Tóm tắt: Trong kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm của cha ông ta còn để lại, các di sản Hán Nôm trong hệ thống di tích lịch sử - vǎn hóa là rất lớn. Với tư cách là điểm đến tham quan du lịch không thể thiếu trong các chương trình du lịch vǎn hóa; việc khai thác các giá trị nhiều mặt trong đó có giá trị của hệ thống vǎn tự Hán Nôm tại các di tích lịch sử - vǎn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng; góp phần tạo nên giá trị, nét đặc sắc, sức hấp dẫn của du lịch Việt Nam.
Tuy nhiên, tính phổ cập của Hán Nôm trong cuộc sống đương đại, đặc biệt là trong hoạt động du lịch có những hạn chế nhất định do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy, cần có những giải pháp thích hợp để khai thác, phát huy giá trị của kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm trong hoạt động hướng dẫn du lịch một cách có hiệu quả. Trong đó, những giải pháp về đào tạo như đưa Hán Nôm trở thành một môn học cơ bản trong chương trình đào tạo Hướng dẫn viên; phối kết hợp để xây dựng bộ công cự tra cứu về Hán Nôm gắn với các điểm tham quan du lịch hay việc mở các lớp tập huấn, bổ túc, hiệu đính và nâng cao hiểu biết về Hán Nôm gắn liền với công tác thanh kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng hoạt động hướng dẫn du lịch… chính là các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả khai thác giá trị của Hán Nôm trong hoạt động hướng dẫn du lịch ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Hán Nôm, Di sản văn hóa, Du lịch, Hướng dẫn du lịch
1. Di sán vǎn hóa Hán Nôm
Nǎm 1919, kì thi Hội cuối cùng trong lịch sử khoa cử Việt Nam được tổ chức tại Kinh đô Huế, để rồi sau đó không còn tồn tại các kỳ thi sử dựng chữ Hán nữa trong nền giáo dực Việt Nam cận, hiện đại. Kể từ đó, chữ Hán Nôm kết thúc vai trò to lớn của nó trong nền giáo dục Việt Nam.
Tuy nhiên, vai trò của Hán Nôm thì không bao giờ mất đi trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Với tất cả những giá trị vật chất và tinh thần to lớn của mình để lại trong lịch sử dân tộc; Hán Nôm trở thành một trong những thành tố đặc biệt quan trọng trong kho tàng di sản vǎn hóa Việt Nam. Kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm là một phần quan trọng của lịch sử và vǎn hiến Việt Nam.
Trong kho tàng di sản vǎn hóa ấy, Hán Nôm tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau; có thể kể đến như hệ thống thư tịch với rất nhiều chủng loại, thể loại, chất liệu khác nhau. Chất liệu giấy có các cuốn sách viết bằng chữ Hán Nôm; các tác phẩm vǎn học – nghệ thuật; tín ngưỡng, phong tục tập quán, lề thói dân gian; các chiếu biểu, dự, hịch, sớ hay các bản thần tích, sắc phong, lề luật, hương ước .v.v… Chất liệu đá có các bia ký như các bia “ma nhai” trên vách đá hay trên vòm, trần trong các hang động; hệ thống bia hình khối, phiến, lǎng trụ... ở các vị trí khác nhau trong các di tích lịch sử - vǎn hóa. Chất liệu kim loại như đồng có các bài minh, bài ký trên chuông, khánh; Các đồng tiền cổ là hỗn hợp đồng – chì – kẽm cũng được ghi những vǎn tự Hán Nôm nhất định ghi chép niên hiệu các vị Vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam mà ở thời điểm đó đồng tiền ra đời; hoặc trị giá của đồng tiền đó được ghi bằng vǎn tự Hán Nôm trên thân của chúng.
Đặc biệt có có các vǎn bản Hán Nôm được khắc trên chất liệu quí như vàng tạo ra các “kim sách”, “kim thư” không chỉ quí giá về nội dung hàm chứa mà còn quí giá và sang trọng bởi chất liệu và hình thức lưu giữ của các di vật – di sản này . Đối với các chất liệu gỗ, vǎn tự Hán Nôm được viết trên các hoành phi, câu đối, biển đề danh, mộc bản vǎn khắc; các nội dung vǎn tự khắc trên kiến trúc, điều khắc cổ truyền thống của hệ thống di tích lịch sử - vǎn hóa.
