1. Vai trò của năng lực tự học đối với sinh viên
Học là một quá trình trong đó dưới sự định hướng của người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và tay chân, nhằm hình thành cấu trúc tâm lí mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Học là công việc của người học, do người học - không ai có thể thay thế họ và chỉ có họ mới tạo ra sự thay đổi cho chính mình. Như vậy, trong khái niệm học đã là hàm chứa tự học. Và tự học không có nghĩa chỉ là việc học ngoài giờ lên lớp, mà tự học ở đây còn là hoạt động học diễn ra trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của người dạy, người học phải động não, tìm tòi, phát hiện, phân tích, khái quát để chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng chình tư duy của mình.
Hiện nay, yêu cầu mà xã hội đặt ra cho giáo dục và đào tạo ngày càng khắt khe, đòi hỏi các trường đại học không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực thông thạo về lý thuyết mà còn phải biết vận dụng, ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn đời sống. Để đáp ứng yêu cầu đó, các trường đại học đã phát động đổi mới phương pháp dạy học. Đội ngũ giảng viên ở nhiều trường đã tiến hành áp dụng các phương pháp, phương tiện dạy học mới, hiện đại nhưng chuyển biến về chất lượng học tập của sinh viên chưa cao. Bởi phần lớn sinh viên còn thụ động trong việc tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức.
Trong bài giảng mỗi giáo viên đều có phần định hướng, tổ chức tự học nhưng nhiều khi sinh viên chỉ thực hiện một cách sơ sài, chiếu lệ. Như vậy, việc tự học của sinh viên được đặt ra như một nhu cầu bức thiết. Tự học được xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia tăng sự hiểu biết để làm việc và sống tốt hơn của mỗi người, là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học. Thực tế giảng dạy tại các trường đại học cũng cho thấy, nếu người học không chịu khó tự nghiên cứu, mở rộng kiến thức bằng cách học tập độc lập thì dù người dạy có dạy giỏi, có kiến thức sâu rộng và trình độ nghiệp vụ vững vàng đến mấy chất lượng học tập cũng không thể cao.
Có thể thấy, bản chất việc tự học của sinh viên đại học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học. Nói khác đi, việc tự học ngoài lớp học đóng vai trò trọng yếu ở đại học.
Bên cạnh đó, tự học còn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao khả năng hiểu biết và tiếp thu tri thức mới của sinh viên, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho sinh viên. Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lý. Trong quá trình tự học, sinh viên sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trì tuệ cho sinh viên. Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân sinh viên thì kết quả không thể cao cho dù có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay).
Hiện nay, việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ đang trở thành một xu thế tất yếu mà các trường đại học phải hướng tới và triển khai thực hiện. Với xu thế chung đó, đào tạo theo hệ thống tín chỉ ngày càng được thực hiện rộng rãi ở các trường đại học trong cả nước. Bản chất của đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục đại học cho số đông. Các triết lý làm nền tảng cho đào tạo theo tín chỉ là “giáo dục hướng về người học” và “giáo dục đại học đại chúng”.
Theo hình thức tín chỉ thì sinh viên là trung tâm, ngoài kiến thức giảng viên truyền đạt trên lớp thì sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu thêm tài liệu. Việc tự học của sinh viên giữ vai trò rất quan trọng, nó là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học. Bên cạnh đó, tự học còn góp phần nâng cao hoạt động trì tuệ của sinh viên trong việc tiếp thu và hiểu tri thức mới, rèn luyện cho sinh viên có cách độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết các vấn đề khó khăn trong quá trình học, giúp sinh viên tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống của mình, và thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết.
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ của sinh viên ở các trường đại học hiện nay. Tự học nhằm phát huy tình tự giác học và nghiên cứu. Đào tạo theo hệ thống tín chỉ xác định rõ trọng tâm của người học là bắt buộc nhận thức việc tự học của mình là chính.
Không chỉ có vậy, tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho sinh viên. Việc tự học rèn luyện cho sinh viên thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình.
Hơn thế, tự học thúc đẩy sinh viên lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ. Qua đó có thể nói rằng hoạt động tự học của sinh viên không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách.
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bằng con đường tự học, mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc mà sẽ thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ trong cuộc sống hiện đại, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp. Do đó, việc tự học không nên chỉ giới hạn trong các giờ học trên lớp, với sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thí sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.
