Thứ Ba, 21 tháng 5, 2024

Vai trò của Mai Xuân Thưởng trong phong trào yêu nước, chống Pháp ở Bình Định cuối thế kỷ XIX (TS. Phan Văn Cảnh)


Mai Xuân Thưởng sinh năm 1860, tại làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn (nay là thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định), ông sinh ra trong một gia đình khoa cử, cha ông là Mai Văn Phẩm (sau đổi thành Mai Xuân Tín, thi đậu cử nhân năm Đinh Mùi (1847) (Thiên Trị thứ 7) tại trường thi Hương Thừa Thiên (Huế); làm quan chức Thừa biện tại ty quy chế thuộc Bộ Công. 

Sau đó, tiếp tục làm quan dưới triều vua Tự Đức. (Ngày 29/11/1856, lãnh chức Huấn đạo huyện Hà Đông (Quảng Nam); Ngày 23/01/1861 lãnh hàm tu soạn, chức Hành tẩu Đại sử thượng bảo thuộc Nội các (Huế); Ngày 12/01/1862, lãnh chức Tri Huyện An Định (tỉnh Thanh Hóa), ngày 14/8/1862, giữ nguyên hàm Tri huyện, tạm lãnh chức Tri phủ, Phủ Quảng Hóa (Thanh Hóa); Ngày 26/7/1864 vua Tự Đức sắc phong ông Mai Xuân Tín thật thụ phẩm Chánh lục (6-1), lãnh viên Ngoại lang coi Thù ứng thuộc Bộ Lễ; ngày 12/10/1864, Đốc bộ đường tỉnh Thanh Hóa cấp phương tiện cho Mai Xuân Tín về kinh nhận chức viên ngoại lang bộ Lễ)

Ngày 10/7/1866 theo tờ trình của viên quan họ Lê, lãnh binh tỉnh Cao Bằng trình về việc Bố chánh tỉnh Cao Bằng, Mai Xuân Tín bị bệnh chết; Ngày 29/7/1866 sắc phong của vua Tự Đức về việc truy tặng cố Mai Xuân Tín chức Án sát sứ tỉnh Cao Bằng. Ngày 8/8/1866, viên quan Án sát tỉnh Cao Bằng trình về Bộ cách xếp đặt để hộ tống quan tài của cựu cố Bố chánh Mai Xuân Tín từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bình Định, giao cho vợ con người mất an táng tại nguyên quán (thuộc làng Phú Lạc, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, Bình Định)

Sau khi người cha qua đời, Mai Xuân Thưởng lúc dó chỉ mới 6 tuổi cùng mẹ là bà Hoàng Thị Nguyệt trở về quê thôn Phú Lạc sinh sống. Tại đây, ông được người mẹ nuôi dưỡng dạy dỗ và được cụ Tú Lê Dung chỉ dẫn học tập. Vốn là người thông minh, hiếu học, năm 19 tuổi ông thi đậu tú tài (Tự Đức thứ 32) tại Trường thi Hương Bình Định, khoa thi năm kỷ Mão (1879), cùng khoa thi với Đào Doãn Địch.

Nhưng khác với tú tài Đào Doãn Địch ra làm quan ở triều đình (Huế), chức Hồng Lê tự thiếu khanh, còn Mai Xuân Thưởng không ra làm quan, tiếp tục con đường học vấn, ông học cả văn lẫn võ. Đến khoa thi Hương năm Ất Dậu (1885) tại Trường thi Hương Bình Định (Hàm Nghi năm thứ nhất), tháng 5 âm lịch (tức ngày 5/7/1885) kinh thành có biến, chỉ có Trường thi Hương Bình Định được tiến hành tổ chức kỳ thi và có kết quả. Sĩ tử Trường thi này chỉ lấy 8 người đậu cử nhân (còn các Trường thi Hương các tỉnh khác trong cả nước bị đình hoãn), Mai Xuân Thưởng đậu cử nhân vào vị thứ 7. Trước biến cố ở Kinh thành Huế, vua Hàm Nghi xuất bôn hạ chiếu “Cần Vương”, Mai Xuân Thưởng làm bài thơ “Vịnh Sĩ tử Trường thi Bình Định”:

“Cửa trường vang dạ miệng còn hơi,
Cờ nghĩa treo lên đã ngất trời.
Đạo trọng vua - tôi mình dám quản,
Oán hờn người Pháp có đâu vơi.”

Sau khi đậu cử nhân tại Trường thi Bình Định, Mai Xuân Thưởng đến tỉnh thành nhận lãnh áo mão Vua ban rồi trở về quê thôn Phú Lạc, bỏ tiền của trong nhà ra, tích trữ lương thực, lập căn cứ và chiêu bộ nghĩa binh (khoảng vài nghìn người) luyện tập võ nghệ chờ cơ hội ra giúp vua chống Pháp cứu nước.

Cùng thời gian này, tại làng Tùng Giản, huyện Tuy Phước (nay thuộc xã Phước hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định), ông Đào Doãn Địch - người đậu tú tài khoa thi năm Kỷ Mão (1879) làm quan dưới triều vua Tự Đức, đến triều vua Hàm Nghi năm thứ nhất được thăng chức Hồng lô tự thiếu khanh. Tháng 7/1885, kinh thành Huế có biến, ông nhận “Chiếu Cần Vương” của vua Hàm Nghi trở về quê phối hợp với quan quân thành Bình Định, chiếm giữ thành tổ chức lực lượng kháng chiến chống Pháp. 