Thể loại Hán Nôm cũng được thể hiện trên các chất liệu mới như gạch ngói, gốm sứ, sơn thếp .v.v… Hầu hết, hệ thống vǎn tự Hán Nôm hiện nay ngoài phần được lưu trữ trong các Trung tâm lưu trữ quốc gia, các thư viện của cá nhân, gia đình, dòng tộc có truyền thống khoa bảng thì đại đa số vǎn tự Hán Nôm được tồn tại và lưu giữ chủ yếu ở các Di tích lịch sử - vǎn hóa trên khắp miền đất nước.
Dù tồn tại dưới hình thức nào, chất liệu nào thì kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm cũng là tài sản vǎn hóa – tinh thần to lớn của người Việt. Chính những tư liệu Hán Nôm cổ đã cung cấp cho chúng ta rất nhiều tư liệu quí, có ích cho cuộc sống đương đại. Một trong những giá trị đó, trước hết phải kể đến giá trị lịch sử. Bản thân vǎn tự Hán Nôm đã là lịch sử! Nó ghi dấu sự hiện diện của lịch sử thông qua vǎn tự ở thời điểm được ghi chép lại.
Bên cạnh đó, những thông tin mà hệ thống vǎn tự Hán Nôm ghi chép lại cung cấp lại cho những người đọc được, hiểu được nó những tư liệu quí giá về quá khứ lịch sử mà các vǎn tự Hán Nôm lưu giữ và truyền tải. Ví dụ, tấm biển gỗ đặt phía trước, dưới chân pho tượng Khổng Tử đặt tại Vǎn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) cho chúng ta biết pho tượng Tiên Thánh này được tạo tác vào nǎm 1729. Có rất nhiều ví dự để minh chứng cho giá trị lịch sử của hệ thống vǎn tự Hán Nôm.
Kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm còn mang trong mình các giá trị nhân vǎn sâu sắc thông qua các kiệt tác thơ vǎn được viết bởi các sĩ phu, danh sĩ nổi danh trong lịch sử. Thông qua các áng “thiên cổ hùng vǎn” này, biết bao tri thức, tâm tư, tình cảm… được truyền lại cho các thế hệ kế tiếp để chúng ta hiểu sâu hơn về cha anh của mình. Hán Nôm chính là vǎn mà vǎn chính là người.
Kho tàng di sản Hán Nôm sau những mất mát khá lớn bởi rất nhiều nguyên nhân nhưng chỉ với những gì còn lại vẫn chứa đựng những giá trị hết sức to lớn. Nhiều tư liệu Hán Nôm không chỉ là di sản vǎn hóa dân tộc mà đã trở thành di sản vǎn hóa, di sản tư liệu thế giới (Documentary Heritage). Những Vǎn bia tiến sĩ tại Vǎn miếu – Quốc tử giám (Hà Nội); Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm; Mộc bản Trường Lưu hay Châu bản triều Nguyễn, Mộc bản triều Nguyễn cùng "Thơ vǎn trên kiến trúc cung đình Huế" là các tác phẩm thi – họa trên kiến trúc cung đình Huế … là những minh chứng rõ nét cho kho tàng di sản vǎn hóa của cha ông để lại đã đnợc UNESCO công nhận, vinh danh là tài sản vǎn hóa của nhân loại.
2. Giải pháp khai thác giá trị của di sản văn hóa Hán Nôm trong hoạt động hướng dẫn du lịch
Với kho tàng di sản vǎn hóa Hán Nôm đồ sộ như thế, một phần rất quan trọng các di sản vǎn hóa Hán Nôm của dân tộc hiện đang được lưu giữ tại các di tích lịch sử vǎn hóa trên khắp mọi miền đất nước. Hệ thống Hán Nôm tại các di tích lịch sử - vǎn hóa chứa dựng trong mình nó những giá trị to lớn không thể tính đếm hết được.
Với hiện thực của mình, có thể nói rằng, mỗi một di tích trong hệ thống di tích lịch sử - vǎn hóa Việt Nam là một bảo tàng chứa đựng những dấu tích, chứng tích của lịch sử và vǎn hiến Việt Nam. Nhiều di tích quí giá là cả một bảo tàng cổ vật đồng thời cũng một thư viện cổ của vǎn tự và thư pháp truyền thống Việt.
Trong hoạt động du lịch hiện nay, các di tích lịch sử - vǎn hóa trở thành điểm đến không thể thiếu được trong các chương trình du lịch vǎn hóa. Sức hấp dẫn của các điểm đến tham quan du lịch không thể thiếu việc khai thác giá trị của các di sản vǎn hóa Hán Nôm. Các Hướng dẫn viên du lịch tùy theo trình độ và sự hiểu biết của mình sẽ trực tiếp chuyển tải các giá trị vǎn hóa hiện hữu và tiềm ẩn thông qua các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc, hội họa; các thư tịch Hán Nôm dưới nhiều thể loại, hình thức thể hiện khác nhau tới đội ngũ du khách.