Đối với sinh viên sư phạm, việc định hình phương pháp tự học mang một ý nghĩa rất quan trọng bởi kết quả học tập chưa phải là đích cuối cùng. Kiến thức và các kĩ năng đạt được trong quá trình tự học sẽ là hành trang cho sinh viên trong suốt cuộc đời giảng dạy. Học sinh ở các trường phổ thông ngày nay rất nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, đòi hỏi giáo viên phải không ngừng trau dồi kiến thức của mính mới có thể đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp.
Do đó, sinh viên sư phạm đang trong giai đoạn học tập để trở thành giáo viên thí việc tự tích góp kiến thức cho bản thân thông qua tự học là một việc làm tất yếu. Tự học không chỉ dừng lại sau khi hoàn tất quá trình học tập ở trường đại học mà còn phải là một kĩ năng thường trực đối với một người giáo viên. Từ đó giáo viên mới có ý thức hình thành kĩ năng tự học cho học sinh của mình để các em sớm có được một phương pháp học tập hiệu quả.
2. Một số giải pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn qua học phần Tiếng Việt thực hành
Để phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, chúng ta có thể sử dụng được rất nhiều phương pháp, nhưng trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi xin trình bày một số phương pháp mang tính đặc thù riêng của phân môn Tiếng Việt thực hành:
2.1. Hướng dẫn sinh viên thu thập nguồn tài liệu tham khảo và phương pháp đọc đối với từng loại sách cụ thể theo đặc trưng bộ môn
Đối với phân môn Tiếng Việt thực hành, trong buổi đầu lên lớp, giáo viên có thể hướng dẫn sinh viên phương pháp đọc đối với từng loại sách như sau:
- Đọc sách tham khảo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học về Tiếng Việt. Ngoài cuốn giáo trình chính thống, giảng viên cần giới thiệu cho sinh viên nhiều đầu sách tham khảo để các em đọc và nghiên cứu thêm. Đồng thời giáo viên nên hướng dẫn người học cách đọc. Khi đọc sách tham khảo, sinh viên cần có sự so sánh, phân tích, nhận xét, đánh giá cách giải quyết vấn đề của từng tác giả, từ đó lựa chọn cho mình một quan điểm mà mình cho là hợp lí, và khi đọc cần phải tiến hành ghi chép, đặc biệt là ghi lại những điều bản thân còn băn khoăn, chưa hiểu để có thể đưa ra trao đổi với giáo viên và bạn bè trong các giờ lên lớp, hoặc ở các buổi xêmina.
Người dạy cũng cần lưu ý sinh viên khi đọc sách tham khảo về ngôn ngữ sẽ có hiện tượng cùng một đơn vị, cùng một cấu trúc ngôn ngữ nhưng giữa các tác giả lại dùng những tên gọi, những cách hiểu, cách lí giải khác nhau là một hiện tượng mang tình phổ biến. Đồng thời lí giải cho sinh viên biết vì sao như vậy.
Trong quá trình nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ cụ thể, các nhà nghiên cứu cũng có lúc băn khoăn, lúng túng trước những hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ gây ra. Và đối với những hiện tượng trung gian này, việc xếp nó vào một loại nào cũng đều nảy sinh một chút mâu thuẫn. Chính vì thế việc xử lí các hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ là phụ thuộc góc nhìn và cách lí giải của từng nhà nghiên cứu. Nếu hiểu được điều này, sinh viên sẽ có cách hiểu biện chứng hơn trong việc thu nhận tri thức qua sách tham khảo.
Phương pháp đọc sách này không chỉ có tác dụng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức của sinh viên, mà còn góp phần rèn luyện cho họ kĩ năng tổng thuật các tài liệu khoa học trên cơ sở có phân tích, đánh giá - đây là một trong những kĩ năng cần phải có, cần phải trang bị cho sinh viên để họ có thể tập dượt làm công tác nghiên cứu khoa học.
- Đọc giáo trình Tiếng Việt thực hành: Khi lên lớp, phần lớn giảng viên đều yêu cầu sinh viên đọc trước bài mới trong giáo trình. Song, thực tế có người đọc, cũng có người không đọc, hoặc có một số sinh viên đọc xong không khái quát được vấn đề cần học, không nắm được đâu là vấn đề cơ bản, trọng tâm của bài học.
