Thứ Năm, 30 tháng 5, 2024

Nghề dệt của người Quảng Ngãi xưa (Phạm Tuấn Vũ)


Có một thời, nghề dệt may truyền thống từng rất phát triển ở các làng quê xứ Quảng, đến mức các sách địa phương chí về Quảng Ngãi đều đề cập đến nghề này.

Một thời canh cửi

Cùng với các nghề mía đường, dệt chiếu, trồng dâu nuôi tằm, làm gốm, làm mộc..., nghề dệt vải ở Quảng Ngãi trước đây rất thịnh. Cho nên, sách Đại Nam nhất thống chí khi viết về mục “thổ sản” của Quảng Ngãi đã nêu “vải, lụa, là, nhiễu” trước tiên và cho biết Bình Sơn, Mộ Đức là hai huyện có nhiều loại thổ sản này. Sách Đồng Khánh dư địa chí cũng ghi nhận sản vật đặc trưng của Quảng Ngãi là “bông, vải, lụa, là, nhiễu”, bên cạnh Ngãi sâm, quế, dầu hương, muối, các loại đường, ngũ cốc…

Các sách địa chí, biên khảo về Quảng Ngãi bằng chữ quốc ngữ cũng miêu tả tương đối kỹ về nghề dệt vải của người dân miền núi Ấn sông Trà. Quảng Ngãi tỉnh chí (1933) của Nguyễn Bá Trác đề cập đến nghề dệt đầu tiên trong 5 “kỹ nghệ” tiêu biểu của người dân xứ Quảng và cho biết nghề dệt “thao, lụa, lĩnh, xuyến, lương” có ở các làng Chánh Lộ, Thanh Khiết, Phú Thọ (Tư Nghĩa), Sung Tích (Sơn Tịnh), Châu Tử, Ngọc Trì (Bình Sơn), Kim Thành (Nghĩa Hành), Thạch Bi, Sa Huỳnh (Đức Phổ); còn vải ta thì “ở các làng đều có dệt” nhưng nhiều nhất là ở các làng An Hà, Nhu Năng (Tư Nghĩa), Kim Thành (Nghĩa Hành).

Trong Địa dư tỉnh Quảng Ngãi (1939), hai tác giả Nguyễn Đóa và Nguyễn Đạt Nhơn mô tả khá rõ về tình hình nghề dệt vải ở Quảng Ngãi vào nửa đầu thế kỷ XX: “Khắp nơi trong tỉnh đều có”, trong đó, xưởng dệt Võ Đình Long ở làng Năng Đông (Tư Nghĩa) dệt đủ thứ các loại khăn, vải.

Cho đến những năm 60, 70 của thế kỷ trước, nghề dệt thủ công ở Quảng Ngãi vẫn phát triển mạnh, mặc dầu lúc này dệt may công nghiệp đã rất phổ biến, các loại vải lụa nhập ngoại đã có mặt trước đó khá lâu trên thị trường. Trong Nước non Quảng Ngãi (1962), tác giả Phạm Trung Việt cho biết, cùng với làm gạch ngói, dệt chiếu, chằm nón thì dệt vải vẫn là nghề tiểu thủ công nghiệp quan trọng của Quảng Ngãi giai đoạn này. Đặc biệt, theo sách Sự nghiệp đấu tranh giải phóng và xây dựng kinh tế của nhân dân Quảng Ngãi (2005) của tác giả Nguyễn Đức Trọng, tính đến năm 1953, toàn tỉnh có đến 30.000 người làm nghề kéo sợi, khung dệt khổ rộng có 325 khung, khổ hẹp có 850 khung; năm 1954 mức sản xuất đạt 100 tấn vải. Nghề dệt không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu may mặc trong tỉnh mà còn cung ứng vải cho các tỉnh lân cận như Kon Tum, Gia Lai...

Thời trước, trong hoàn cảnh kinh tế tự cung tự cấp, nghề dệt vải ở Quảng Ngãi chủ yếu phục vụ nhu cầu may mặc tại chỗ của người dân địa phương. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cứu nước, nghề dệt của người dân Quảng Ngãi không chỉ thực hiện theo chủ trương “tự lực cánh sinh” (tục túc về vải mặc) mà còn góp phần cung cấp vải may mặc, phục vụ kháng chiến.

