Thứ Hai, 8 tháng 4, 2024

Quê hương xứ Nghệ trong thơ Nguyễn Trọng Tạo (ThS. Nguyễn Thị Hương Lài)

Sinh ra và lớn lên ở Diễn Châu (Nghệ An), Nguyễn Trọng Tạo yêu tha thiết quê mình. Đây là vùng đất thiêng liêng, huyền thoại vừa mang tính lịch sử vừa giàu truyền thống văn hóa. Mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều con người khổng lồ, nhiều anh hùng lừng danh, nhiều vị vua sáng nghiệp và cũng không ít những nhà văn, nhà thơ kì tài.

Không biết từ bao giờ, Nguyễn Trọng Tạo đã yêu thương, gắn bó với những nét đơn sơ, mộc mạc chốn thôn dã, với câu ví dặm ngọt ngào, đằm thắm quê mình. Không gian bình yên của những cánh đồng lúa, những con đường quanh co bên lũy tre làng … là người bạn chứng kiến quá trình trưởng thành của nhà thơ xứ Nghệ. Mảnh đất thơ ấu ấy đã trở thành một thứ “mộ Tổ” mà dù đi đâu, ở đâu, Nguyễn Trọng Tạo cũng khát khao tìm về.

Nguyễn Đăng Điệp từng nhận xét về Nguyễn Trọng Tạo: “Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã tạo ra một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi, sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật…”. Đôi chân “ham chơi” đã đưa Nguyễn Trọng Tạo đi khắp mọi nẻo đường của đất nước và nhiều vùng đất xa xôi tận châu Âu, châu Mỹ, nhà thơ thả hồn phiêu diêu cùng trời đất để rồi nhận ra mình mãi là “kẻ nhà quê lưu lạc”: ngác ngơ giữa phố / một thằng nhà quê / nhớ thương mộ tổ / biết bao giờ về (Lưu lạc).

Ham chơi, thích phiêu dạt nhưng Nguyễn Trọng Tạo vẫn giữ riêng cho mình một cõi nhớ - cõi nhớ về làng quê bình dị với hình ảnh mẹ già lầm lũi, cô em gái thôn quê đằm thắm, đáng yêu hay những cậu bé chăn trâu thả diều thổi sáo… Nhiều bài thơ của ông mang người đọc trở về chốn làng quê với những mối tình chân quê đẹp đẽ, ngọt ngào: cho tôi xây những nhịp cầu / để em chẳng phải sông sâu lụy đò / … / tôi về đồng cạn đồng sâu / may ra tát nước chung gàu cùng em (Thơ gửi một người không quen). Nương thân chốn thị thành, ông luôn khát khao được ôm ấp, vỗ về trong bàn tay tảo tần của người mẹ yêu kính, được trở về con sông Bùng thuở ấu thơ để tắm mình trong đó: Ơi Hêraclit / mỗi lần tắm thì con sông đã khác / nhưng sông quê vẫn chỉ một sông Bùng / mỗi lần nhớ tóc tôi thêm sợi bạc / nhưng tình quê vẫn chỉ một thủy chung (Gửi Hêraclit).

Dường như song song tồn tại bên cạnh một con người hiện đại, phóng khoáng, đầy tự tin, Nguyễn Trọng Tạo còn là một anh chàng nhà quê nặng nợ với những kỉ niệm xưa cũ. Nhà thơ khẳng định chất truyền thống, thôn dã của mình không giấu giếm: anh là cộng rơm vàng dưới bánh xe em đó / cộng rơm vàng dập nát vẫn vàng rơm (Bản sắc). Hơn ai hết, Nguyễn Trọng Tạo ý thức được “giữa bao còn mất vui phiền” quê hương vẫn luôn ngự trị trong những nỗi nhớ không tên thôi thúc nhà thơ tìm về để một lần nữa được đắm mình trong “điệu hát ru thôn dã”, được hít thở cái “khói sương tinh khiết của ngàn đời truyền thống”.

Ai cũng có một miền quê để nhớ, để thương, để khi đi xa lại khát khao trở về. Nỗi nhớ quê đôi khi đơn giản lắm. Đó là nỗi nhớ về một dòng sông, một bờ tre, ruộng lúa, hay một đống rơm vàng, một tiếng gà trưa: Quê cát những thân tre thắp lửa / Mỗi trưa hè đẩy cửa nhìn ra / Cây rơm nắng vàng hươm sắc lúa / Một vùng trưa chan chứa tiếng gà (Quê cát). Dù có đi đâu, về đâu, Nguyễn Trọng Tạo vẫn hướng về quê hương, nguồn cội, về những gì thân thuộc nhất trong thẳm sâu lòng người: Nghìn năm hay vạn năm xưa / muối vừng cơm nắm lon dưa vại cà / món quê thơm thảo mặn mà / vẫn len lỏi chốn phồn hoa phố phường (Món quê). Những món ăn thôn dã dường như luôn để lại những ấn tượng không thể phai mờ: Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Á Nam Trần Tuấn Khải).

Hình như tất cả những gì thuộc về quê hương đều có khả năng gợi nhớ kì lạ, có thể kéo những tâm hồn xa quê trở về nguồn cội. Đôi lúc chỉ một nhánh cỏ may cũng đủ làm hồn người con lưu lạc xuyến xao: Cỏ may không hẹn mà xanh / tìm ta khâu vá cho lành nhớ thương / ngang trời hoa cỏ đẫm sương / loanh quanh sân thượng mà thương cánh đồng (Cỏ may trên sân thượng). Thôi Hiệu đời Đường đi qua lầu Hoàng Hạc, nhìn cảnh đẹp nơi đây mà chạnh lòng nhớ quê “Nhật mộ hương quan hà xứ thị / Yên ba giang thượng xử nhân sầu” (Hoàng Hạc lâu), còn Nguyễn Trọng Tạo vô tình nhìn thấy một bông cỏ may lạc trên sân thượng mà xốn xang kí ức một thời.

Hình ảnh quê hương trong thơ Nguyễn Trọng Tạo có khi gần gũi, rõ ràng, có lúc lại xa xôi, mờ ảo. Những kỉ niệm của thời niên thiếu đọng sâu trong tâm hồn người thi sĩ đa tình, đa cảm này mà chẳng có sức mạnh nào có thể làm nó phai mờ. Cuộc sống lắm thăng trầm nhưng kí ức và tấm lòng yêu quê vẫn luôn vẹn nguyên, tràn đầy. Nếu thôn Đoài, thôn Đông, hàng cau, giàn giầu… ẩn sâu trong hồn thơ Nguyễn Bính – Nhà anh có một giàn giầu / Nhà em có một hàng cau liên phòng (Tương tư) thì với Nguyễn Trọng Tạo quê hương gắn với nụ tầm xuân xanh thắm, với hoa cải vàng tươi bình dị và những kỉ niệm ngọt ngào của tình yêu đôi lứa: Đất nước ta yêu bờ ao giếng nước / Dây gàu đứt nối em cười nhìn anh / Nụ tầm xuân xanh / Sen hồng sen trắng / Bông gạo đỏ cờ, mồng tơi tím thẩm / Anh yêu hoa cải vàng – hoa cải vườn em (Tình ca người lính).

Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo, người đọc thấy có cái ấm áp, thân thuộc của khói rơm, cái êm ả, dịu dàng của con sông quê và có cả cái phóng khoáng, giản dị, chân thành của những cuộc đời bần nông lam lũ. Từ khi còn là anh bộ đội rong ruổi trên chiến trường, Nguyễn Trọng Tạo đã yêu tha thiết những gì thuộc về truyền thống, thuộc về bản sắc dân tộc: giọng hò mái đẩy thì cao / điệu ru Đồng Tháp thì vào mênh mông / câu ca quan họ bềnh bồng / ví đò đưa lại nhớ sông, nhớ thuyền … (Lời ru của người đứng tuổi). Càng lớn tuổi, nỗi khắc khoải tình quê càng trở nên da diết trong ông: người như con tốt sang sông / chìm trong phố thị còn trông quê nhà (Cỏ may trên sân thượng).

Viết về quê hương không chỉ để yêu, để nhớ, Nguyễn Trọng Tạo còn hướng đến nói lên những triết lí về sự đổi thay. Thơ Nguyễn Trọng Tạo không thiên về tả cảnh quê như thơ Bàng Bá Lân, Anh Thơ, cũng không nói nhiều về tình quê như Nguyễn Bính mà chủ yếu là niềm đau đáu, nhớ thương về những giá trị truyền thống. 

Gắn bó với quê hương, nguồn cội nên nhà thơ thấy xót xa khi những giá trị tưởng chừng như vĩnh hằng lại bị mai một trước bộn bề của cuộc sống hiện đại. Nguyễn Trọng Tạo tiếc nuối những vẻ đẹp xưa cũ: Ước chi em mặc tứ thân / nụ cười che nón ba tầm ghé chơi / ước chi đến hẹn người ơi / con đò lúng liếng mắt cười chìm đâu (Thơ nhờ em gửi về Nguyễn Bính). Nhưng dù có tìm, có kiếm, nhà thơ cũng chỉ có thể thở dài trước sự đổi thay: em giờ áo soọc áo phông / ta như một gã nhà nông cuối mùa (Thơ nhờ em gửi về Nguyễn Bính). Cái tôi trữ tình Nguyễn Trọng Tạo nhận rõ “bao giờ cho tới ngày xưa” (Nguyễn Duy) nên chỉ có thể tiếc nuối những cái đẹp của thời quá vãng. Nhìn thấy những giá trị truyền thống bị đánh mất nhưng không có cách nào cứu vãn, nhà thơ chỉ còn biết xót xa…

Bởi Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi / Quê hương nếu ai không nhớ / Sẽ không lớn nổi thành người (Quê hương - Đỗ Trung Quân) cho nên mỗi nhà thơ đều có những bài thơ hay viết về đất mẹ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Viết về quê hương chắc hẳn các nhà thơ không chỉ muốn bày tỏ tình cảm của mình với nơi “chôn rau cắt rốn”. Thơ Tế Hanh chân thành, đằm thắm với tình yêu dành cho con sông quê hương; thơ Trần Hữu Thung đậm chất ví dặm của mảnh đất miền Trung nắng gió; thơ Tố Hữu thấm đượm tình quê với chất dân ca ngọt ngào và những làn điệu mái nhì, mái đẩy xứ Huế. Tất cả đâu chỉ làm tỏa hương cho vùng đất quê mình mà còn để khơi dậy tình yêu xứ sở vốn đọng sâu trong tâm thức mỗi người dân Việt. Nguyễn Trọng Tạo cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Đề tài viết về quê hương có thể không phải là phần hay nhất trong đời thơ của ông nhưng nó mãi là những vần thơ đầy lôi cuốn và gây xúc động đối với người đọc vì một cái tôi trữ tình thiết tha với truyền thống, với nguồn cội.

Nguyễn Thị Hương Lài


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...