Ông tổ chức nghĩa quân chặn đánh quân Pháp ngay trên đường hành quân của chúng từ Quy Nhơn đến tỉnh thành, nhiều trận đánh diễn ra tại Cầu Đôi (Hưng Thạnh), cầu Cần Úc (Trường Úc) và tại Thanh Bình Định, ông bị thương nặng, nghĩa quân thất bại, ông lệnh cho nghĩa quân rút về đóng tại Văn Chỉ (thuộc xã Nhơn Phúc, An Nhơn), thực dân Pháp đuổi theo nên ông phải kéo quân lên đóng tại Tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Khi nghĩa quân Đào Doãn Địch đóng tại tổng Phú Phong, Mai Xuân Thưởng đưa toàn bộ lực lượng của mình gia nhập vào lực lượng kháng chiến của Đào Doãn Địch và được phong chức Tám Tương Quân Vụ. Ngày 20/9/1885, vì vết thương quá nặng, Đào Doãn Địch qua đời trao lại toàn bộ binh quyền cho Mai Xuân Thưởng.

Sau khi ông Đào Doãn Địch mất, Mai Xuân Thưởng tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Bình Định. Ông chọn vùng đồi núi Lộc Đỗng (Lộc Động) thuộc tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định để tổ chức Lễ tế trời đất, ra mắt cùng tướng sĩ và nhân dân Bình Định. Tại buổi Lễ này, ông được các tướng sĩ suy tôn là nguyên soái, dưới ngọn cờ “Tiền sát tả, hậu đả Tây”.

1. Mai Xuân Thưởng tổ chức xây dựng lực lượng kháng chiến:

Sau khi được suy tôn làm nguyên soái, Mai Xuân Thưởng truyền Hịch kêu gọi các tướng sĩ và nhân dân Bình Định. Trong hịch kêu gọi, ông thể hiện được mục đích chống xâm lược của mình: “Chúng tôi có sứ mạng là tập hợp những người có thiện chí ở 5 phủ và huyện để thành lập một đạo quân nhằm sát hại những giáo dân và chiến đấu chống bọn Pháp. Chúng tôi sẽ chiếm lại kinh đô và đặt Hoàng đế của chúng ta trở lại ngai vàng, lúc đó, đất nước sẽ được thanh bình. Dân chúng chỉ chờ mong nền hòa bình này” [1]. 

Mai Xuân Thưởng tiến hành tập hợp và thống nhất lực lượng kháng chiến, ngoài những quan lại đương chức, các hưu quan, những văn thân yêu nước và hầu hết các hương lý trong tỉnh tham gia phong trào kháng chiến và tham gia đóng góp tiền của cho phong trào; ông tập hợp cả đồng bào các dân tộc thiểu số thành lập những đội quân thiện chiến “Sơn hùng, Sơn dũng”, và đây là lực lượng tin cậy của phong trào yêu nước chống Pháp ở Bình Định cuối thế kỷ XIX.

Tại buổi lễ tế trời đất, Mai Xuân Thưởng phong chức cho các tướng lĩnh dưới quyền của ông như:

1. Phó tướng Lê Tuyên: còn có tên là Lê Văn Trang, sinh năm 1838 tại làng Nhơn Ân, tổng Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình khá giả, là người giỏi võ nghệ giữ chức Lý Trưởng. Năm 1885, ông cùng Lê Văn Thống (người cùng làng) tham gia phong trào chống Pháp dưới quyền của Mai Xuân Thưởng và được phong chức là Phó tướng, còn Lê Văn Thống được phong chức Lãnh binh [6].

2. Nguyễn Hóa: còn có tên là Nguyễn Công Bình, sinh năm 1842 tại làng Phú Hiệp, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Ông thi đậu cử nhân Võ, được triều đình vua Tự Đức bổ nhiệm làm quan giữ chức Đề Đốc và được phong Lục phẩm xuất đội. Sau khi vua Tự Đức mất, ông xin về hưu trí tại quê nhà. Năm 1885, ông tham gia phong trào yêu nước chống Pháp và được Mai Xuân Thưởng phong chức Thống binh [6].

3. Nguyễn Bá Huân, sinh năm 1850 tại làng Vân Sơn, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Ông sinh ra trong một gia đình hiếu học (là con của cụ Tú Nguyễn Khuê), nhiều lần ra ứng thí tại Trường thi Hương Bình Định (khoa thi năm Đinh Mão - 1867, Canh Ngọ - 1870, Quý Dậu - 1878), nhưng cũng chỉ đậu Tú tài. Ông được Mai Xuân Thưởng phong chức Tham tán [6].

4. Nguyễn Trọng Trì, sinh năm 1851, là em của Nguyễn Bá Huân, thi đậu cử nhân khoa thi Hương tại Trường thi Bình Định năm Bính Tý (1876). Ông ra làm quan dưới triều vua Tự Đức. Đến triều vua Kiến Phúc, làm quan đến chức Giảo thư (thuộc Cơ mật viện), nhân dân gọi ông là quan Nội các, nhưng sau đó, ông bị triều đình cách chức, trở về quê dạy học.

Năm 1885, ông tham gia phong trào chống Pháp và được Mai Xuân Thưởng phong chức Tham trấn Mậu hiệp trấn [6]. Sau khi phong trào yêu nước ở Bình Định thất bại, ông lẩn tránh vào Phú Yên ẩn dật, khi tình hình yên ổn, ông trở về dạy học tại làng Bình Đức, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Đối với phong trào yêu nước ở Bình Định và Mai Xuân Thưởng, ông làm bài thơ:

“Giục ngựa, vung gươm cứu nước nhà,
Thăng trầm ngoảnh lại buổi xông pha.
Anh hùng cam chịu vinh hư vậy,
Vũ trụ ngẫm xem tiết nghĩa mà.
Chết cũng làm kinh hồn lũ giặc,
Hàng chi để nhục chí quân ta.
Cẩm Văn sóng vỗ, còn sôi máu,
Linh Đỗng chiều hè gió xót xa.”