Để khắc phục điều này, giáo viên cần phải hướng dẫn sinh viên cách đọc và cần phải có cách để kiểm tra việc đọc của sinh viên. Cấu trúc của giáo trình Tiếng Việt thực hành dành cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn thường đi từ tổng luận đến các nội dung cụ thể đòi hỏi người học phải có năng lực tư duy khái quát, định hướng cao mới có thể tiếp nhận được nội dung kiến thức.
Nếu thiếu năng lực định hướng, người học sẽ rơi vào tính trạng “thấy cây mà không thấy rừng”. Để rèn luyện năng lực tư duy khái quát, năng lực định hướng cho người học, giảng viên có thể định hướng việc đọc bằng hệ thống câu hỏi. Hệ thống câu hỏi đưa ra cần hướng tới rèn luyện năng lực khái quát, năng lực phân tích nắm bắt một vấn đề cụ thể, và đặc biệt là phải tạo ra được những câu hỏi hướng sinh viên vào việc vận dụng những tri thức đã có, đã được học như là một công cụ để tiếp thu tri thức mới, giải quyết vấn đề mới.
Song song với việc hướng dẫn sinh viên đọc giáo trình bằng hệ thống câu hỏi, giảng viên cần phải tiến hành kiểm tra việc đọc. Để thực hiện điều này, giảng viên nên yêu cầu người học hệ thống hóa kiến thức đọc được bằng mô hính Graph (bằng sơ đồ). Ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng là một hệ thống lớn bao hàm trong lòng nó nhiều hệ thống nhỏ có tình cấp bậc, tầng bậc.
Qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy gần như hầu hết các nội dung ngôn ngữ học về tiếng Việt đều có thể lập được bằng mô hình Graph. Việc tái hiện kiến thức ngôn ngữ học về tiếng Việt bằng mô hình Graph có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện năng lực khái quát hóa vấn đề của sinh viên. Đồng thời qua mô hình Graph, sinh viên dễ dàng nắm được những đơn vị ngôn ngữ cụ thể và nhận ra được mối quan hệ giữa các đơn vị đó. Việc yêu cầu sinh viên hệ thống hóa kiến thức đọc được bằng mô hình Graph rất tiện cho giảng viên kiểm tra việc đọc mà không mất nhiều thời gian.
Trước khi đi vào bài mới, hoặc đi vào từng nội dung cụ thể, giảng viên yêu cầu sinh viên lên trình bày nội dung đó bằng mô hình Graph, sau đó mới hướng dẫn, tổ chức cho sinh viên đi sâu phân tích từng vấn đề cụ thể.
2.2. Tổ chức, hướng dẫn cho sinh viên tự lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ học về tiếng Việt dưới góc độ là một "nhà nghiên cứu"
Dạy Tiếng Việt thực hành cho sinh viên ở bậc đại học, cao đẳng ngành Sư phạm Ngữ văn không chỉ là truyền thụ cho họ những kiến thức lí thuyết ngôn ngữ về tiếng Việt mà còn phải hướng sinh viên tới việc tiếp nhận các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ để tím ra được lí thuyết đó.
Giáo viên, sinh viên không phải là các nhà nghiên cứu, không nhất thiết phải đi lại toàn bộ con đường mà nhà nghiên cứu đã đi, nhưng trên những bước đi cơ bản thì không thể khác được. Muốn làm được điều này thì việc học không phải là áp đặt đối với sinh viên.
Để giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức về tiếng Việt dưới góc độ của một "nhà nghiên cứu", giảng viên phải sử dụng phương pháp dạy “Phân tích - nghiên cứu ngôn ngữ". Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là: theo sự chỉ dẫn của giáo viên, dựa trên những ngữ liệu đã cho, SV quan sát và phát hiện những hiện tượng ngôn ngữ, tìm ra những đặc trưng chung của chúng, từ đó hình thành nên khái niệm và quy tắc mới.
Trong phương pháp này, để thực hiện một hành động phân tích, SV phải sử dụng những thao tác cơ bản như: phân tích - phát hiện, phân tích - chứng minh, phân tích - phán đoán, phân tích - tổng hợp. Ưu điểm của phương pháp dạy "phân tích - nghiên cứu ngôn ngữ" là ở chỗ phương pháp này có mối quan hệ chặt chẽ với kiểu dạy học nêu vấn đề.