Về nghề dệt truyền thống của người miền Ấn - Trà, công trình Địa chí Quảng Ngãi (2008) khẳng định: “Xưa kia, khi chưa có vải công nghiệp thì nghề trồng bông dệt vải phổ biến hầu khắp các làng quê Quảng Ngãi”. Có thể nói, trước khi lùi dần vào quá khứ từ những năm sau 1975, nghề dệt từng một thời rất phát triển ở Quảng Ngãi. Ở các làng quê xứ Quảng ngày trước, hầu như nơi nào cũng có nghề trồng bông, dệt vải, nhuộm vải, phụ nữ ai cũng giỏi khâu vá. Có lẽ, cùng với tiếng quay của những bờ xe nước, tiếng ép mía ở các lò nấu đường…, tiếng canh cửi lách cách khắp xóm thôn là những thanh âm quen thuộc, đặc trưng của làng quê xứ Quảng một thời chưa xa…

Dấu xưa còn đó

Người Quảng Ngãi ngày trước dệt nhiều loại vải, lụa, nhiễu, thao, lĩnh, xuyến… Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là dệt vải ta, loại vải thông dụng phục vụ nhu cầu may mặc thường nhật của người dân.

Vải ta được dệt từ bông. Để có loại vải này, người xưa phải trồng cây bông vải. Bông hái về được phơi giũ, xe sợi rồi cho vào khung dệt. Vải dệt ra được đem đi nhuộm, chủ yếu là nhuộm chàm. Cây chàm được trồng để lấy cành, lá về nấu cho ra màu. Vải được ngâm trong nước chàm một thời gian rồi đem phơi, khi khô sẽ có màu xanh tối. Theo nhà nghiên cứu Cao Chư, ở Quảng Ngãi trước đây có nhiều nơi trồng cây chàm để nhuộm vải. Địa danh “Lam Điền” (ruộng trồng cây chàm) còn lại ở xã Đức Hiệp (Mộ Đức) hiện nay chính là dấu tích cho một thời trồng chàm nhuộm vải rất phổ biến ở Quảng Ngãi ngày trước.

Ca dao Quảng Ngãi ít nhắc đến nghề dệt, nhuộm vải. Nhưng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa thì lại được nói đến khá nhiều: “Ai về Quảng Ngãi mà xem/ Bãi tơ vàng óng, đồng ken lúa vàng”, “Ăn chanh nhớ tỏi ngùi ngùi/ Ngồi trong đám hẹ nhớ mùi rau răm/ Hỡi người bạn cũ trăm năm/ Quay tơ có nhớ mối tằm ta xưa”... Phải chăng so với vải chàm thô cứng, lụa tằm quý và hình ảnh tơ lụa đi vào thơ ca dân gian cũng thơ mộng hơn (dù nghề “nuôi tằm ăn cơm đứng” nhọc nhằn không kém) mà người Quảng xưa có chút… thiên vị như trên?

Nếu như nghề dệt thủ công của nguời Kinh đã mai một thì đồng bào các dân tộc miền núi Quảng Ngãi hiện nay vẫn còn giữ và phát triển được nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Nghề dệt thổ cẩm của người Hrê được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, sản phẩm thổ cẩm làng Teng (Ba Tơ) đã vươn ra thế giới là những minh chứng cho sức sống bền bĩ của thổ cẩm truyền thống.

Với đồng bào Cor, Ca Dong nghề dệt thổ cẩm vẫn giữ vai trò nhất định trong đời sống hiện đại. Theo Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người có nhiều năm nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Ca Dong, dưới mái nhà sàn người Ca Dong cách đây chừng hơn mươi năm, vẫn còn tiếng bật bông, xe chỉ và những bà mẹ ngồi lặng yên bên khung dệt bằng nứa, dệt nên những chiếc váy, chiếc khố, khăn quàng rực rỡ sắc màu. Với người Ca Dong, việc khoác lên người đầy đủ trang sức cùng trang phục truyền thống được dệt bằng chính đôi tay của mình không chỉ để làm đẹp cho bản thân, cho làng xóm mà còn để tỏ lòng biết ơn tổ tiên, thực hành những nghi lễ mà cha ông trao truyền, để được hòa hợp với thiên nhiên và tương thông với các đấng thần linh.

Không phải ngẫu nhiên mà trong tất cả các tác phẩm biên khảo, địa chí về Quảng Ngãi từ trước đến nay đều nhắc đến vải lụa, thổ cẩm hay nghề dệt như là một loại sản vật, nghề thủ công tiêu biểu của địa phương. Ngày nay, trong xu thế tất yếu, nghề dệt thủ công đã lùi xa vào quá vãng. Thế nhưng, nhắc về nghề dệt truyền thống, người Quảng Ngãi có quyền tự hào về một thời nghề dệt thịnh đạt, tiếng canh cửi rộn vui khắp các làng quê xứ Quảng xưa…

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...