Tuy nhiên, một thực tế tồn tại hiện nay là đại đa số các Hướng dẫn viên du lịch không biết chữ Hán Nôm do không được đào tạo cơ bản nên gặp không ít khó khǎn khi hướng dẫn thuyết minh cho du khách tại thực địa khi gặp các vǎn tự Hán Nôm. Trong tình hình hiện nay, để nâng cao chất lượng, hiệu quả việc hướng dẫn du lịch tại các điểm đến là các di tích lịch sử - vǎn hóa có hệ thống vǎn tự Hán Nôm cần có các giải pháp cự thể sau đây:
1. Trong chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch, nhất là đối với các chuyên ngành đào tạo Hướng dẫn viên du lịch rất cần thiết phải có môn học Hán Nôm cơ bản, cung cấp những kiến thức cơ sở về Hán Nôm cǎn bản, làm nền tảng cho quá trình tiếp tục học tập, tìm hiểu, nâng cao trình độ cho các Hướng dẫn viên sau khi ra trường. Trong chương trình môn học này, với thời lượng có hạn nên tập trung giới thiệu ngữ pháp cǎn bản; những chữ thường gặp trên hệ thống vǎn tự tại các di tích lịch sử - vǎn hóa như tên gọi loại hình di tích: Vǎn miếu, đình, chùa, đền, miếu, phủ điện, lǎng tẩm, cung điện, tháp mộ .v.v… điều này giúp cho các hướng dẫn viên dễ nhận biết loại hình, tính chất của các di tích ở các điểm đến tham quan hay các di tích gặp trên đường trong quá trình thực hiện các chương trình du lịch (tour).
Các chữ Hán Nôm có liên quan đến địa danh học để giúp các Hướng dẫn viên dễ nhận biết ý nghĩa của tên di tích, địa điểm di tích tồn tại để từ đó truyền tải đến du khách thông qua nội dung hướng dẫn, thuyết minh trong quá trình thực hiện các chương trình du lịch vǎn hóa. Các vǎn tự Hán Nôm thường gặp phản ánh và biểu đạt niên hiệu và niên đại của các di vật trong các di tích. Giảng dạy phương pháp giúp cho các hướng dẫn viên biết cách tính tuổi của di tích, di vật thông qua niên hiệu được viết bằng chữ Hán trên di vật.
2. Cần đặt hàng cho các Viện nghiên cứu Hán Nôm, các nhà nghiên cứu Hán Nôm xây dựng các từ điển Hán Nôm phục vụ tham quan du lịch hoặc đặt hàng các cuốn sách giới thiệu về các di tích trọng điểm của từng địa phương.
Trong các cuốn sách này, phần Hán Nôm cốt yếu, quan trọng nhất của các di tích trọng điểm được chú giải cự thể, xác thực. Điều đó sẽ giúp cho các Hướng dẫn viên có được những cuốn cẩm nang cần thiết và hữu ích cho công việc hướng dẫn của mình. Để xây dựng các cuốn sách hoặc cuốn từ điển Hán Nôm di tích này cần có sự kết hợp giữa Tổng cực Du lịch, Hiệp hội du lịch cùng các doanh nghiệp lữ hành kinh doanh các chương trình du lịch vǎn hóa với các cơ quan tổ chức quản lý du lịch của các địa phương để xác định điểm đến tham quan du lịch của địa phương với các di tích mà ở đó có các vǎn tự Hán Nôm.
Đưa các nhà nghiên cứu Hán Nôm khảo sát di tích, di vật để xây dựng từ điển Hán Nôm gắn với từng di tích trọng điểm, cự thể của địa phương. Kết quả nghiên cứu nhiều mặt trong đó có nội dung Hán Nôm tại các di tích sau khi được chỉnh lý cô đọng cần được số hóa và có các file tư liệu dùng cho các Hướng dẫn viên dễ dàng tiếp cận và sử dựng trên các điện thoại thông minh (smart phone).
Những cuốn Từ điển cẩm nang này sẽ trở thành công cự thiết yếu, hữu ích cho các hướng dẫn viên du lịch và cả những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu thêm về các di tích trên một địa bàn cự thể. Sau khi có các Từ điển Hán Nôm thông dựng như vậy, các Hướng dẫn viên du lịch cần có thời gian khảo sát, tìm hiểu thực tế tại các điểm di tích. Đối chiếu, so sánh giữa tài liệu vǎn bản với hệ thống vǎn tự Hán Nôm tại thực địa để xác định đúng vị trí tồn tại, ý nghĩa giá trị của các vǎn tự Hán Nôm trên di tích, di vật; từ đó giúp cho quá trình hướng dẫn du lịch được đúng đắn, chính xác góp phần nâng cao chất lượng hướng dẫn du lịch.
3. Để nâng cao chất lượng hướng dẫn du lịch trong các chương trình du lịch vǎn hóa; các Hướng dẫn viên du lịch cần xác định rõ các yếu tố cần, đủ và luôn đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao kiến thức của bản thân về kho tàng di sản vǎn hóa dân tộc trong đó có hệ thống vǎn tự Hán Nôm để từ đó có các biện pháp tǎng cường, tích cực, chủ động học tập mọi mặt trong đó có kiến thức Hán Nôm.
Các Hướng dẫn viên nhất thiết phải đọc kỹ các tài liệu giới thiệu điểm đến về vǎn hóa, lịch sử của điểm đến tham quan du lịch; Không thể không khảo sát thực tế điểm đến trước khi dẫn khách du lịch đến tham quan; đối chiếu, so sánh, xác định chính xác vị trí, ý nghĩa của các vǎn tự Hán Nôm tại thực địa để nắm chắc giá trị của các vǎn tự đó trong quá trình hướng dẫn du lịch.
Trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình du lịch, Hướng dẫn viên cần sử dựng các thông tin tri thức đã được số hóa; tiếp tục học hỏi, nâng cao trình độ, hiểu biết của mình đối với mỗi điểm đến có các vǎn tự Hán Nôm thông qua việc học hỏi các thuyết minh viên tại điểm; nhờ các du khách có hiểu biết chỉ bảo, bổ sung kiến thức Hán Nôm ngay tại thực địa để củng cố kiến thức tại các điểm đến tham quan du lịch là các di tích lịch sử - vǎn hóa mà ở đó có các vǎn tự Hán Nôm.
4. Kết thúc mùa du lịch trọng điểm đối với từng loại khách Inbound hoặc Outbound; các địa phương, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhất thiết phải tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn cho các Hướng dẫn viên du lịch. Lấy đó là dịp để bổ sung kiến thức đồng thời trở thành điều kiện cần và đủ để gia hạn các Thẻ hướng dẫn viên quốc tế hay Hướng dẫn viên nội địa. Thông qua các khóa tập huấn gắn với các tuyến điểm tham quan du lịch này để bổ sung và hiệu đính kiến thức Hán Nôm cho các Hướng dẫn viên du lịch gắn với từng di tích trọng điểm trên từng địa bàn nhất định mà công ty lữ hành đang khai thác.
5. Đi kèm với các giải pháp trên là biện pháp tǎng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động của các Hướng dẫn viên tại các tuyến điểm di tích là các điểm đến tham quan du lịch. Thông qua việc thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc, yếu kém của đội ngũ Hướng dẫn viên… để từ đó có các biện pháp khắc phục, bổ sung các giải pháp đồng bộ, thích hợp để nâng cao trình độ nói chung trong đó có việc nâng cao kiến thức Hán Nôm của các Hướng dẫn viên du lịch.
Thông qua đó các Hướng dẫn viên du lịch sẽ truyền tải ngày một tốt hơn những thông điệp từ quá khứ của cha ông gửi lại giúp cho du khách thêm hiểu, thêm yêu và mong muốn có nhiều dịp quay trở lại du lịch Việt Nam. Hiểu sâu thêm tri thức Hán Nôm mà cha ông để lại cũng còn là yếu tố cǎn bản, góp phần củng cố và tǎng cường tình yêu quê hương đất nước của mình đối với mỗi Hướng dẫn viên du lịch.
Từ đó mà mỗi Hướng dẫn viên du lịch có những động thái tích cực, chủ động, khoa học hợp lý trong suy nghĩ và hành động của mình góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị một cách có hiệu quả các giá trị vǎn hóa bản địa trong kho tàng di sản vǎn hóa vô giá của dân tộc. Đó thật sự là những động thái tích cực trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước xứng đáng với những gì mà tiền nhân đã trao gửi cho chúng ta. Tất cả vẫn đang còn ở phía trước!
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Vǎn hóa, Thể thao và Du lịch; Tổng cực Du lịch, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội 2013.
Dương Vǎn Sáu, Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các Văn miếu tiêu biểu ở Bắc Bộ, NXB Thông tin và Truyền thông, H.2013.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét