắt: Quảng Ngãi là địa phương có nhiều cư dân sinh sống qua các thời kỳ, trong đó có các dân tộc thiểu số ở miền núi, tạo nên sự đa dạng về văn hoá tộc người. Di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thiểu số miền núi được địa phương quan tâm nghiên cứu và quảng bá trong thời gian qua. Trong bối cảnh đời sống xã hội có nhiều biến chuyển, những giá trị di sản của các DTTS miền núi sẽ phát huy thế nào cho hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng và góp phần trong bảo tồn văn hóa dân tộc. Nội dung bài viết gợi mở một số giải pháp để phát huy di sản VHPVT của các DTTS miền núi Quảng Ngãi hiện nay.

Từ khóa: Di sản văn hóa, phi vật thể, miền núi, văn hóa dân gian, Quảng Ngãi.

Từ viết tắt: CEEVN (Trung tâm trao đổi Giáo dục với Việt Nam), DTTS (dân tộc thiểu số), DSVH (di sản văn hóa), VHPVT (Văn hóa phi vật thể), UNESCO (tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa), VNDGVN (Văn nghệ dân gian Việt Nam).

Dẫn luận

Theo Luật Di sản văn hóa của Việt Nam, di sản VHPVT: “là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”[1]. Nghiên cứu về bảo tồn di sản VHPVT trong bối cảnh hiện nay không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn.

1. Quan điểm tiếp cận về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá

Tác giả Ashworth đã đưa ra luận điểm chính về quan điểm bảo tồn giá trị di sản văn hoá đó là quan điểm bảo tồn nguyên gốc; quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa[2]. Quan điểm bảo tồn nguyên gốc được đưa ra từ những năm 1850 đề cập đến việc giữ gìn di sản theo hướng đảm bảo giữ nguyên trạng về kích thước, vị trí, đường nét, màu sắc… như nó vốn có tránh tình trạng làm biến dạng di sản. Cách tiếp cận di sản “như nó vốn có” phù hợp với bảo tồn các di sản văn hoá vật thể bao gồm các di tích và sưu tầm hiện vật bảo tàng nhằm đảm đảo tính nguyên gốc của nó. Tuy nhiên, quan điểm này đối mặt với việc xác định yếu tố nguyên gốc cần phải giữ gìn bởi lẽ vốn dĩ văn hoá luôn tồn tại trong trạng thái động. Trong khi đó, quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa cho rằng di sản cần thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể. Khi di sản văn hoá tồn tại trong không gian và thời gian hiện tại, di sản cần phát huy giá trị văn hoá, xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và loại bỏ những gì không phù hợp với xã hội ấy[3]. Cách tiếp cận này tương đồng với quan điểm bảo tồn có chọn lọc của tác giả Evans (1985). Ông cho rằng đây là quá trình phân loại, xếp hạng, công nhận, bảo tồn và phát huy một số thực hành văn hoá này trong khi hạn chế, loại bỏ những thực hành văn hoá khác gắn liền với phương thức sân khấu hoá hay dân gian hoá (folklorization) và “sáng tạo truyền thống” (invention of tradition)[4]. Với cách tiếp cận trên, DSVH và một số thực hành văn hoá dân gian bị tách khỏi môi trường diễn xướng truyền thống làm cho thực hành văn hoá này bị biến đổi và mai một (Salemink, 2001). Hơn nữa, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc chọn lọc và xác định các yếu tố kế thừa và loại bỏ thật không dễ dàng.

Hiện nay, quan điểm bảo tồn - phát triển được nhiều nhà nghiên cứu tán đồng. Theo đó, DSVH được tiếp cận theo hướng “động” không còn đóng khung trong quá khứ. A.A Radughin cho rằng “không chỉ cố gắng giữ gìn di sản ở trạng thái ban đầu mà còn cố gắng đưa di sản vào đời sống xã hội. Tức là bản thân quá trình lịch sử của văn hoá nghệ thuật xuất hiện ở đây không chỉ là quá trình bảo toàn quá khứ và tích luỹ các giá trị văn hoá mà còn là quá trình phát triển cái mới trong cái cũ”[5]. Tại Việt Nam, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá được xác định rõ trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng thể hiện 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng “gắn văn hóa với hệ tư tưởng - chính trị; văn hóa thể hiện đặc trưng dân tộc; sản phẩm văn hóa là một loại hàng hóa”[6]. Trong 10 nhiệm vụ nêu ra phải thực hiện để nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhấn mạnh đến Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật của các DTTS. Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các DTTS học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá, văn học nghệ thuật là người DTTS. Ưu tiên tài trợ cho các tác giả DTTS có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào các DTTS và tạo điều kiện để trí thức, cán bộ DTTS trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân. Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hoá, văn học, nghệ thuật các DTTS. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng DTTS. Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, sớm giảm tỉ lệ hộ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, xoá bỏ hủ tục[7].

Liên quan đến di sản VHPVT, theo Công ước Bảo vệ di sản VHPVT của UNESCO năm 2003 nhấn mạnh vai trò của người dân tham gia vào việc thực hành và trao truyền di sản VHPVT. Để phát huy giá trị của di sản, vai trò của cộng đồng với tư cách là người sáng tạo, nuôi dưỡng di sản văn hoá cần được quan tâm. Bên cạnh đó, các loại hình di sản văn hoá cần được bảo vệ bằng các biện pháp cụ thể nhận dạng, kiểm kê, tư liệu hoá, trao truyền thông qua giáo dục, nâng cao nhận thức, đảm bảo sự bền vững cho di sản trong bối cảnh xã hội phát triển[8].

Tỉnh Quảng Ngãi có lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với cộng đồng các dân tộc, trong đó, vùng miền núi có những tộc người gắn với môi trường sinh tụ đã hình thành và lưu giữ những nét VHPVT độc đáo. Di sản VHPVT với tư cách là một thành tố của DSVH của DTTS miền núi của địa phương cần được nghiên cứu và tiếp cận đa chiều thích ứng với bối cảnh xã hội đương đại. Khi công tác bảo tồn được thực hiện tốt, những giá trị di sản được khai thác phù hợp sẽ đem lại những lợi ích thiết thực trong sinh kế, tác động tích cực đến sự việc gìn giữ di sản từ cộng đồng trong bối cảnh xã hội có nhiều biến đổi hiện nay.

2. Gợi mở về công tác bảo tồn và phát huy VHPVT miền núi Quảng Ngãi trong tình hình hiện nay

2.1. Từ bảo tồn đến chuyển đổi số về giá trị di sản văn hóa

Từ năm 1998 trở đi, khi nghị quyết TW 5 khóa VIII của Ban Chấp hành TW Đảng về “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” ban hành, có thể nói, một sự khởi động tích cực cho công tác bảo tồn văn hóa của Việt Nam, trong đó có văn hóa cộng đồng DTTS được quan tâm hơn trước. Các địa phương trên cả nước quan tâm đầu tư cho công tác bảo tồn văn hóa DTTS từ nhận diện giá trị di sản, nghiên cứu bảo tồn và đặc biệt phục hồi các lễ hội một thời gian dài gián đoạn do nhiều yếu tố. Một số chương trình, kế hoạch thông qua nguồn lực của Nhà nước và tổ chức phi chính phủ, xã hội hoá được triển khai trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, DTTS trong đó có những dự án sưu tầm, truyền dạy (nhạc cụ, nghề dệt thổ cẩm) cho thế hệ trẻ DTTS ở miền Trung nói chung, Quảng Ngãi nói riêng. Một số hoạt động tiêu biểu trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa DTTS ở Quảng Ngãi thông qua đầu mối của Hội VNDGVN: Nghề dệt thổ cẩm của người H’rê tại Làng Teng, xã Ba Thành, huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi do ông Thanh Thảo chủ nhiệm (dự án Phi vật thể do CEEVN tài trợ năm 2005); Nghiên cứu sưu tầm chiều sâu văn học dân gian H’rê tỉnh Quảng Ngãi của Nga Ri Vê (công trình trại viết của Hội VNDGVN, 2012); Nhạc khí cụ của đồng bào Ca Dong ở Quảng Ngãi của Nguyễn Thế Truyền (công trình tài trợ của Hội VNDGVN, 2014); Văn hóa dân gian dân tộc H’rê Quảng Ngãi của Nga Ri Vê (công trình tài trợ của Hội VNDGVN, 2014); Âm nhạc dân gian của tộc người H’rê ở Quảng Ngãi của Nguyễn Thế Truyền (giải Nhì B, Hội VNDGVN, 2019); Thế giới thực tại và thế giới kỳ ảo trong truyện cổ H’rê, Cor, Ca Dong nhận diện từ tổng thể văn hóa của Cao Văn Chư (công trình tài trợ của Hội VNDGVN, 2019), Những địa danh ghi dấu qua ca dao, truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian vùng núi Ấn sông Trà của Ngô Văn Ban (Nxb. Đà Nẵng, 2019), Nhạc khí Xơ - đăng ở miền Tây Quảng Ngãi của Nguyễn Thế Truyền (Nxb. Hội Nhà văn, 2020),…

