Thứ Năm, 26 tháng 9, 2024

NGƯỜI VIẾT VÀ NGƯỜI ĐỌC (trích đoạn) - PGS. TS. Nguyễn Văn Dân

Việt Nam từ cuối thế kỷ XX cũng đã rất quan tâm đến vấn đề tiếp nhận văn học. Đã có nhiều bài báo và công trình đề cập đến vấn đề này mà tôi không cần phải nhắc lại ở đây. Thời gian vừa qua, Việt Nam lại càng quan tâm đến người đọc khi không ít lần đã có nhiều người lên tiếng về “văn hoá đọc” thấp kém của dân ta. Thuật ngữ “văn hoá đọc” xuất hiện khá nhiều trên báo chí và trên các phương tiện truyền thông, kèm theo lời kêu gọi về xây dựng và phát triển “văn hoá đọc”. 

Nhưng, quan sát trên thế giới, tôi thấy các trường phái nghiên cứu người đọc không đặt ra cho mình cái mục tiêu hô hào “văn hoá đọc” đó, mà họ nghiên cứu người đọc để phục vụ cho “văn hoá viết”. Ví dụ trường phái mỹ học tiếp nhận khi nghiên cứu sự thay đổi tầm đón nhận của người đọc là họ muốn khuyến khích người viết phải luôn có ý thức sáng tạo những giá trị nghệ thuật mới để phục vụ sự phát triển con người của người đọc.

Ngoài ra, tình hình hiện nay đã có những thay đổi căn bản so với thời từ thế kỷ XX về trước. Công nghệ thông tin đã đem “người xem”, “người nghe” bổ sung cho “người đọc” thuần tuý. Hay nói một cách khác, “người đọc” hiện đại ngày nay còn phải được hiểu đó là cả “người xem”, “người nghe”. Đó là quy luật phát triển tự nhiên của văn minh chứ không phải là sự xuống cấp của văn hoá đọc. 

Thứ hai, nếu có sự thờ ơ của người đọc với sách thì trước hết ta phải xem lại “văn hoá viết” chứ không phải đổ lỗi cho văn hoá đọc. Trong lĩnh vực văn nghệ, năm 1987, khi Nguyễn Minh Châu viết bài báo “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, ông đã tuyên bố về ba vấn đề cơ bản của sáng tác văn nghệ: Sáng tác thế nào? Sáng tác cái gì? Và sáng tác cho ai? Cụ thể ý bài báo là: Văn nghệ phải có tự do sáng tác; văn nghệ phải phản ánh đúng bộ mặt thật của hiện thực chứ không minh hoạ cho đường lối (tức là nó phải phản ánh “cái đang tồn tại” chứ không phải “cái phải tồn tại”); văn nghệ phải sáng tác cho dân chúng chứ không sáng tác cho người lãnh đạo. Vậy phải xem lại xem văn học của chúng ta đã thực sự làm tốt điều này chưa, hơn là hô hào thúc đẩy văn hoá đọc và đổ lỗi cho người đọc.

Thực tế, văn hoá viết của chúng ta vẫn đang có nhiều vấn đề về chất lượng nghệ thuật, về đối tượng sáng tác và đối tượng phục vụ. Vẫn còn có không ít những tác phẩm viết về “cái phải tồn tại” và viết “cho lãnh đạo” (tiêu đề báo Văn nghệ của Hội Nhà văn vẫn ghi “Vì chủ nghĩa xã hội” chứ không ghi “Vì nhân dân”); vẫn còn có không ít những tác phẩm nhạt nhẽo; không ít bài phê bình không có thông tin hoặc có những thông tin sai lệch; có không ít những văn bản viết sai ngay cách diễn đạt tiếng Việt, thậm chí sai ngay từ đầu đề bài viết (“Á hậu bình thản khai nhận nhiều lần bán dâm ngàn USD cho khách ngay tại trụ sở công an”, “Điện ảnh Việt Nam – sự đan xen giữa hiện thực và quá khứ”; “phản tỉnh” thì viết thành “phản cảm”, “phản ánh” thì viết thành “ánh phản”...). Gặp những bài viết như thế, người đọc không thể và không muốn đọc hết văn bản.