5. Võ Phong Mận, người làng Kiên Phụng, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định; thi đậu cử nhân khoa thi năm Quý Dậu (1873) tại Trường thi Hương, Bình Định. Ông hưởng ứng phong trào yêu nước và được nguyên soái Mai Xuân Thưởng phong chức Tham Trấn [6].

6. Nguyễn Đáng (còn được gọi là Kiểm Đáng), người ở xóm Nhì, làng Đại An, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Sinh ra trong một gia đình khá giả, thi đỗ Tú tài dưới thời vua Tự Đức. Tham gia phòng trào yêu nước chống Pháp được nguyên soái Mai Xuân Thưởng phong chức Kiểm binh [6].

7. Bùi Điền, sinh năm 1850 tại làng Hội Phú, huyện Phù Mỹ, Phủ Hoài Nhơn. Dưới triều vua Tự Đức, ông được tuyển mộ vào lính kinh thành được giữ chức Quản lính thần cơ hậu vệ. Năm 1885, kinh thành Huế có biến, ông xin đem vợ con về Bình Định tụ nghĩa chống Pháp. Năm 1885, ông cùng lực lượng yêu nước huyện Phù Mỹ phối hợp với lực lượng kháng chiến của Đào Doãn Địch bao vây chiếm tỉnh thành Bình Định chống Pháp. Sau khi Đào Doãn Địch qua đời, ông gia nhập vào lực lượng kháng chiến dưới quyền của Mai Xuân Thưởng và được phong chức Thống trấn [6].

8. Tăng Doãn Văn (sau đổi là Tăng Bạt Hổ) sinh năm 1858, người làng Ân Thường, huyện Bồng Sơn, Phủ Hoài Nhơn. Tuy không đỗ đạt nhưng ông tỏ ra là người thông minh, tính khí can trường, khẳng khái, rất giỏi võ nghệ [6].

Năm 1885, phong trào chống Pháp nổ ra khắp nơi trong tỉnh, ông đem toàn bộ lực lượng gia nhập vào lực lượng chống Pháp do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo. Ông được phong chức Tổng trấn.

9. Võ Đạt sinh năm 1836, người làng Xuân Vinh, huyện Bồng Sơn, Phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông là người có tiếng là tài đức, được triều vua Tự Đức cho giữ chức Kiểm lương tại kho lương của triều đình tại làng An Dũ, huyện Bồng Sơn, Phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định [6].

Năm 1885, ông cùng Tăng Doãn Văn đem toàn bộ lương thực, vũ khí về tham gia phong trào chống Pháp do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo và được phong chức Đốc tướng. Ngoài ra, ở Phủ Hoài Nhơn còn nhiều văn thân yêu nước tham gia phong trào chống Pháp như: cử nhân Võ Đình Phương hay quan Đề đốc về hưu là Vũ Hóa được phong chức Thống xuất huyện Bồng Sơn, lập đồn và kho đạn ở thôn Thanh Lương (nay thuộc Huyện Hoài Ân), cử nhân Tuấn làm Tán Lý, tú tài Tiềm làm Chánh Lãnh binh, tú tài Tạo làm Phó Lãnh binh. Trang trưởng người Minh Hương tên là Kiều làm Giám binh, nho sĩ Phùng Đại làm Đốc binh,…

Ngoài ra, còn có hàng nghìn lãnh tụ nghĩa quân trong tỉnh xuất thân từ những người từng đỗ đạt, đã ra làm quan hoặc đã về hưu đều tham gia giúp Mai Xuân Thưởng chống thực dân Pháp xâm lược.

Theo báo cáo của các viên chỉ huy người Pháp và Đốc phủ sứ Trần Bá Lộc cho Tướng Tổng tư lệnh của họ là: “Tỉnh Bình Định có 1.723 thủ lĩnh nghĩa quân, trong đó có 1.341 thủ lĩnh quân sự và 382 thủ lĩnh dân sự” có số liệu cụ thể ở từng làng và ở từng Tổng. Những số liệu này cho thấy rằng toàn thể hay gần như toàn thể cá quan lại địa phương đã gia nhập phong trào và kể cả một số người ở những tỉnh khác đến lánh nạn ở Bình Định cũng tham gia nữa. Chúng khẳng định một số lượng lớn lao là có hàng chục ngàn người đã cầm vũ khí, dù rằng cái danh từ không chính xác lắm là “thủ lĩnh nổi loạn” mà Phủ Lộc đưa ra theo cái nghĩa rộng hơn thì người ta vẫn có thể tưởng tượng là một “thủ lĩnh” cũng phải chỉ huy ít nhất là vài chục người. Việc tính toán số lượng các làng khởi nghĩa sau ra đầu thú vào năm 1887 cũng đưa ra kết luận như vậy [4].

2. Việc tổ chức xây dựng căn cứ chống Pháp và tay sai phản quốc:

Trước tiên, Mai Xuân Thưởng chọn vùng đồi núi ở phía Nam và Tây Nam làng Phú Mỹ, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định làm đại bản doanh để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Theo sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Kỉnh Sơn ở thôn Phú Phong, phía Tây Nam huyện Tuy Viễn, phía Nam có cánh đồng lớn, bốn mặt đều là núi, các ngọn liên tiếp, như núi Kiền Kiền, núi Bạch Thạch, núi Càn Cương, núi Trà Lăng, núi Hoắc Sơn, Thủ Sở Lộc đóng ở phía Tây - Bắc núi; lại có khe là chỗ phát nguyên của sông Tam Huyện” (Đại Nam nhất thống chí - Tập 3, NXB KHXH - Hà Nội, 1971, trang 17).

Cùng với Lộc Động (Lộc Đỗng), Mai Xuân Thưởng còn xây dựng hai căn cứ bí mật thường gọi là Mật Khu Hầm Hô và Mật Khu Linh Đỗng.

- Mật khu Hầm Hô nằm ở vị trí giữa các con suối thuộc đầu nguồn sông Đá Hàn (một nhánh sông từ phía tỉnh Phú Yên đổ ra sông Tam Huyện). Từ căn cứ này, có thể liên lạc với căn cứ Lộc Động và mật khu Linh Đỗng. Tháng 4/1887, từ căn cứ Hầm Hô, Mai Xuân Thưởng cùng đoàn người chuẩn bị rời khỏi Bình Định vào tỉnh Phú Yên nhằm tiếp tục cuộc kháng chiến.

Ngày nay, tại Hầm Hô còn lại di tích Hang Bảy Cử, trong dân gian còn lưu lại câu:

“Hầm Hô có nước trong xanh,
Dưới sông cá lội, trên cành chim reo.
Hầm Hô có đá khổng lồ,
Có hang Bảy Cử [3], có vò rượu sôi.”

- Mật khu Linh Đỗng, nằm ở phía tây của Đại bản doanh Lộc Động (cách Lộc Động khoảng 10km theo đường rừng), được xây dựng khá kín đáo trong một hang động tự nhiên, xung quanh núi bao bọc và gần các bản làng của đồng bào người dân tộc thiểu số, đây là một căn cứ an toàn và bí mật. Ngày nay, nhân dân Bình Định còn lưu truyền:

“Ngó vô Linh Đỗng mây mờ,
Nhớ Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây.
Sông còn khi cạn khi đầy,
Khí thiêng đất nước nơi này vẫn thiêng.”

- Căn cứ Nam trại, là một trong những căn cứ được xây dựng rất kiên cố và rất quan trọng, nó không những cung cấp lương thực mà còn là nơi tập luyện các thứ quân kể cả tượng binh. Căn cứ Nam trại được xây dựng trên vùng đất cao ở phía Bắc núi Hợi Sơn (dân gian gọi là Hòn Vũng) xung quanh có các làng Hòa Sơn, Hòa Hiệp, Hòa Lạc, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Tại đây có thể liên lạc bằng đường rừng với Linh Đỗng và Hầm Hô.

Cuối năm 1885, Mai Xuân Thưởng giao cho Thống binh Nguyễn Hóa, Thống trấn Trần Hanh, Tham tán Nguyễn Bá Huân và các tướng lĩnh khác tiến hành xây dựng và chỉ huy tại căn cứ này.

- Quân thử Hương Sơn mà nhân dân thường gọi là căn cứ Núi Thơm, nằm ở vị trí đồi gò liền nhau. Phía tây là núi Phương Lê, phía đông là gò tháp Dương Long, phía bắc là núi Đại Chí, phía nam là thung lũng trồng lúa, kéo dài từ chân núi đến tận bờ sông Tam Huyện.

Nguyên soái Mai Xuân Thưởng giao cho Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì cùng Thống trấn Nguyễn Cang, Trần Nhã vận động nhân dân đóng góp lương thực cho phong trào yêu nước chống Pháp, nơi đây còn là nơi luyện tập của nghĩa binh sẵn sàng chống xâm lược và bọn phản quốc.

- Căn cứ Bắc trại, được xây dựng ở vùng núi làng Cà-te của đồng bào dân tộc thiểu số người Ba na và các làng Thuận Ninh, Thuận Nhứt huyện Tuy Viễn và Cát Lâm của huyện Phù Cát, trong lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát có ghi: “Tại vùng đồi gò ở Tây huyện (nay là xã Cát Lâm), nghĩa quân lập căn cứ, bấy giờ gọi là Bắc trại. Cùng các trại của thứ Hương Sơn, Bắc trại của Phù Cát vừa là nơi luyện tập binh sĩ, vừa là nơi tích lũy lương thực”.

- Căn cứ núi Kỳ Đông được xây dựng trên ba ngọn đồi gồm Hòn Trái ở phía Bắc, Hòn Kỳ Đông ở giữa và Hòn Cấm ở Tây Nam. Căn cứ nằm ở giữa hai làng Đại An và Thiết Tràng, huyện Tuy Viễn. Đây là một trong những căn cứ gần đồng bằng nhất, cách Gò Găng và đường thiên lý khoảng 4km, cách tỉnh thành Bình Định khoảng 6km.

Hai căn cứ núi Kỳ Đông và căn cứ Hương Sơn tập trung lực lượng cơ động nhằm ngăn chặn quân Pháp và tay sai tấn công lên vùng căn cứ của nghĩa quân.

- Căn cứ Kho lương Hòn Kho (hay còn gọi là Kho lương Tiên Thuận), nằm trên ngọn đồi giữa các xóm Tiên An, Tiên Long, Tiên Hòa, tổng Phú Phong, huyện Tuy Viễn tỉnh Bình Định. Kho lương này nằm ở phía bắc con đường từ tỉnh thành Bình Định đến đèo An Khê, tiếp giáp với các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số người Bana (thuộc Tây Sơn thượng đạo), nó được bố trí bí mật và được canh phòng cẩn thận.

Theo thực dân Pháp đánh giá thì đây là một trong những pháo đài mạnh của phong trào kháng chiến ở Bình Định. Vào giữa tháng 2/1887, thiếu tá Dumas dẫn một đạo binh mở một cuộc càn quét khắp Nam Bình Định và đến tận An Khê, nhưng không chiếm được binh lương, vũ khí, đạn dược và cũng không phát hiện thấy “bất cứ kho báu hay đồ mỹ nghệ nào”. Bởi vì, tại đây lực lượng kháng chiến đã bí mật cất giấu vũ khí, lương thực và rút lui vào rừng trước khi quân của Dumas đến.

Canh phòng kho lương này được chủ tướng Mai Xuân Thưởng giao cho Tán tương quân vụ Huỳnh Ngạc cùng với Khiển Trực, Khiển Nhàn,.v.v. canh giữ và bảo vệ.

- Hệ thống căn cứ chống Pháp ở huyện Phù Mỹ, thuộc Phủ Hoài Nhơn, sau khi được Mai Xuân Thưởng phong chức cho Bùi Điền là Thống trấn. Cuối năm 1885, ông trở về huyện Phù Mỹ, chọn chùa Hang làm căn cứ bí mật và an toàn. Ông cho xây dựng nhiều đồn trại, luyện tập nghĩa binh, tích trữ lương thực như: Truông Gia Vấn, Suối Cả, Đập Giữa,… ở vùng rừng núi phía Tây-Bắc huyện Phù Mỹ; Căn cứ núi Chóp Chài thuộc Mỹ Đức, ở phía Đông-Bắc huyện Phù Mỹ. Từ hệ thống căn cứ này, nghĩa quân có thể liên lạc các căn cứ ở Bắc Bình Định.

- Quân thử Xuân Vinh, nằm ở Đông-Nam huyện Bồng Sơn, phía bắc dãy núi Chóp Chài, dưới thời vua Tự Đức, quan kiểm lương tại Kho lương An Dũ là Võ Đạt; Năm 1885, kinh thành Huế bị quân Pháp chiếm, Võ Đạt đem toàn bộ vũ khí, lương thực từ Kho lương An Dũ về vùng rừng núi Xuân Vinh lập căn cứ chống Pháp. Ông được Mai Xuân Thưởng phong chức Đốc tướng. Nhiệm vụ của Quân thứ Xuân Vinh vừa canh phòng cửa biển An Dũ, vừa phối hợp lực lượng nghĩa quân ở Bắc Bình Định chiến đấu chống lực lượng tay sai của Pháp từ Quảng Ngãi tấn công vào Bình Định.

- Căn cứ Tổng Dinh, nằm trong hệ thống dãy núi Kim Sơn, do Tổng trấn Tăng Doãn Văn xây dựng. Sau khi được nguyên soái phong chức Tổng trấn, Tăng Doãn Văn trở về xây dựng căn cứ ở vùng núi Kim Sơn, ông chọn Hòn Dinh (Tây-Nam huyện Bồng Sơn - nằm trong hệ thống dãy núi Kim Sơn). Tăng Doãn Văn cùng nghĩa quân tiến hành xây dựng các căn cứ, kho chứa lương thực và tiến hành luyện tập cho nghĩa quân. 

Từ cuối năm 1885, đến năm 1886, tại căn cứ này lực lượng nghĩa quân ngày một đông đảo, phần lớn các nho sĩ, nhân dân các tổng trong huyện đều tham gia phong trào yêu nước. Sách “Đại Nam thực lục – Chính biên” của Quốc Sử quán triều Nguyễn có ghi: “Nguyên đề đốc hồi hưu là Vũ Hóa xưng là Thống xuất huyện Bồng Sơn, lập đồn và kho trạm ở thôn Thanh Lương. Cử nhân Tuấn là Tổng lý, Tú tài Lý làm Tán lý, Tú tài Tiềm làm Chánh lãnh binh, Trang trưởng Minh Hương là Kiều là Đốc binh,… đều đóng ở các tổng Vạn Đức, Trung An, Tài Lương.” Như vậy, lực lượng kháng chiến ở đây rất đông đảo và gần như toàn bộ huyện Bồng Sơn, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định dưới quyền kiểm soát của Tổng trấn Tăng Doãn Văn.

Ngoài các căn cứ tiêu biểu nêu trên, lực lượng kháng chiến ở Bình Định còn xây dựng các phòng tuyến trên các con đường độc đạo, canh phòng cẩn mật nhằm ngăn chặn quân Pháp và bọn phản quốc tiến hành các cuộc đàn áp, tấn công vào căn cứ của nghĩa quân.

Như vậy, ngoài Mai Xuân Thưởng được nghĩa quân suy tôn là nguyên soái, thì hầu hết các văn thân, sĩ phu trong tỉnh tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước chống Pháp. Họ là những người tham mưu cho Mai Xuân Thưởng vạch định ra các phương án đánh địch, xây dựng căn cứ, lãnh đạo nghĩa quân, luyện tập binh sĩ, tích trữ lương thực, thuốc men,… xây dựng lực lượng phát triển phong trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân Bình Định cuối thế kỷ XIX.

3. Mai Xuân Thưởng tổ chức, phối hợp với các lực lượng kháng chiến ở các tỉnh bạn chống Pháp và tay sai phản quốc:

- Phối hợp chiến đấu với lực lượng kháng chiến các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận,…: Tháng 9 năm 1885, Mai Xuân Thưởng cử Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì đưa lực lượng của mình vào tỉnh Ninh Thuận, phối hợp với lực lượng yêu nước tỉnh này do Bùi Đản lãnh đạo chiếm lấy phủ thành, tước quyền Tổng đốc Lê Liêm, giao lại phủ thành Ninh Thuận cho Dinh điền sử Trà Quý Bình cai quản. Theo báo cáo của công sứ tỉnh Phú Yên, Brière gửi cho Thống đốc Nam Kỳ: “Có một đạo quân từ vùng núi tràn xuống, họ chiếm lấy phủ thành rồi rút đi”. Cuối tháng 9/1885, lực lượng kháng chiến Bình Định phối hợp với lực lượng kháng chiến tỉnh Phú Yên bao vây, chiếm giữ thành, bắt giam Bố chánh Phạm Như Xương, còn Án sát Hoàng Câu và Lãnh binh Nguyễn Văn Hanh bỏ thành chạy trốn.

- Đối với các tỉnh Nam kỳ, nguyên soái Mai Xuân Thưởng cử Tổng đốc Lê Công Chánh cùng 4 người khác vào Nam Kỳ liên lạc với phong trào yêu nước ở đây. Họ gặp Năm Thiếp và Nguyễn Xuân Phong và tổ chức cuộc họp tại Núi Dùm (Thất Sơn) bàn kế hoạch vận động nhân dân và tổ chức cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam kỳ lục tỉnh. Tổng đốc Lê Công Chánh cử Nguyễn Bá Trọng, Lê Bá Đạt trở về Bình Định nhận lãnh bằng cấp, Ấn triện mang vào Nam Kỳ để phong chức tước cho những người tham gia phong trào chống Pháp. Còn Lê Công Chánh tìm cách liên lạc với lực lượng kháng chiến do Đào Công Bửu lãnh đạo, tiến hành xây dựng lực lượng kháng chiến ở Bến Tre và một số tỉnh ở Tây Nam Kỳ.

Hoạt động chống Pháp của Lê Công Chánh và Đào Công Bửu có ảnh hưởng lớn trong phong trào yêu nước chống Pháp ở Nam Kỳ từ năm 1886 đến những năm cuối của thế kỷ XIX.

- Mai Xuân Thưởng tổ chức phối hợp với phong trào yêu nước chống Pháp các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam: Tháng 12/1885, Mai Xuân Thưởng cử các tướng Bùi Điền, Tăng Doãn Văn, Đặng Đề, Võ Đạt ,… phối hợp với lực lượng kháng chiến tỉnh Quảng Ngãi do Nguyễn Bá Loan lãnh đạo, bao vây đồn Lão Thuộc (Lỗ Thục). Đây là một trong những đồn binh nằm trên hệ thống các đồn thuộc sơn phòng Nghĩa - Định, nơi đây có nhiều lương thực và súng đạn. Các quan giữ đồn được tin các lực lượng kháng chiến đến, họ xin giao nộp đồn và xin gia nhập vào lực lượng kháng chiến. Mai Xuân Thưởng phong cho các quan giữ đồn là Đinh Hội chức Tổng thống, Vũ Lân chức Đề đốc, Phạm Sĩ chức Lãnh binh và giao cho họ tiếp tục canh giữ đồn Lão Thuộc, nghĩa quân Bình Định tiếp tục đánh chiếm các đồn Thanh Thủy, Trường An thuộc hệ thống sơn phòng Nghĩa - Định.

Sau khi chiếm được các đồn trên sơn phòng, nghĩa quân Bình Định liên tục tấn công các điểm đóng quân của Nguyễn Thân - tên tay sai thân Pháp. Sau những trận giao chiến với lực lượng kháng chiến Bình Định - Quảng Ngãi, quân của Nguyễn Thân ngày càng suy giảm, hắn phải tấu trình về Huế rằng: “Quân giặc ở Bình Định mạnh lắm, đến Quảng Ngãi đánh phá liên tục, quan quân tổ chức nhiều cuộc chiến đấu, họ mới rút lui. Gần đây, lại tập hợp lực lượng cùng với 1.000 người Man (chỉ dân tộc thiểu số) đến đốt phá và “cướp của” nhiều nơi… 

Hiện nay, quân lính sơn phòng hao hụt, lực lượng ít không thể nào chống lại “quân địch” ở Bình Định được”. Vì vậy, phải rút quân ở đồn điền (khoảng 4.000 người, lấy thêm lính ở Quảng Ngãi, mộ thêm hương binh, dân dũng,… Với số lượng ấy mới mong giữ được tỉnh Quảng Ngãi”. Với số lượng binh lính tăng viện vẫn chưa đủ, Nguyễn Thân khẩn xin triều đình Đồng Khánh cho tăng cấp chỉ huy, “đặt các chức Đề đốc, Lãnh binh, Thương tá, Bang tá,… để cùng nhau bàn bạc và giúp việc ngăn dẹp lực lượng kháng chiến từ Bình Định tấn công ra Quảng Ngãi.

Như vậy, đến giữa năm 1886, sự phối hợp chiến đấu của lực lượng kháng chiến Bình Định và Quảng Ngãi đã đẩy quân tay sai Nguyễn Thân vào vị thế bị động, đối phó lúng túng.

- Tháng 8/1886, nghĩa quân của 3 tỉnh Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định phối hợp tấn công chiếm huyện lỵ Bình Sơn (Quảng Ngãi): Nghĩa quân Bình Định và Quảng Ngãi chia làm 3 đường; Một đường từ đồn Lão Thuộc theo đường rừng kéo ra huyện Bình Sơn; một đường theo chính lộ (đường Thiên Lý); một đội thuyền chiến từ cửa biển An Dũ (huyện Bồng Sơn, Bình Định) vượt biển ra Bình Sơn. Còn nghĩa quân tỉnh Quảng Nam chia làm 5 đường kéo thẳng vào hạt Quảng Ngãi. Sau khi chiếm được huyện lỵ Bình Sơn, nghĩa quân liền tổ chức lực lượng phòng thủ sẵn sàng chống lại sự phản công của địch.

Khi hay tin huyện lỵ Bình Sơn bị lực lượng kháng chiến chiếm đóng, Lê Uyển cùng phó Lãnh binh Nguyễn Tiến Quý, Tham tán Phạm Trọng Di từ Quảng Ngãi đưa quân ra Bình Sơn. Nhưng vừa ra đến Bình Sơn thì bị nghĩa quân phục kích, Nguyễn Tiến Quý và Phạm Trọng Di đều bị chết trận, còn Lê Uyển thoát chết, rút quân trở về tỉnh lỵ. Được tin, Nguyễn Thân đem quân tiếp ứng, trận giao chiến diễn ra ác liệt tại làng Yên, Nguyễn Thân cho quân đốt cầu (từ đó cầu này mang tên Cầu Cháy), tiếp tục tấn công vào huyện lỵ Bình Sơn, trận giao chiến giữa lực lượng kháng chiến với quân của Nguyễn Thân ngày càng ác liệt hơn, có 300 quân khởi nghĩa hy sinh, quân của Nguyễn Thân chết 15 người,… Sau trận này, nghĩa quân các tỉnh rút về căn cứ [8].

Sự phối hợp giữa các lực lượng kháng chiến của Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam đã khiến Nguyễn Thân phải đối phó một cách vất vả, lúng túng mà chính sử Nhà Nguyễn đã ghi lại: “Nguyễn Thân phải 12 trận giao chiến với lực lượng nghĩa quân Bình Định mới thu lại đồn trại sửa sang phủ lỵ,…”. Nguyễn Thân đã không còn thời gian và lực lượng để tấn công vào Bình Định. Không còn con đường nào khác, vua Đồng Khánh phải cầu cứu Khâm sứ Trung Kỳ và được Khâm sứ Trung Kỳ ở Huế đã cho xuất cấp 200 khẩu súng và 10 nghìn viên đạn giao cho Nguyễn Thân sử dụng [8].

Như vậy, việc phối hợp với các lực lượng kháng chiến ở các tỉnh Trung và Nam Trung kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng kháng chiến ở tỉnh Bình Định phát triển vào năm 1886 và đã trở thành trung tâm của phong trào kháng chiến ở Trung và Nam Trung bộ. Tuy nhiên, thực dân Pháp ở Nam kỳ không thể làm ngơ trước vấn đề này, một kế hoạch tấn công, đàn áp trên một quy mô lớn đối với phong trào kháng chiến ở Bình Định đã được đề ra và thực hiện từ tháng 9 năm 1886. Một số binh đoàn lính Pháp và quân của Trần Bá Lộc được lệnh từ Nam kỳ đánh ra các tỉnh, bắt đầu từ Bình Thuận. 

Còn Nguyễn Thân cũng được lệnh của Khâm sứ Trung kỳ đưa quân đánh chiếm đồn Lão Thuộc, sử triều Nguyễn ghi chép về sự kiện này như sau: Tháng Giêng năm Đinh Hợi (1887), Sơn phòng xứ Quảng Ngãi - Bình Định là Nguyễn Thân đem quân đến Bình Định phá đồn Lão Thuộc, sau đó, kéo vào Bình Định bao vây chiếm phủ Hoải Nhơn, đồn Phủ Cũ (Phù Mỹ),… tiếp tục đe dọa tinh thần nghĩa quân và dân chúng bằng cách cho lính chặt đầu cắm cọc, phơi xác nghĩa quân khắp nơi ở cầu Bồng Sơn và bãi cát bờ sông Lại Giang (Hoài Nhơn), tiếp tục tấn công vào các căn cứ của nghĩa quân ở hai huyện Bồng Sơn và Phù Mỹ, ra lệnh bắt dân chúng các xã, tổng ra tra khảo, đánh đập dã man, đốt phá các bản làng vì can tội “đồng tình với văn thân”.

Giữa tháng 2/1887, Trần Bá Lộc trước khi kéo quân ra Bình Định, binh đoàn Pháp do Trung tá Dumas, bằng đường thủy đổ bộ lên Cảng Quy Nhơn, tổ chức một cuộc hành quân từ Quy Nhơn lên vùng An Khê nhưng không thu được kết quả. Cuối tháng 2/1887, binh đoàn của Dumas rút khỏi Bình Định. Nhận xét về cuộc phản công chớp nhoáng này của Dumas, trong thư gửi Bulhourd (Thống đốc Nam Kỳ), nhận xét: “Những cuộc hành quân của Trung tá Dumas với những phương tiện thiếu thốn chỉ làm cho nghĩa quân Bình Định biết trước, nên đã phân tán lực lượng trước khi Dumas đến. Họ đã mang theo hoặc cất giấu binh lương và của cải các loại mà cách đây không lâu vẫn được để ở An Khê”. 

Tháng 3/1887, quân của Trần Bá Lộc và Công sứ Tirant đổ bộ lên Cảng Quy Nhơn và chuẩn bị một cuộc càn quét trên quy mô vào các căn cứ của nghĩa quân Bình Định. Tuy nhiên, quân Pháp và quân của Trần Bá Lộc đi đến đâu cũng bị nghĩa quân phục kích tiêu diệt. Trần Bá Lộc dùng thủ đoạn gian xảo, một mặt cho quân bao vây các căn cứ của nghĩa quân; mặt khác tiến hành truy lùng các thôn xóm: bắt các chức sắc, hương lý và nhân dân ra “đầu thú”. Những trận tra tấn, đánh đập dã man diễn ra. Tinh thần chiến đấu của nghĩa quân trong tình trạng có phần giảm sút, tư tưởng thất bại bao trùm, ảnh hưởng không ít đến tinh thần chiến đấu của nghĩa quân.

Ngày 21/4/1887, Trần Bá Lộc sai Bùi Đắc Chỉ mang một đội lính có trang bị tiến vào căn cứ Hầm Hô và mật khu Linh Đỗng kêu gọi nguyên soái Mai Xuân Thưởng ra đầu thú. Mặt khác, cho một đạo quân khác bào vây căn cứ này. Mai Xuân Thưởng và các tướng của mình đã chiến đấu kịch liệt vượt khỏi vòng vây của giặc.

Đêm 30/4/1887, Mai Xuân Thưởng quyết định di chuyển địa bàn hoạt động sang tỉnh Phú Yên. Ngày 4/5/1887, Mai Xuân Thưởng cùng đoàn người (khoảng 50 người) vừa đến chân đèo Phú Quý (ranh giới giữa Bình Định và Phú Yên) đang ẩn náu “trong hang núi Hòa Nhên gần làng Thang-Ót, chỗ giáp giới tỉnh Phú Yên và gần ngọn nguồn sông Kon” thì bị phục binh của Trần Bá Lộc xông ra đánh, chúng bắt tất cả số người này đưa về Bình Định.

Đầu tháng 6 năm 1887, thực dân Pháp và triều vua Đồng Khánh thi hành án với tất cả các thủ lĩnh của phong trào yêu nước chống Pháp ở Bình Định. Có 3 đợt hành quyết:

- Ngày 01/6/1887, có 5 người trong đó có Lê Khanh, Lê Tuyên;

- Ngày 12/6/1887, có 9 người;

- Ngày 13/6/1887 có 13 người.

Riêng nguyên soái Mai Xuân Thưởng bị xử chém vào ngày Rằm tháng 4 Nhuần năm Đinh Hợi (7/6/1887), tội lăng trì xử tử, 2 người em ruột của ông là Mai Xuân Quang, Mai Xuân Khánh cũng bị xử với tội danh “không biết can ngăn”; 4 người anh em họ của ông là Hòa, Vân, Nghị và Dao với tội “đã nhận chức hàm”; 3 người bác là Chất (72 tuổi), Đức (65 tuổi) và Hanh; 5 người em họ là Cẩm, Hoán, Dũng, Hóa và Pháp đưa về quê quán thôn Phú Lạc giao cho chính quyền địa phương quản thúc.

Trước khi lên đoạn đầu đài, Mai Xuân Thưởng tuyên bố trước kẻ thù rằng: “Ta chỉ có đoạn đầu tướng quân, không hàng đầu tướng quân”, ông rất lạc quan và làm bài thơ:

“Chết nào sợ chết, chết như chơi,
Chết bởi vì dân, chết bởi thời
Chết hiếu chi nài xương thịt nát,
Chết trung bao quản cổ đầu rơi
Chết nhân tiếng để vang nghìn thuở
Chết nghĩa danh thơm rạng mấy đời
Thà chịu chết vinh hơn sống nhục,
Chết nào sợ chết, chết như chơi”

Phong trào yêu nước chống Pháp ở Bình Định cuối thế kỷ XIX nổ ra rất sớm ngay sau vụ biến kinh thành Huế. Phong trào phát triển rất bồng bột, sôi nổi nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn từ tháng 7/1885 đến tháng 6/1887, đặc biệt là phong trào trong giai đoạn cử nhân Mai Xuân Thưởng lãnh đạo. Ông đã thể hiện vai trò là một thủ lĩnh đầy mưu trí, đưa ra kế sách chống xâm lược và bọn tay sai phản quốc triệt để.

Với cương vị là người lãnh đạo phong trào, Mai Xuân Thưởng đã phong chức tước cho những thủ lĩnh dưới quyền và cử về địa phương các huyện xây dựng căn cứ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Ông đã tổ chức và cử các tướng lĩnh, nghĩa binh phối hợp với các lực lượng kháng chiến các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên,… giúp các tỉnh bạn giành thắng lợi. Cử Bùi Điền, Đặng Đề đưa nghĩa binh ra tỉnh Quảng Ngãi chiến đấu làm cho quân tay sai Nguyễn Thân thất bại phải xin triều đình Đồng Khánh và Khâm sứ Trung kỳ phải cấp thêm binh lính, súng đạn,… Ông còn cử người vào Nam kỳ phối hợp với Đào Công Bửu chiến đấu và có ảnh hưởng đến hết thế kỷ XIX.

Mặc dù, phong trào yêu nước chống Pháp ở Bình Định cuối thế kỷ XIX phát triển mạnh mẽ nhưng cuối cùng thất bại có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu là phong trào xa trung tâm kháng chiến, không có sự hỗ trợ, phối hợp chiến đấu, với vũ khí thô sơ (giáo, mác,…), nghĩa quân phải chiến đấu chống lại vũ khí hiện đại, vũ khí phát lửa của thực dân Pháp và bọn tay sai phản quốc.

Ngày nay, trong ký ức của người dân Bình Định thì Mai Xuân Thưởng và các lãnh tụ của phong trào mãi mãi là niềm tự hào, là tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Định. (1985). Tìm hiểu các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (1858 – 1945). Việt Nam, Ban NCLS Đảng và Sở VH-TT Nghĩa Bình.

2. Các sắc phong của vua Tự Đức phong cho Ông Mai Xuân Tín và Bản phân chia tài sản; Tài liệu chữ Hán đang lưu giữ tại nhà Từ đường Họ Mai, thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

3. Cao Xuân Dục. (1993). Quốc triều Hương khoa lục. Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Charles Fourniau. (1982). Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bình Định – Phú Yên từ 1885 – 1887 (Theo những nguồn tài liệu Pháp). Tạp chí NCLS số 6 (207), tháng 11,12/1982

5. Đinh Xuân Lâm. (1984). Nhân đọc bài: Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bình Định - Phú Yên từ 1885-1887 (Theo nguồn tư liệu Pháp của GS. Charles Fournian), Tạp chí NCLS, số 2, tháng 2/1984.

6. Gia phả các họ Mai, Nguyễn, Lê, Võ, Tăng, Đào,… Tài liệu điền dã.

7. Phan Văn Cảnh. (2005). Phong trào Cần Vương ở Bình Định (1855 - 1887), Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội. 8. Quốc sử Quan triều Nguyễn, Đại Nam thực lục - Chính biên. Các tập 36, 37, 38, Nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, 1978.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...