Bên cạnh đó, từ trách nhiệm của chính quyền các cấp, cơ quan chức năng và những nhà nghiên cứu văn hóa góp phần trong việc bảo tồn văn hóa cộng đồng ở Quảng Ngãi, trong đó có di sản văn hóa của các DTTS qua các thiết chế văn hóa (bảo tàng, hội văn học nghệ thuật tỉnh, nhà truyền thống…). Tính đến năm 2024, những nét độc độc đáo của các DTTS tỉnh Quảng Ngãi được đưa vào danh mục di sản quốc gia trong lĩnh vực VHPVT: Nghệ thuật cồng chiêng của người Cor huyện Trà Bồng (27/8/2019); Nghệ thuật trình diễn Chiêng Ba của người Hrê huyện Ba Tơ (03/02/2021), Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê huyện Ba Tơ (29/01/2019). Những công trình nghiên cứu về văn hóa DTTS ở Quảng Ngãi được xuất bản khá nhiều, vừa nhận diện bản sắc vừa góp phần trong quảng bá văn hóa cộng đồng: Phong tục và nghi lễ của người Cor và người Ba Na (Cao Chư, Nguyễn Quang Lê, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2012), Từ điển địa danh Quảng Ngãi (Cao Chư chủ biên, Nxb. Từ điển Bách khoa, (2013) với nhiều mục, trong đó có nhiều địa dang liên quan các DTTS ở Quảng Ngãi; Địa danh dân gian Quảng Ngãi (Cao Chư, Nxb. Văn hóa dân tộc, 2015) có ba chương phân tích về địa danh mang gốc tiếng của người H’rê, Cor, Ca Dong; Văn hóa cổ truyền dân tộc Cor - tổng thể và những giá trị đặc trưng (Cao Chư, Nxb. Khoa học xã hội, 2016) với nguồn tài liệu phong phú được miêu thuật, phân tích trong bối cảnh truyền thống và biến đổi trên nhiều lĩnh vực.

Tính đến đầu năm 2024, tỉnh Quảng Ngãi có: 03 bảo vật quốc gia; 02 di tích quốc gia đặc biệt; 07 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 33 di tích cấp quốc gia; 171 di tích cấp tỉnh và 58 địa điểm được khoanh vùng bảo vệ[9]. Trong kế hoạch định hướng đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030, Quảng Ngãi tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số về xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững, trong đó nhấn mạnh việc nghiên cứu, phục dựng các lễ hội truyền thống và các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng; tổ chức đa dạng các sự kiện văn hóa để khơi dậy các giá trị văn hóa tại cộng đồng, tuyên truyền, nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đối với sự phát triển bền vững ở địa phương[10]. Đây là những thuận lợi để di sản văn hóa Quảng Ngãi nói chung, DTTS miền núi địa phương có điều kiện phát triển.

Hiện nay, trong xu thế của khoa học công nghệ, đặc biệt với chủ trương chuyển đổi số để quản lý hiệu quả và làm cơ sở cho khai thác, phát triển, những thành tựu của địa phương trong bảo tồn di sản văn hóa DTTS cần được quan tâm hơn nữa. Ngày 06/9/2023, Tỉnh ủy Quảng Ngãi ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU về chuyển đổi số tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; trong đó ưu tiên các lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục, y tế, tài nguyên và môi trường, du lịch, quản lý đô thị, giao thông vận tải, logistics, an ninh, an toàn xã hội. Trong lĩnh vực du lịch, chủ trương số hóa dữ liệu các khu di tích lịch sử, văn hóa, du lịch bằng công nghệ 3D, 4D, tích hợp thuyết minh tự động để quản lý, giới thiệu trên nền tảng số, đẩy mạnh quảng bá hình ảnh tỉnh bằng nhiều hình thức khác nhau để thu hút khách du lịch[11]. Hiện nay, tại một số địa phương và các di tích, điểm đến du lịch được số hóa nhưng chưa phổ biến. Trên cơ sở tư liệu về di sản văn hóa DTTS miền núi Quảng Ngãi được nghiên cứu trong thời gian qua, địa phương cần quan tâm thực hiện để gìn giữ và giới thiệu, quảng bá những giá trị trong khai thác du lịch kịp thời, thu hút khách tham quan.

2.2. Khai thác du lịch từ tài nguyên văn hóa DTTS miền núi

Miền núi Quảng Ngãi có cảnh quan đặc trưng và nhiều địa điểm, khu vực là thắng cảnh độc đáo. Môi trường sinh thái hiện nay cũng là lợi thế để thu hút khách trong phát triển du lịch. Trong du lịch, xu hướng phát triển khai thác du lịch sinh thái gắn với văn hóa tộc người được các quốc gia quan tâm phát triển du lịch với những mô hình độc đáo. Tại Việt Nam, với chủ trương, chính sách phát triển loại hình DLCĐ từ cuối thập niên 90 (thế kỷ XX) nhiều địa phương đã phát triển loại hình này trên cơ sở tài nguyên văn hóa của cộng đồng tại chỗ. Đặc biệt, ở vùng miền núi, những nét độc đáo của DTTS trở thành nguồn tài nguyên để các địa phương phát triển loại hình này. Tập thành những giá trị văn hóa cộng đồng DTTS trong đời sống vật chất và tinh thần được du khách quan tâm, nhất là đối với sự trải nghiệm sinh sống trong nếp sinh hoạt mỗi ngày, tham gia vào công việc mang tính thủ công, hòa mình trong không khí thiêng, gắn bó cộng đồng trong nhiều lễ nghi, trò chơi được tổ chức.

Các tộc người thiểu số miền núi ở Quảng Ngãi có kho tàng văn hóa dân gian phong phú, liên quan đến đời sống của họ trải qua những thời kỳ lịch sử. Sự nhận diện những giá trị của các tộc người này được nhận diện, nghiên cứu qua nhiều công trình, đề tài khoa học nhân văn (dân tộc học, nhân học, văn hóa học, bảo tàng, nghệ thuật học…,). Trong dòng chảy của đời sống xã hội, có những tập quán, tục lệ mai một song vẫn còn những điều theo kinh nghiệm, luật tục cộng đồng được duy trì trong hoạt động sinh kế, chu kỳ đời người, cây trồng, tri thức dân gian trong khai thác, chế biến các nguồn tài nguyên từ rừng núi (thực vật, động vật….). Đặc biệt, các loại hình trong nghệ thuật diễn xướng dân gian, nghề thủ công đã được địa phương nghiên cứu, và Nhà nước công nhận, đưa vào danh mục di sản quốc gia: Nghệ thuật cồng chiêng của người Cor huyện Trà Bồng; Nghệ thuật trình diễn Chiêng Ba của người Hrê huyện Ba Tơ, Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê huyện Ba Tơ. Cùng với những loại hình di sản văn hóa của cộng đồng, những di sản này này là tài nguyên đặc biệt để địa phương định hướng trong phát triển du lịch trong chính sách kinh tế - xã hội của vùng miền núi. Làng Teng (xã Ba Thành, huyện Ba Tơ) là điểm DLCĐ được hình thành trên cơ sở cảnh quan cư trú ở miền núi của người Hrê gắn với nghề thủ công dệt thổ cẩm. Cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển điểm đến du lịch ở làng Teng được quan tâm với việc xây dựng quần thể văn hóa gồm: Không gian sinh hoạt, nhà văn hóa, phục dựng 3 nhà truyền thống, kho lúa, chuồng trâu, cây nêu và nhiều hạng mục khác… Hỗ trợ cho sự phát triển du lịch có Hợp tác xã dịch vụ Làng Teng trong quảng bá hình ảnh, văn hóa và tập huấn cho đồng bào tham gia những kỹ năng giao tiếp, đưa đón du khách. Đồng thời, để tạo nguồn lực phát triển, hợp tác xã tổ chức truyền dạy nghề dệt, dân ca dân vũ, chế tác và biểu diễn nhạc cụ Hrê… Qua hoạt động du lịch của làng, người dân của làng có nguồn thu nhập. Đây là hướng đi trong khai thác di sản văn hóa DTTS mang tính tiên phong trên địa bàn Quảng Ngãi, phù hợp với việc phát triển khai thác du lịch hiện nay. Đó là “Di sản văn hóa và hoạt động du lịch trở thành những thành tố cơ bản, quan trọng của một xã hội văn minh, phát triển trên nền tảng văn hóa truyền thống đặc sắc của cộng đồng cư dân chủ nhân của xã hội đó. Trong quá trình tồn tại và phát triển, mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống di sản văn hóa và hoạt động du lịch mang tính tất yếu khách quan. Chúng trở thành những thành tố cơ bản, quan trọng của bất cứ một xã hội phát triển nào. Bởi di sản văn hóa là tiềm năng, nguồn lực của du lịch và du lịch là động lực cho di sản văn hóa tồn tại và phát triển mạnh mẽ, vững chắc. Di sản văn hóa trở thành “nguyên liệu" cho công nghiệp du lịch. Du lịch trở thành nguồn cung cấp năng lượng cho di sản văn hóa tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển của hai thành tố này cũng đem đến sự tác động tương hỗ mang cả các yếu tố tích cực và các yếu tố tiêu cực”[12].

Hiện nay, những nhà sàn truyền thống trong khu “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa thôn Làng Teng” - địa điểm đón khách tham quan và tập trung trong giới thiệu văn hóa của làng xuống cấp. Tình hình khai thác tài nguyên văn hóa cộng đồng cư dân miền núi ở Quảng Ngãi chưa hiệu quả, điều này được phản ánh qua thông tin: Vùng cao Quảng Ngãi bao gồm các huyện Sơn Tây, Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long, là địa bàn cộng cư của hơn 170 nghìn hộ đồng bào các DTTS như: Cor, Ca Dong, Hrê… sinh sống. Nơi đây, được thiên nhiên ưu đãi nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú. Dọc phía Đông Trường Sơn hùng vĩ với nhiều thác ghềnh, hồ, sông, suối; có đỉnh núi Cà Đam cao hơn 1.400m so với mực nước biển, được ví như “nóc nhà” của Quảng Ngãi. Ngoài ra, còn có thác Lụa Sơn Tây; ruộng bậc thang Sơn Tây; suối khoáng nóng Thạch Bích; suối Trà Bói; thác Cao Muôn; thảo nguyên Bùi Hui; hồ Nước Trong; hồ thủy điện Đắk Đring… Ngoài cảnh sắc núi non hùng vĩ, yếu tố về văn hóa cũng rất đa dạng và đặc sắc, mang đậm tính vùng miền như nghệ thuật trình diễn chiêng ba của người Hre; Nghệ thuật đấu chiêng của người Cor; cùng với đó là hàng trăm các nghi lễ, lễ hội truyền thống đặc sắc, các làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống gắn liền với đời sống sinh hoạt của đồng bào. Theo lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi: Mặc dù có rất nhiều tiềm năng, nhưng đến nay, du lịch miền núi Quảng Ngãi vẫn còn bỏ ngỏ. Riêng đối với các sản phẩm du lịch miền núi chưa hình thành và phát triển rõ nét, dịch vụ mới chỉ ở mức cơ bản việc phát triển du lịch ở một số huyện miền núi đến nay mang tính nhỏ lẻ, manh mún của một vài hộ dân, chưa có sự liên kết để cùng phát triển[13].

Thế nhưng, trong 30 năm qua, kể từ khi phát triển loại hình DLCĐ ở Việt Nam với sự hỗ trợ của nhiều yếu tố, chỉ có 10% các dự án du lịch dựa vào cộng đồng triển khai thành công[14]. Điều này cho thấy, tỷ lệ không thành công, không hiệu quả ở các mô hình DLCĐ ở Việt Nam cần nghiên cứu để tìm ra những yếu tố, nguyên nhân về sự phát triển không bền vững cũng sẽ là bài học tốt cho Quảng Ngãi trong khai thác giá trị di sản DTTS phát triển loại hình DLCĐ nói chung, ở miền núi nói riêng. Thế nhưng, những mô hình thành công khi khai thác DLCĐ gắn với văn hóa của DTTS miền núi ở các địa phương khác cũng cần được nghiên cứu để rút ra những bài học kinh nghiệm cho phát triển của địa phương. Tỉnh Quảng Nam - địa phương kế cận trong khu vực Trung trung bộ của Việt Nam có mô hình DLCĐ ở vùng miền núi đem lại hiệu quả: làng Cơ tu tại Làng Du lịch cộng đồng Ta Lang (xã Bha lêê, huyện Tây Giang). Đây là mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được Viện phát triển Châu Á, Dự án Trường Sơn xanh, Hội Du lịch cộng đồng Việt Nam chọn làm thí điểm đầu tiên tại Quảng Nam; được Hiệp hội Du lịch Việt Nam trao tặng danh hiệu “Làng Du lịch cộng đồng tiêu biểu” năm 2019 vì đã có thành tích xuất sắc trong xây dựng, tổ chức và phát triển[15].

- Duy trì hiệu quả hoạt động văn nghệ dân gian gắn với các thiết chế văn hóa cơ sở

Chính sách đại đoàn kết dân tộc và phát triển kinh tế xã hội đối với vùng miền núi, vùng DTTS của Việt Nam trong thời gian qua đã đem lại những chuyển biến tích cực trong đời sống của cộng đồng cư dân. Bối cảnh và môi trường của người dân miền núi, DTTS đã có chiều hướng phát triển và thay đổi với các xã hội truyền thống trước đây. Đặc biệt, chính sách định canh, định cư và đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống điện - đường - trường - trạm) ở thôn, làng đem lại cho người dân điều kiện cải thiện đời sống và nâng cao hưởng thụ văn hóa. Thời gian qua, Quảng Ngãi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về Nông thôn mới, trong đó những thôn, làng của DTTS miền núi được đầu tư xây dựng về thiết chế cho hoạt động văn hóa cơ sở: Nhà văn hóa, Trung tâm học tập cộng đồng, khu sinh hoạt cộng đồng,… Tại các điểm đến du lịch, những khu vực trưng bày, triển lãm văn hóa… phục vụ du khách được hình thành. Gắn với thiết chế văn hóa cơ sở vùng dân tộc thiểu số miền núi cần duy trì những sinh hoạt mà trong đó các loại hình nghệ thuật truyền thống của cộng đồng cần được duy trì, tổ chức. Những điểm sáng ở các huyện miền núi Quảng Ngãi: Đồng bào Cor ở thôn Thọ An, xã Bình An (Bình Sơn) đã tổ chức tết Ngã rạ với nhiều hoạt động như giã gạo rẫy, làm các mâm cúng thần lúa, thần nước và các vị thần linh cùng các điệu chiêng, điệu múa. Huyện Sơn Tây bảo tồn nhạc cụ truyền thống đàn Brook, Brau, Ra ngói, cồng chiêng (toàn huyện có 120 bộ chiêng Kần, 166 bộ chiêng Lênh, 40 đàn Brook, Brau, đàn Ra ngói... tại các hộ gia đình. Huyện Sơn Hà đã chú trọng khôi phục kiến trúc nhà sàn, phục dựng cảnh quan làng truyền thống, phát triển nghề dệt vải, đan lát, làm rượu cần… của người H’rê. Theo thống kê của ngành văn hóa, các huyện miền núi Quảng Ngãi hiện có 333 nghệ nhân đang gìn giữ, trao truyền, phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, 13 loại hình di sản được kiểm kê, 131 lễ hội truyền thống, 96 nghề thủ công, 159 nghệ thuật trình diễn dân gian, 160 tri thức dân gian về tập quán xã hội, 117 tri thức dân gian về tiếng nói, chữ viết, 128 tri thức dân gian về y học cổ truyền. Ngoài ra, còn có hàng trăm tri thức dân gian về trang phục của đồng bào[16].

Loại hình nghệ thuật truyền thống của cộng đồng cư dân miền núi Quảng Ngãi cần được nghiên cứu, xây dựng sản phẩm ứng dụng, tạo sân chơi lành mạnh đồng thời đưa vào khai thác du lịch. Tại các huyện miền núi của Quảng Ngãi đã duy trì ngày hội văn hóa thể thao gắn với tổ chức hội chợ tiêu thụ sản phẩm của đồng bào DTTS mang lại hiệu quả về kinh tế, tạo môi trường biểu diễn nghệ thuật truyền thống của cư dân tại chỗ. Những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ gắn với các thiết chế cơ sở có vai trò quan trọng trong bảo tồn và là môi trường tốt duy trì thường xuyên di sản của cộng đồng trong bối cảnh mới.

3. Kết luận

Di sản văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam - trong đó DTTS miền núi đã góp phần làm nên bức tranh đa sắc màu mang tính đa dạng, thống nhất của văn hóa Việt Nam. Trên bình diện của địa phương miền Trung, bức tranh văn hóa Quảng Ngãi được tạo nên bởi sự cộng cư của nhiều tộc người trong lịch sử phát triển, trong đó có cộng đồng DTTS miền núi. Di sản văn hóa văn nghệ dân gian của các tộc người miền núi đã góp phần gắn kết cộng đồng dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Từ chủ trương đến chính sách của Nhà nước, từ nhiều nguồn lực, Quảng Ngãi đã quan tâm đến bảo tồn và phát huy những giá trị di sản DTTS.

Theo Báo cáo của Ban Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, toàn tỉnh hiện có 1.404.940 khẩu/374.573 hộ; dân tộc thiểu số là 187.090 người, chiếm 13,32% tổng dân số toàn tỉnh. Trong đó: Dân tộc Hrê là 133.104 người; dân tộc Cor 33.227 người; dân tộc Ca Dong 19.689 người và 1.070 người thuộc các dân tộc thiểu số khác (Hoa, Mường, Tày, Thái…). Thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi luôn quyết liệt, kịp thời chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi[17]. Đây là cơ sở thuận lợi để Quảng Ngãi tiếp tục xây dựng, phát triển trong chiến lược của địa phương theo hướng bền vững, đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mà tài nguyên văn hóa đóng vai trò là một nguồn lực quan trọng ở khu vực miền núi. Trong xu hướng phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh, di sản VHPVT ở Quảng Ngãi đứng trước những thách thức trong đời sống xã hội (mai một, mất đi, biến đổi…). Dù vậy, với thời đại khoa học công nghệ phát triển, những giá trị di sản VHPVT có điều kiện thuận lợi để duy trì, bảo tồn và phát huy khi được quan tâm đầu tư của Nhà nước và ý thức trách nhiệm của cộng đồng được nâng cao. Tiếp cận khung lý thuyết về vốn văn hóa, ta thấy được tầm quan trọng của di sản văn hóa/vốn văn hóa của cộng đồng các dân tộc trong chính sách phát triển của cộng đồng, của địa phương và quốc gia. Hiện nay, quan điểm về vốn văn hóa của cộng đồng trở thành động lực phát triển kinh tế và Việt Nam hiện nay quan tâm: Văn hóa được coi là nguồn lực phát triển kinh tế với nhiều cách gọi khác nhau như phát huy giá trị bản sắc văn hóa vào phát triển kinh tế, phát triển kinh tế dựa vào nguồn lực văn hóa dân tộc… Vốn văn hóa vừa là mục tiêu phát triển kinh tế, vừa là điều kiện quan trọng cho sự phát triển bền vững”[18]. Chúng ta mong muốn những thành tựu đạt được trong bảo tồn di sản văn hóa DTTS miền núi của Quảng Ngãi trong thời gian qua sẽ được tiếp tục phát huy, phát triển trong bối cảnh mới khi đối diện những nguy cơ, thách thức và cả cơ hội./.



Tài liệu tham khảo

1. A.A Radughin chủ biên (2004), Văn hoá học những bài giảng, (bản dịch của Vũ Đình Phòng, Từ Thị Loan hiệu đính), Viện Văn hoá thông tin, Hà Nội.

2. Nguyễn Thị Hiền (2022), Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dựa vào cộng đồng, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

3. Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu (2010), Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.

4. Lương Hồng Quang (2018), Phát triển văn hóa dựa vào cộng đồng: Các tranh luận lý thuyết và thực tiễn, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.

5. Quốc hội nước CHXHCNVN (2009), Luật Di sản văn hóa (sửa đổi và bổ sung), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Bùi Quang Thắng chủ biên (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

7. Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2021), Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, kỳ họp lần thứ 5 khóa XX, số 05-NQ/TU, Bí thư Tỉnh ủy Bùi Thị Quỳnh Vân ký, ban hành ngày 02/11/2021.

8. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (2022), Đề án phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, ban hành theo quyết định số 304-QĐUBND, chủ tịch Đặng Văn Minh ký, ban hành ngày 10/3/2022.








[1] Quốc hội nước CHXHCNVN (2009), Luật Di sản văn hóa (sửa đổi và bổ sung), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, (Điều 4, chương I).


[2] Bùi Quang Thắng chủ biên (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.80-86.


[3] Bùi Quang Thắng chủ biên (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.80-86.


[4] Dẫn lại từ: Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức, Hoàng Cầm (2014), Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá trong quá trình hiện đại hoá: Nghiên cứu trường hợp tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hội Gióng (Hà Nội), Tháp Bà Poh Nagar (Khánh Hoà) và văn hoá cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đồng), Nxb. Tri thức, tr.22.


[5] A.A Radughin chủ biên (2004), Văn hoá học những bài giảng, (bản dịch của Vũ Đình Phòng, Từ Thị Loan hiệu đính), Viện Văn hoá thông tin, Hà Nội, tr.646.


[6] Nguyễn Văn Tình (2009), Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.53.


[7] Nghị quyết số 03-NQ/TW, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc do Tổng Bí thứ Lê Khả Phiêu ký ngày 16/7/1998, (nhiệm vụ 7).


[8] Lương Hồng Quang (2018), Phát triển văn hóa dựa vào cộng đồng: Các tranh luận lý thuyết và thực tiễn, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.230.


[9] Danh mục di tích lịch sử văn hóa tỉnh Quảng Ngãi, bản đánh máy.


[10] Kim Ngân (2023), Chung tay bảo tồn di sản văn hóa, Báo Quảng Ngãi, Dẫn theo https://baoquangngai.vn/thoi-su/su-kien-binh-luan, (truy cập ngày 15/7/2024).


[11] Nghị quyết 13-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XX về Chuyển đổi số tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 do Bí thư Bùi Thị Quỳnh Vân ký ngày 06/9/2023.


[12] Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu (2010), Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.60.


[13] H. Trường, T. Nhân (2024), “Quảng Ngãi: Du lịch vùng DTTS và miền núi còn bỏ ngỏ”, Báo Dân tộc & phát triển, Dẫn theo https://baodantoc.vn/, (truy cập ngày 16/7/2024).


[14] Nguyễn Văn Chất, Tạ Duy Linh, Dương Đức Minh (2023), “Du lịch tự thân Cồn Hô, tỉnh Trà Vinh - cách tiếp cận trong phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa & Nguồn lực, Trường Đại học văn hóa TP.HCM, số 2 (34).


[15] Thu Hoài (2021), “Khám phá văn hóa làng Cơtu tại Làng Du lịch cộng đồng Ta Lang”, Báo Văn hóa, Dẫn theo https://baovanhoa.vn/diem-den/, (truy cập ngày 16/7/2024).


[16] V. Yến (2022), Bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, báo Quảng Ngãi, Dẫn theo https://baoquangngai.vn/channel/2028/202211/(truy cập ngày 14/7/2024).


[17] UBND tỉnh Quảng Ngãi (2024), Phát triển du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng tỉnh Quảng Ngãi: cơ hội và triển vọng, Kỷ yếu hội thảo, Bản đánh máy, tr.185.


[18] Bùi Minh Hào (2022), Vốn văn hóa trong phát triển kinh tế thị trường vùng dân tộc thiểu số, Nxb. Đại học Vinh, tr.57.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...