Nói riêng về diễn đạt ngôn ngữ của “văn hoá viết”, ta nên biết rằng việc sử dụng ngôn ngữ không chỉ vận dụng tri thức ngôn ngữ học, mà nó còn cần phải vận dụng cả tri thức văn hoá lịch sử không những của dân tộc mà còn của cả thế giới. Ví dụ như ngày nay ta thường nói “Nhà Nguyễn đã có công mở cõi đất nước”, và câu thơ được nhiều người ưa thích chính là câu “Từ thuở mang gươm đi mở cõi” của Huỳnh Văn Nghệ. Từ đó mà có nhà văn đã đặt đầu đề cho một cuốn tiểu thuyết lịch sử của mình là “Nguyễn Hoàng người mở cõi”. 

Nhưng “mở cõi” là một từ sai lệch lịch sử. Không ai đi mở cõi lại mang gươm! Nên biết rằng trên thế giới trước đây, dưới thời phong kiến cát cứ, việc nước mạnh đánh chiếm nước yếu đã trở thành một quy luật lịch sử chính trị. Lúc đó, việc đánh chiếm này được gọi là “chinh phục”; và những ông vua của một vương quốc mạnh đó được gọi tên là “Người Chinh Phục”, như William (hay Guillaume) Người Chinh Phục (người “Anh gọi là William the Conqueror”; người Pháp gọi “Guillaume le Conquérant”), Thành Cát Tư Hãn Người Chinh Phục, Timur Lang Người Chinh Phục,... Chỉ đến khi có Hiệp định Westfalen (Đức) năm 1648 giải thể Đế quốc Thánh La Mã - German, cho phép các dân tộc có chủ quyền quốc gia để thành lập các “quốc gia dân tộc” (tiếng Anh: “nation-state”), thì mới chấm dứt cách gọi “chinh phục” và xuất hiện từ “xâm lược” thay cho nó. 

Ở Việt Nam, thời đại Nguyễn Hoàng (sinh năm 1525 - mất 1613) cũng diễn ra trước năm 1648, nên những việc đánh chiếm đất đai của các quốc gia khác lúc đó vẫn nằm trong “quy luật chinh phục” của thế giới. Vì thế ta không nên gọi công việc đó là “mở cõi”, nhất lại là “mang gươm đi mở cõi”. Nói một cách nghiêm cẩn thì “mở cõi” không phải là một thuật ngữ khoa học, nó chỉ là một uyển ngữ của phép tu từ dùng để né tránh sự thật. Chúng ta nên theo thế giới gọi đó là “chinh phục”, là “Nguyễn Hoàng Người Chinh Phục”. Thực tình, những người đọc có tri thức văn hoá lịch sử thế giới rất dễ bị phản cảm ngay từ đầu trước câu văn “mở cõi”, và hiển nhiên nó sẽ hạn chế tâm lý tiếp nhận trong việc đọc của họ. (Bản thân tôi, tôi không bao giờ đọc tác phẩm nào có hai chữ “mở cõi” ngay trong đầu đề của nó).

Vậy, phải hiểu “văn hoá đọc” chính là văn hoá phát triển tinh thần con người và đồng thời nó còn có mục đích phát triển “văn hoá viết”, nó mang trong mình mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa người viết và người đọc. Như vậy, để phát triển “văn hoá đọc”, người viết phải hiểu người đọc và bối cảnh lịch sử để điều chỉnh cách viết của mình, phải có tri thức văn hoá - lịch sử vững vàng để sáng tạo ra được những sản phẩm có chất lượng và giá trị có khả năng thu hút văn hoá đọc; từ đó mới có thể cạnh tranh và đồng hành được cùng với các phương tiện sáng tạo nghe nhìn khác trong thế giới số hiện nay...

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...