Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

Bảo tồn và phát huy giá trị sân khấu truyền thống Nam Bộ trong bối cảnh nghiên cứu, giảng dạy Ngữ văn hiện nay (ThS. NCS. Nguyễn Thị Trúc Bạch)

1. Mở đầu

Trong những năm gần đây, nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn trong nhà trường vừa phát triển chuyên ngành hẹp khẳng định tư cách độc lập của ngành. Đồng thời, quan tâm nhiều đến hướng tiếp cận liên ngành để tiến gần hơn các mục tiêu khoa học, mở rộng kiến thức đào tạo cho nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tri thức và việc làm cho xã hội. 

Từ thực tế đó, bài viết nhìn nhận vấn đề Bảo tồn và phát huy giá trị sân khấu truyền thống Nam Bộ trong bối cảnh nghiên cứu - giảng dạy Ngữ văn như là một trong những chủ đề đại diện của hướng tiếp cận liên ngành. Nội dung nghiên cứu nhận diện bức tranh thực trạng về nghệ thuật cải lương Nam Bộ, sức hút của loại hình đối với công chúng đương đại, đề xuất một số hướng nghiên cứu - giảng dạy gắn với chủ đề này. 

Kết quả nghiên cứu, chúng tôi nêu ra những hợp lý và kết quả khả thi của hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu - giảng dạy Ngữ văn ở nhà trường hiện nay nhìn từ chủ đề trên. Đồng thời, bài viết còn là cơ sở tham gia bàn luận về nội dung nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực ngành Ngữ văn hiện nay.

2. Liên ngành trong bối cảnh nghiên cứu, giảng dạy Ngữ văn hiện nay

Xu hướng nghiên cứu liên ngành ở Việt Nam ra đời muộn hơn hẳn so với các nước có nền nghiên cứu khoa học xã hội phát triển trên thế giới. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, xu hướng liên ngành trong khoa học xã hội được giới học thuật trong nước đặc biệt quan tâm, nghiên cứu. Kết quả là trong một thời gian ngắn, các hội thảo khoa học, công trình, bài nghiên cứu giới thiệu và vận dụng phương pháp liên ngành được thực hiện nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề của liên ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội, từ lý thuyết, phương pháp đến thực nghiệm.

Liên ngành (Interdisciplinarity) là một thuật ngữ khoa học của hợp từ “Inter” và “Disciplinarity”; inter (between, connecting) có nghĩa là liên kết, ở giữa/ disciplinarity (subject/ field) là ngành học, lĩnh vực. Tình chuyên ngành của mỗi ngành khoa học được thể hiện có đối tượng nghiên cứu riêng, giải quyết các vấn đề khoa học chuyên biệt và độc lập. 

Liên ngành có thể hiểu là một cách tiếp cận trong nghiên cứu khoa học trong đó có sự hợp tác của từ hai ngành khoa học trở lên. Nghiên cứu liên ngành (interdisciplinarity research) nói đến một hình thái cùng làm việc mang tính hợp tác và định hướng hội nhập giữa các nhà nghiên cứu từ những bộ môn khoa học khác nhau. 

Nghiên cứu và cách tiếp cận liên ngành hoàn toàn độc lập, khác biệt với nghiên cứu đa ngành (multidisciplinary research) và xuyên ngành (transdisciplinarity research). Sự khác biệt này thể hiện tập trung rõ nhất trên hai phương diện: Một là, nghiên cứu liên ngành là sự liên kết học thuật, có ít nhất từ hai chuyên ngành cùng hợp tác với nhau trong quá trình nhận thức, khám phá đối tượng nghiên cứu nhằm đạt đến mục tiêu nghiên cứu chung. Hai là, nghiên cứu liên ngành đòi hỏi các chuyên ngành phối hợp nhất thiết phải có mối quan hệ với nhau, các ngành phải gần nhau, hợp tác trên tinh thần bình đẳng về vai trò và nhiệm vụ nhận thức đối tượng nghiên cứu.

Theo Roland Barthes trong công trình The Rustle of language (1986) [1] cho rằng: “Các nghiên cứu liên ngành không chỉ đơn thuần là nghiên cứu và phản bác các kết quả của các ngành, việc nghiên cứu về một chủ đề (hay một ý tưởng chủ đạo) và sắp xếp hai ba luận điểm khoa học chung quanh nó xem ra là chưa đủ. Nghiên cứu liên ngành bao gồm việc tạo ra hướng/ chủ đề nghiên cứu mới chưa ai phát hiện ra”. Barthes nhấn mạnh hướng nghiên cứu liên ngành góp phần phát hiện những ý tưởng, văn bản nghiên cứu mới.

Trong công trình Interdisciplinarity [2] (Liên ngành), tác giả Joe Moran đặc biệt đề cao đến tính liên kết, mở rộng sự hiểu biết trong nghiên cứu liên ngành. Trong phần viết Literature into culture (văn học thể hiện ở khía cạnh văn hóa), ông quan niệm, văn học và văn hóa là hai chuyên ngành có thể kết hợp nghiên cứu liên ngành, phát hiện những chủ đề nghiên cứu thú vị và hữu ích trong bối cảnh xã hội đương đại. Các chủ đề nghiên cứu liên ngành có thể liên quan đến các chiều kích của lý thuyết về tầng lớp (class), vốn văn hóa (cultural capital), giá trị văn hóa (cultural value)…

Có thể nói, xu hướng nghiên cứu liên ngành được các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước tiếp tục ủng hộ và vận dụng nghiên cứu. Trên tinh thần đó, chúng tôi đề xuất hướng nghiên cứu liên ngành trong bối cảnh nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn hiện nay gắn với chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ - loại hình cải lương.

3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật cải lương Nam Bộ như một trường hợp của nghiên cứu liên ngành

Từ những trở lực của nghệ thuật cải lương Nam Bộ hiện nay

Cải lương là loại hình ca kịch sân khấu truyền thống, sản phẩm văn hóa nghệ thuật hình thành và phát triển trên mảnh đất Nam Bộ. Buổi đầu, nghệ thuật cải lương ra đời dần thay thế vị trí của hát bội trên sân khấu Nam Bộ. Sự chuyển hướng trong tiếp nhận nghệ thuật sân khấu, diễn ra ở Nam Bộ khá mạnh mẽ vào thập niên hai mươi của thế kỷ XX. Sân khấu cải lương ra đời xuất phát từ những nguyên nhân xã hội, kinh tế, văn hóa… đồng thời đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ nghệ thuật sân khấu của công chúng.

Từ khi ra đời đến nay, nghệ thuật cải lương trải qua chặng đường gần một trăm năm gắn bó với công chúng Nam Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung. Trong quá khứ, cải lương từng chiếm giữ vị trí độc tôn, được công chúng Nam Bộ yêu chuộng và say mê. Tuy nhiên, hơn hai mươi năm qua, cải lương đã và đang đối diện với sức ép cạnh tranh với nhiều loại hình nghệ thuật, giải trí mới xuất hiện, lượng khán giả cải lương ngày càng thu hẹp. Bên cạnh đó, bản thân loại hình cải lương đang phải đối mặt với nhiều trở lực khác từ các phương diện như: cơ chế tài chính, cơ sở vật chất, đội ngũ sáng tác, đạo diễn, diễn viên…

Về đội ngũ tác giả, đạo diễn cải lương: Với loại hình cải lương, kịch bản được xem là tiền đề cơ bản, quan trọng xây dựng tác phẩm sân khấu. Ngày nay, cải lương đang phải đối mặt với vấn đề kịch bản, nguyên nhân chính là do lực lượng tác giả ngày càng giảm và thưa dần so với các thời kỳ trước. Mặt khác, các tác giả đang thiếu sự kích thích sáng tạo. Có thể thấy, phần lớn các tác giả sáng tác kịch bản cải lương mới phục vụ chủ yếu cho các hội thi, hội diễn, liên hoan cải lương toàn quốc. Cho nên, hiện nay một số tác giả chuyển sang viết kịch bản cho kịch nói, cải lương truyền hình, phim truyện.

Khi đặt vấn đề về đội ngũ sáng tác cải lương hiện nay, soạn giả Hoàng Song Việt cho biết: “Lực lượng tác giả cùng trang lứa và trẻ hơn tôi hiện nay không thiếu. Hiện nay cả Thành phố Hồ Chì Minh chỉ có nhà hát cải lương Trần Hữu Trang chuyên về cải lương. Cả nhà hát có ba đơn vị nhỏ, một năm tiêu thụ nhiều lắm 5 - 6 kịch bản. Vì không có đầu ra nên những tác giả cải lương thưa vắng dần. Tôi may mắn hơn các bạn là có đầu ra ngay tại đoàn nghệ thuật III do tôi quản lý. Thi thoảng tôi vẫn sử dụng kịch bản của soạn giả Năm Châu, Triệu Trung Kiên... hay tác phẩm của một tác giả nào đó hợp vai với diễn viên trong Đoàn. Tôi cũng khổ tâm lắm khi sử dụng khá nhiều kịch bản của mình. Cái khó của tôi là các em diễn viên của Đoàn không phải là ngôi sao. Vì thế tôi phải “đo ni đóng giày” các vai diễn cho từng em, sao cho các em có nhiều nhất cơ hội được diễn và tỏa sáng trên sân khấu” [Châu Mỹ, 2014]. Thực tế cho thấy cải lương đang phải đối diện với trở lực về đội ngũ sáng tác.

Những năm gần đây, Lê Duy Hạnh, Hoàng Song Việt... là một trong những tác giả cải lương Nam Bộ có nhiều kịch bản dự thi nhất tại các hội thi, liên hoan sân khấu cải lương toàn quốc. Không chỉ riêng Nam Bộ, tình hình đội ngũ sáng tác cải lương ở trong nước ngày càng ít. Cả nước chỉ có một vài tác giả viết kịch bản cải lương tiêu biểu như: Hoàng Song Việt, Lê Duy Hạnh, Triệu Quang Vinh... gần đây là một số tác giả trẻ như Triệu Trung Kiên, Lê Chí Trung...

Đạo diễn sân khấu cải lương là người cụ thể hóa ý tưởng kịch bản từ trang giấy của tác giả, đưa tác phẩm đến với công chúng. Hiện nay, số đạo diễn giàu kinh nghiệm dàn dựng cải lương chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực kịch nói. Đa số học viên tốt nghiệp ngành đạo diễn sân khấu cũng chọn làm nghề ở sân khấu kịch, rất hiếm người gắn bó với sân khấu cải lương. Lực lượng đạo diễn cải lương đã thiếu hụt lại ít cơ hội làm nghề, số tác phẩm được dựng hàng năm rất hạn chế. Lớp đạo diễn trẻ gần như không có cơ hội thử sức, cũng như môi trường rèn nghề để nâng cao chuyên môn.

Về khán giả cải lương: Trước năm 1980, ở Nam Bộ trên 20 đoàn nghệ thuật thì cải lương đã chiếm 17 đoàn (còn lại là kịch, hát bội và ca nhạc) [Trần Trọng Đăng Đàn 2011: tr.186]. Các quận trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh còn có các đoàn cải lương bán chuyên đều hoạt động có hiệu quả. Mỗi đêm có khoảng vài chục ngàn khán giả đến với cải lương, Thành phố Hồ Chí Minh được xem là “thánh địa” của cải lương. Nhiều năm gần đây, khán giả đến với các sân khấu cải lương ngày càng giảm sút. Các điểm sân khấu tại các rạp hát trên địa bàn Thành phố Hồ Chì Minh đều rơi vào tình trạng mất dần lượng khán giả. Chuyện mất dần khán giả thực sự là một mối lo ngại rất lớn, đe dọa sự ổn định và quá trình hoạt động phát triển của sân khấu cải lương.

Hiện nay, do chủ trương của nhà nước sáp nhập, tiết giảm các đoàn nghệ thuật, cho nên số đoàn nghệ thuật sân khấu cải lương trên cả nước những năm đầu thế kỉ XXI đã giảm đáng kể. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang là nơi hội tụ của các thế hệ nghệ sĩ trưởng thành từ Đoàn cải lương Nam Bộ, Đoàn cải lương Giải Phóng, Đoàn cải lương Văn Công khu Sài Gòn - Gia Định. Hiện nay nhà hát có ba đơn vị hoạt động biểu diễn: Đoàn I, Đoàn II và Đoàn III (Thắp sáng niềm tin).

Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay chỉ còn lại khoảng 7 đoàn cải lương, trong đó nổi bật là Đoàn Cải lương Hương Tràm (Cà Mau), Tây Đô (Cần Thơ), nhưng hai đoàn này cũng chỉ diễn ở rạp mấy buổi, sau đó lại đi lưu diễn. Các đoàn khác hoạt động thưa thớt, chủ yếu phục vụ phong trào và biểu diễn gây quỹ từ thiện theo chỉ tiêu đã giao của tỉnh.

Với tình trạng khán giả đến rạp rất ít, các đoàn cải lương không thể trụ lại ở những rạp hát lớn khi mỗi suất diễn chỉ vài trăm khán giả, họ đi diễn ở vùng nông thôn và biểu diễn hợp đồng tại các đơn vị theo yêu cầu. Diễn viên cơ hội làm nghề ít, các buổi diễn không nhiều, nghệ sĩ phải làm trái nghề để kiếm sống [Theo quan sát và ghi nhận từ các cuộc điền dã từ 2014 - 2016]. Việc đầu tư cho vai diễn của các nghệ sĩ cũng thiếu sự tìm tòi sáng tạo. Những người trẻ tuổi có năng khiếu, chất giọng tốt không thiết tha tìm đến đầu quân cho các đoàn Nhà nước, chủ yếu đi hát tại các tụ điểm hát cho nhau nghe, hay hát tư gia (được mời về nhà hát vào các dịp giỗ, sinh nhật, tân gia).

Những năm qua, sân khấu cải lương gặp lắm thăng trầm. Trong điều kiện khó khăn ấy, anh em nghệ sĩ sân khấu vẫn luôn cố gắng duy trì hoạt động, vất vả bươn chải với nghề để có thể xây dựng, tổ chức những đêm diễn phục vụ công chúng, giúp sân khấu sáng đèn. Tuy nhiên, với tình hình thực tế khi tài danh sân khấu ngày càng ít, một số ngôi sao sân khấu cải lương đã không còn, một số nghệ sĩ tên tuổi định cư ở nước ngoài, sân khấu trong nước hiếm hoi những tài năng trẻ đủ năng lực kế thừa… đã và đang khiến những người làm nghệ thuật và khán giả yêu quý loại hình sân khấu cải lương trăn trở.

Không ai có thể phủ nhận vị trí của nghệ thuật cải lương trong đời sống văn hóa con người Nam Bộ. Song, chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng, trong nhiều năm qua, cải lương đã và đang đứng trước những khó khăn nhất định. Sự khủng hoảng về số lượng khán giả, chất lượng vở diễn, cũng như đội ngũ diễn viên, chưa đáp ứng được những kỳ vọng của những người mộ điệu cải lương.

Năm 2014, chúng tôi thực hiện đề tài Cải lương trong đời sống văn hóa xã hội ở Nam Bộ hiện nay. Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng và giải pháp bảo tồn nghệ thuật cải lương trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài tiến hành điều tra xã hội học với số lượng 440 phiếu, chia theo 4 nhóm đối tượng tại Thành phố Hồ Chí Minh: học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên: 220 phiếu; kỹ sư, viên chức, công nhân: 80 phiếu; chủ cơ sở sản xuất nhỏ và những người buôn bán, lao động tự do: 70 phiếu; những thanh niên làm nông: 70 phiếu (chủ yếu ở 2 huyện Củ Chi và Hóc Môn). Thông qua kết quả định lượng từ cuộc điều tra cho thấy, tỉ lệ công chúng yêu thích và đến với nghệ thuật cải lương không nhiều (nhạc truyền thống, cải lương, tuồng, chèo chiếm 6,1%; phim/tuồng cải lương chiếm 4,3%). Giới trẻ có xu hướng ưu tiên yêu chuộng loại nhạc trẻ, nhạc nước ngoài, cũng như những loại phim hành động, hình sự và tình cảm, tâm lý xã hội. [Nguyễn Thị Trúc Bạch, 2014: tr. 64-71]

Từ kết quả điều tra trên, chúng ta có thể thấy về mặt bằng chung, địa bàn Nam Bộ (đại diện là Thành phố Hồ Chí Minh) có những chỉ báo về tình hình khó khăn nghệ thuật sân khấu cải lương. Tuy nhiên, cũng từ khảo sát thực tế cho thấy, nghệ thuật cải lương vẫn còn lượng công chúng (dẫu không nhiều) yêu thích, đến với cải lương bằng những hình thức và trình độ cảm thụ khác nhau. 

Những ý kiến thu thập trong quá trình điều tra cho thấy thị hiếu của khán giả hiện nay là những vở cải lương thuộc thể loại tâm lý xã hội, tuồng cổ với những đề tài về lịch sử, xã hội hiện đại (có tình hài, đề cập những vấn nạn xã hội, giáo dục đạo đức…). 

Về chất lượng các vở diễn, nhiều ý kiến cho rằng tuồng cải lương hiện nay nhiều hơn trước nhưng chất lượng không cao, mang nặng tính thương mại. Về chất lượng diễn viên, nhiều khán giả bày tỏ đến sân khấu cải lương, họ mong muốn tìm lại hình ảnh những diễn viên mà họ từng yêu thích ở thập niên 1960, 1970. 

Hiện nay, sân khấu cải lương Nam Bộ xuất hiện đội ngũ diễn viên trẻ, có chất giọng tốt nhưng khán giả có cảm giác những diễn viên ấy chưa có phong cách biểu diễn riêng, làn hơi riêng như diễn viên của thế hệ trước. Cũng vì lẽ đó, khán giả lớn tuổi, trung niên đến với sân khấu cải lương luôn hy vọng được nghe lại những giọng ca một thời không quên. Có thể nói, hiện nay có rất nhiều ý kiến đối với nghệ thuật cải lương Nam Bộ. Đối với những khán giả vốn yêu mến cải lương dường như đã và đang kỳ vọng những chuyển biến của sân khấu cải lương.

Từ đó, thiết nghĩ vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa loại hình cải lương là vấn đề mang tính cấp thiết, cần có những quan tâm thực chất và đa diện hơn bao giờ. Đây không chỉ là câu chuyện của các nhà quản lý văn hóa, hoạt động nghệ thuật, mà còn là vấn đề cần quan tâm của các ngành đào tạo khoa học xã hội và nhân văn hiện nay. Công chúng nghệ thuật, đặc biệt là thế hệ trẻ học đường cần được trang bị những kiến thức về giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống dân tộc, nhận thức “vốn văn hóa” của quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa và phát triển bền vững.

Đến phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật cải lương Nam bộ

Phát triển bền vững là một trong những chiến lược quan trọng của Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng. Đây là chiến lược hướng đến sự phát triển toàn diện mọi mặt xã hội trong hiện tại, nhưng phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai. Phát triển bền vững chính là sự cân bằng tầm quan trọng của các bình diện trong xã hội: kinh tế, xã hội, chính trị, mội trường và văn hóa. 

Sự phát triển kinh tế bền vững luôn có sự đồng hành, tương tác giữ các thành tố xã hội và văn hóa. Văn hóa được thừa nhận là bình diện quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Nam Bộ. Các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội trên thế giới, đại diện tiêu biểu nhất là nhà xã hội học Pierre Bourdieu trong công trình Distinction: A Social critique of the judgment of taste (1984) nhìn nhận văn hóa là một loại “vốn” (capital) – “Vốn văn hóa” (Cultural capital) là một trong bốn loại vốn vận hành trong đời sống văn hóa xã hội: vốn kinh tế (Economic capital), vốn xã hội (Social capital), vốn biểu tượng (Symbolic capital). 

Tuy nhiên, “Vốn văn hóa” là một dạng “vốn” đặc biệt, có những thuộc tính hoàn toàn khác biệt với “Vốn kinh tế”; “vốn văn hóa” khó tích lũy, di chuyển và hoán đổi hơn “vốn kinh tế”. “Vốn văn hóa” của một dân tộc góp phần khẳng định vị thế, sức mạnh đối với tầm nhín quốc gia và cộng đồng quốc tế. Ý thức tầm quan trọng của “vốn văn hóa” chính là nhận thức “sức mạnh mềm” của văn hóa trong xu thế hội nhập toàn cầu và phát triển bền vững.

Văn hóa là bình diện quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững Nam Bộ. Di sản văn hóa là tài sản của quốc gia và nhân loại, có ý nghĩa đối với sự phát triển của đất nước, điều này được thể hiện trong Luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [3]. 

Di sản văn hóa là một dạng “vốn văn hóa” - tài nguyên vô giá, cần được gìn giữ, bảo tồn và khai thác hợp lý, khoa học. Bảo tồn, phát huy và nâng cao giá trị di sản văn hóa chính là phát triển tiềm lực văn hóa của đất nước. Tiềm lực văn hóa có sức mạnh thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng vì con người và cộng đồng xã hội. Khẳng định và mở rộng tiềm lực văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong chiến lực phát triển bền vững vùng. 

Theo Công ước của UNESCO về Bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện dưới năm hính thức: 1/Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện truyền tải. 2/ Nghệ thuật diễn xướng. 3/Tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội. 4/Tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ. 5/Nghề thủ công truyền thống.

Cải lương thuộc loại hình nghệ thuật diễn xướng. Nhiều năm qua vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật cải lương đã và đang được nhà nước, giới cải lương quan tâm. Vấn đề vực dậy sức sống, tím kiếm vị trí cho cải lương trên sân khấu đương đại thiết nghĩ cần có những chiến lược, kế hoạch và đặt ra những mục tiêu cụ thể. Điều này cần có sự phối hợp chặt giữa chẽ giữa những người làm quản lý văn hóa, hoạt động nghệ thuật, các trường Đại học, cơ quan nghiên cứu cùng đồng hành và sự quan tâm, hưởng ứng của xã hội, công chúng khán giả.

Đào tạo đội ngũ sáng tác, diễn viên: Đào tạo và xây dựng đội ngũ sáng tác, diễn viên cải lương là một trong những vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Cải lương trên mỗi chặng đường lịch sử đều được đánh dấu bằng những tên tuổi sáng chói tài năng như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu, Trần Hữu Trang… Vì thế, các nhà quản lý văn hóa, giới hoạt động nghệ thuật cải lương cần có kế hoạch đào tạo lực lượng sáng tác, diễn viên cải lương cho giai đoạn hiện nay và tương lai. Những người làm nghệ thuật cần có sự tinh nhạy trong việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng. Đào tạo đội ngũ sáng tác và diễn viên có năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp thực sự.

Các đơn vị hoạt động nghệ thuật, trường Đại học cần quan tâm và thực hiện thường xuyên, liên tục các chính sách ươm mầm và phát triển tài năng cải lương. Chủ động tím kiếm tài năng cải lương dưới nhiều hình thức (tổ chức các cuộc thi mở rộng, chú ý việc giới thiệu tài năng ở cấp cơ sở, đặc biệt từ mạng lưới các câu lạc bộ đờn ca tài tử - cải lương địa phương, trường học…). Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, đào luyện nhân tố triển vọng; đảm bảo cho họ cơ hội làm nghề và phát triển nghề nghiệp.

Đầu tư trọng điểm cho công tác đào tạo nguồn nhân lực kế thừa, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù loại hình sân khấu cải lương (mở rộng đối tượng tuyển sinh, ưu tiên năng khiếu nghệ thuật, nhất là giọng ca, sắc vóc…). Nhà nước, đơn vị quản lý văn hóa, hoạt động nghệ thuật cần chú trọng phương pháp “nghề truyền nghề” với sự tham gia giảng dạy, truyền đạt kinh nghiệm của những người làm nghề gạo cội; có chình sách cụ thể khuyến khích người học (cấp học bổng, hỗ trợ học phí, tạo cơ hội làm nghề…).

Ông Nguyễn Tấn Thành - nghệ danh Tấn Thành bộc bạch: “Lâu nay ở địa phương người học ca/ học đờn thường ít có cơ hội học theo hướng chuyên nghiệp, chủ yếu đi học “ngón nghề”, học theo lối gần gũi thầy trò. Theo tui, đối tượng này rất cần được quan tâm và chú ý phát triển” [PV: Ông Nguyễn Tấn Thành (61 tuổi), nghệ danh đờn cò, hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật Trà Vinh. Địa điểm PV: Quán Tài tử Hương Cau, phường 1 thị xã Trà Vinh. Thời gian PV: 10g15‟ ngày 30/12/2016]. 

Tinh thần này cũng được Nghệ nhân ưu tú của tỉnh Trà Vinh là ông Nguyễn Văn Dấu chia sẻ: “Việc đào tạo và nuôi dưỡng tài năng Đờn ca tài tử hay cải lương ở địa phương rất quan trọng, lâu nay người học chủ yếu vì đam mê, nhưng đôi lúc vì quá khó khăn họ thường bỏ ngang. Vì thế, nếu được quan tâm hỗ trợ kinh tế người học sẽ theo đuổi lâu dài” [PV: Ông Nguyễn Văn Dấu (Tám Dấu) (63 tuổi), Nghệ nhân ưu tú Đờn ca tài tử tỉnh Trà Vinh. Địa điểm PV: Câu lạc bộ Đờn ca tài tử - Cải lương thị trấn Càng Long huyện Càng Long tỉnh Trà Vinh. Thời gian PV: 9g45‟ ngày 29/12/2016].

Sân khấu học đường: Để tránh tính trạng công chúng trẻ tỏ ra thờ ơ, xa lạ với nghệ thuật cải lương, cần đưa sân khấu vào trường học. Chương trình đào tạo (ngành Ngữ Văn) cần thiết kế giảng dạy về nghệ thuật cải lương Nam Bộ, khuyến khích tái hiện không gian trình diễn trong các tiết học thực hành, sân khấu hóa tác phẩm cải lương. Tổ chức các cuộc thi với chủ đề Văn hóa - nghệ thuật dân tộc, Về nguồn… tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên khám phá, tìm hiểu về nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ.

Trường học tích cực mở rộng kết nối với các nhà hoạt động nghệ thuật, nghệ sĩ cải lương để có những buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề về cải lương, giới thiệu vở diễn cải lương kinh điển, trình diễn các trích đoạn cải lương trong trường học. Thông qua đó cung cấp những kiến thức cơ bản về cải lương, giá trị thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học ở các cấp về chủ đề nghiên cứu loại hình cải lương: nhằm tím kiếm các kết quả nghiên cứu, tư vấn chính sách phù hợp cho công tác quản lý, giáo dục, khai thác và phát huy giá trị văn hóa cải lương trong bối cảnh đương đại. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là cơ sở xây dựng các giáo trình, chuyên đề, tài liệu giảng dạy về nghệ thuật cải lương. Tiến hành điều tra xã hội học về thị hiếu, tâm lý thưởng ngoạn của công chúng đương đại (đặc biệt là công chúng trẻ, đối tượng học sinh, sinh viên), khán giả cải lương hiện nay nhằm định hướng hoạt động phù hợp cho các đơn vị cải lương.

Duy trì và phát triển phương thức cải lương truyền hình: Truyền hình là một trong những phương tiện thực hiện chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật cải lương. Cải lương muốn phổ biến rộng rãi, cần được truyền hình hỗ trợ nhiều mặt hơn. 

Ở các tỉnh vùng Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ hiện nay những vở cải lương truyền hình vẫn được đông đảo quần chúng truyền hình yêu mến, chờ đón. Đây là nơi lưu lại những tấm lòng còn yêu thích cải lương. Vì lẽ đó, cải lương truyền hình cần chăm chút về nội dung lẫn hình thức, nhằm lôi cuốn lòng yêu thích cải lương của thế hệ trẻ, thế hệ lớn hơn vốn đã yêu quý cải lương với tinh thần tri âm tri kỷ. Kịch bản cải lương truyền hình cần có nội dung hay mang tình hiện thực, đưa ra những vấn đề có tình xã hội đương đại. Có thể nói, nếu cải lương truyền hình thực hiện tốt, sẽ góp phần hiệu quả trong việc tìm lại chỗ đứng của sân khấu cải lương trong lòng khán giả.


Thông qua du lịch để quảng bá nghệ thuật sân khấu cải lương: Trong chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật cải lương, chúng ta cần có sự phối hợp hành động với ngành du lịch. Cần có những bài viết sắc sảo và xúc tích về cải lương Nam Bộ in trong cẩm nang du lịch Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng. Đồng thời, các tổ chức và công ty du lịch trong nước cần đầu tư thiết kế thời gian - không gian phù hợp, biểu diễn cải lương cho du khách thưởng ngoạn trong những chuyến du lịch tại địa bàn Nam Bộ, đặc biệt là các chuyến tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Thông qua du lịch, cải lương được quảng bá đến du khách trong nước và quốc tế.

4. Kết luận

Ngày nay, xã hội đang vận hành trong xu thế toàn cầu hóa, phát triển bền vững. Cải lương đang tồn tại trong một thế vận mới. Có thể nói, chưa bao giờ việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có nghệ thuật truyền thống lại trở nên bức thiết và cấp bách. Trong quá trình giao lưu với thế giới, chúng ta không chỉ tiếp thu những giá trị hiện đại, tiên tiến mà còn bổ sung, điều chỉnh một số nét của các giá trị truyền thống cho phù hợp với thời đại, và làm đa dạng thêm bản sắc của dân tộc. Nghệ thuật cải lương cũng không thể thể tách mình ra khỏi xu thế hội nhập, toàn cầu hóa và phát triển bền vững.

Khoa học kỹ thuật thế giới phát triển nhanh chóng, thông tin bùng nổ, các loại hình nghệ thuật hiện đại ra đời đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đa dạng khán giả. Văn hóa, nghệ thuật nước ngoài nhanh chóng du nhập vào nước ta với các loại hình văn học, ca nhạc, điện ảnh,… Cải lương đang phải đối diện với những khó khăn nhất định trước xã hội thời đại (lượng khán giả bị thu hẹp, đội ngũ sáng tác và diễn viên chưa đáp ứng được những kỳ vọng của khán giả...).

Nghệ thuật là một phần quan trọng của đời sống, nghệ thuật bồi đắp các giá trị Chân – Thiện -Mỹ trong mỗi con người, mỗi quốc gia. Nghệ thuật không chỉ là một chuyên ngành độc lập, mà còn là ngành gần trong nghiên cứu liên ngành văn học, văn hóa. Với định hướng bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật cải lương – loại hình kịch hát truyền thống của Nam Bộ, từ hướng tiếp cận liên ngành chúng tôi nhận thức được tính thích đáng và hữu ích trong việc gắn kết chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật cải lương trong bối cảnh giảng dạy và nghiên cứu ngữ văn hiện nay.

Chú thích:

[1] Barthes, Roland, 1986, The rustle of language, Richard Haward, Oxford: Basil Blackwell, page 72.

[2] Joe Moran, 2002, Interdisciplinarity, London and New York, Routledge, page 51-81.

[3] Tìm hiểu pháp luật, 2008, Luật Di sản văn hóa, Tp. HCM, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.7.


Tài liệu tham khảo và trích dẫn:

1. Hoài Anh 1998: Văn học Nam Bộ từ đầu đến giữa thế kỷ XX (1900-1945). Tp HCM, NXB Tp Hồ Chí Minh.

2. Nguyễn Thị Trúc Bạch 2014: Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Cơ sở “Cải lương trong đời sống văn hóa xã hội ở Nam Bộ hiện nay”. Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.

3. Barthes, Roland 1986: The rustle of language, Richard Haward, Oxford: Basil Blackwell, page 72.

4. Trần Trọng Đăng Đàn 2011: Kịch Việt Nam Thưởng thức & Bình luận. Tp HCM, NXB Văn hóa – Văn nghệ.

5. Joe Moran 2002: Interdisciplinarity, London and New York, Routledge, page 51-81.

6. Châu Mỹ 2014: Hoàng Song Việt - Ai dũng cảm mới theo đuổi cải lương thời nay.

7. Huỳnh Công Tín (chủ biên) 2016: Văn hóa cải lương Nam Bộ - Từ đờn ca Tài tử đến sân khấu cải lương, từ lý luận đến thực tiễn. Tp HCM, NXB Văn hóa – Văn nghệ.

8. Huỳnh Quốc Thắng 2011: “Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật ca nhạc tài tử và sân khấu cải lương”, Tạp chí Khoa học xã hội tại Tp. HCM, số 2.

9. Phạm Trí Thành 2011: Nghệ thuật sân khấu cải lương kế thừa và biến đổi. Hà Nội, NXB Văn học – Trường ĐH Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

10. Sĩ Tiến 1984: Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương. –Tp.HCM, NXB Tp.Hồ Chí Minh.

11. Tím hiểu pháp luật 2008: Luật Di sản văn hóa. Tp. HCM, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

12. Tuấn Giang 2006: Nghệ thuật cải lương. Tp HCM, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh.


 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...