Dưới sự tổ chức, điều khiển khéo léo của người dạy, người học luôn được đặt trước những tính huống có vấn đề cần phải giải quyết. Chính điều này đã giúp sinh viên không những phát huy được tình tích cực, chủ động vươn lên tự tìm hiểu, tự nghiên cứu để nắm bắt tri thức, mà còn giúp họ nâng cao được năng lực tư duy sáng tạo. Ngoài ra, phương pháp này rất phù hợp cho việc khuyến khích sinh viên hình thành các khái niệm trừu tượng.
2.3. Liên hệ từ kiến thức môn Tiếng Việt thực hành với thực tế dạy - học ở phổ thông và trong đời sống thường nhật
Trong chương trình đào tạo, phân môn Tiếng Việt thực hành của ngành Sư phạm Ngữ văn thường được giảng dạy ở năm học thứ nhất hoặc đầu năm thứ hai. Đây được coi là môn học trang bị cho sinh viên các kiến thức nền cơ sở về tiếng Việt cũng như các quy tắc sử dụng tiếng Việt trong học tập và cuộc sống thường ngày. Nắm vững các kiến thức cơ bản này, sinh viên mới có thể học tốt được các kiến thức chuyên ngành chuyên sâu hơn ở các năm học tiếp sau.
Hơn nữa, việc nắm vững kiến thức về tiếng Việt và các quy tắc sử dụng tiếng Việt cũng là một trong những yếu tố tiên quyết để các em có thể giảng dạy tốt hơn môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông khi ra trường. Vì vậy, khi dạy học phần Tiếng Việt thực hành cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn, giảng viên cần gắn những kiến thức mà các em được tím hiểu với thực tế chương trình Ngữ văn ở phổ thông.
Qua đó, sinh viên vừa nắm vững những kiến thức về tiếng Việt, lại vừa được tìm hiểu việc ứng dụng những kiến thức đó trong đời sống thường nhật và có những hiểu biết ban đầu về chương trình cũng như thực tế giảng dạy Ngữ văn ở trường phổ thông. Chẳng hạn, khi hướng dẫn tìm hiểu phần chữa các lỗi về dùng từ, đặt câu, giảng viên có thể yêu cầu sinh viên tự tìm các dẫn chứng về lỗi sai thường gặp của mình hoặc của các bạn sinh viên khác; hay tổ chức cho sinh viên tìm hiểu các lỗi sai của học sinh trên địa bàn mình sinh sống và đề xuất biện pháp khắc phục những lỗi sai đó.
Đối với những ý tưởng hay, sáng tạo, giảng viên hoàn toàn có thể động viên, khuyến khích sinh viên biến đó thành các bài tập lớn hay đề tài khoa học, khóa luận tốt nghiệp,… Thông qua những đề tài nghiên cứu như vậy, sinh viên không chỉ có thêm nhiều kiến thức thực tế về môn học mà kĩ năng nghiên cứu và các kĩ năng xã hội khác của sinh viên cũng được hình thành và phát triển thêm. Việc học học phần Tiếng Việt thực hành với các em cũng sẽ trở nên hấp dẫn và hứng thú hơn.
3. Kết luận
Tóm lại, hình thành năng lực tự học cho sinh viên cũng có nghĩa là bồi dưỡng cho họ ý thức tự giác, thái độ tích cực trong học tập; giúp các em tự tạo ra cho mình nhu cầu, động cơ, hứng thú trong học tập, nâng cao ý chí và huy động sức lực vượt qua những khó khăn để tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Đồng thời rèn luyện cho các em thói quen làm việc độc lập. Thói quen này sẽ giúp các em khi rời giảng đường vẫn có khả năng tự học tập và nghiên cứu suốt đời để không ngừng nâng cao kiến thức và trình độ chuyên môn cho mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Minh Toán - Nguyễn Quang Ninh, (2004), Tiếng Việt thực hành, Nxb Đai học Sư phạm.
2. Nguyễn Hữu Châu và một số tác giả, (2007), Sách trợ giúp giảng viên Cao đẳng Sư phạm (dùng chung cho các môn học), Nxb Đại học Sư phạm.
3. Lê Xuân Thại (chủ biên), (1999), Tiếng Việt trong trường học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét