An Thái là thị tứ có vai trò quan trọng đối với tỉnh Bình Định từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX. Tuy nhiên do thị tứ đã suy tàn, lại cách ngày nay khá xa, nguồn tư liệu khan hiếm. Vì vậy nhận thức về thị tứ này còn hạn chế, nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ.
Trong khuôn khổ của tham luận tọa đàm, bài viết tập trung làm rõ thị tứ An Thái từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX ở các mặt: Địa danh An Thái và thị tứ An Thái, yếu tố tác động sự hình thành và phát triển của thị tứ An Thái, thời gian hình thành thị tứ An Thái, biểu hiện về kinh tế của thị tứ An Thái, vai trò và đặc điểm của thị tứ An Thái. Thông qua đó góp phần nhận thức sâu sắc hơn vị trí của thị tứ An Thái trong tiến trình phát triển của An Nhơn và Bình Định.
1. Địa danh An Thái và thị tứ An Thái
1.1. Địa danh An Thái
An Thái (cũng gọi là Yên Thái, chữ Hán: 安泰; 安 là yên, an, yên ổn, vững chắc, ổn định, bình yên; 泰 là bình an, bình yên, yên ổn) là địa danh có từ lâu đời, đơn vị hành chính thuộc quyền quản lý của nhà nước phong kiến. Địa danh An Thái được đề cập vào nửa sau thế kỷ XVIII: Theo “Đại Nam liệt truyện”, giáo Hiến “trốn vào Quy Nhơn ngụ ở ấp An Thái”[1]; “An Thái” còn được Nguyễn Huy Quýnh liệt kê vào Bản đồ vẽ về thành Xà Bàn (tức thành Đồ Bàn), cửa biển Nước Mặn trong sách “Quảng Thuận đạo sử tập”[2] (sách được cho là biên soạn khoảng từ năm 1775 đến năm 1785). Đầu thế kỷ XIX, An Thái lại được nói đến trong tập địa bạ Bình Định năm 1815, bao gồm: Thôn An Thái và thôn An Thái Trung, 2 thôn này đều ở thuộc[3] Thời Đôn (Thì Đôn), huyện Tuy Viễn[4], trấn Bình Định[5] (sau là tỉnh Bình Định). Địa danh “Phố An Thái” được đề cập đến trong “Châu bản triều Nguyễn” năm 1830[6].
Căn cứ vào tư liệu địa bạ, đến năm 1839 toàn bộ đơn vị “hành chính trung gian” ở Bình Định như “xã”, “thôn”, “phường” đã bị xóa bỏ, các “ấp” đổi thành “thôn”. Theo địa bạ Bình Định năm 1815, thôn An Thái có ấp Mỹ Hòa, thôn An Mỹ có ấp Thắng Công, thôn An Thái Trung có ấp Hòa Mỹ. Đối chiếu địa bạ, năm 1839, ấp Mỹ Hòa đổi thành thôn Mỹ Thạnh, ấp Thắng Công đổi thành thôn Thắng Công, ấp Hòa Mỹ đổi thành thôn Hòa Mỹ[7]. Như vậy, đến năm 1839, An Thái không còn là đơn vị hành chính của nhà nước phong kiến, nên đã không được đề cập tới trong tư liệu địa bạ. Đến cuối thế kỷ XIX, thôn Thắng Công, thôn Mỹ Thạnh và thôn Hòa Mỹ (cả 03 thôn này đều thuộc tổng Nhơn Nghĩa, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định) được liệt kê trong sách “Đồng Khánh dư địa chí”[8] và tên gọi 03 thôn này vẫn được duy trì đến ngày nay.
Hiện nay, xã Nhơn Phúc có 08 thôn: An Thái, Mỹ Thạnh, Thắng Công, Hòa Mỹ, Nhơn Nghĩa Đông, Nhơn Nghĩa Tây, Phụ Ngọc, Thái Thuận. Thôn An Thái hiện nay mới được lập năm 1994, trên cơ sở tách một phần địa giới của thôn Mỹ Thạnh. Như vậy, thôn An Thái hiện nay là một phần địa giới của thôn An Thái (thôn Mỹ Thạnh) xưa.
Mặc dù trong một thời gian dài (khoảng từ năm 1839 đến 1994), An Thái không còn là đơn vị hành chính của nhà nước, song địa danh An Thái vẫn được Nhân dân, chính quyền sử dụng gắn liền với các tên gọi: Phố An Thái, chợ An Thái, thị tứ An Thái, võ An Thái, bún Song thần An Thái, chùa Bà ở An Thái... Ví như trong “Đại Nam nhất thống chí” (bản Tự Đức) vẫn gọi là “chợ An Thái”[9], đến “Đại Nam nhất thống chí” (bản Duy Tân) gọi là “chợ Mỹ Thạnh”, nhưng nói rõ hơn: “Tục danh chợ An Thái”[10].
1.2. Thị tứ An Thái
“Thị tứ” là một khái niệm phức tạp, mới được dùng nhiều trong những năm gần đây khi có chủ trương phát triển kinh tế thị trường. Thị tứ xưa và nay có nhiều sự thay đổi về quy mô, mức độ phát triển, cho nên hiểu khái niệm thị tứ xưa và nay chỉ mang tính tương đối. Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về thị tứ, thông qua quá trình tìm hiểu thị tứ xưa và nay, tôi mạnh dạn đưa ra một số nhận xét về thị tứ xưa như sau.
+ Thị tứ là tụ điểm buôn bán nhỏ có tính địa phương hay mang tính tiểu khu vực. Khác với đô thị là những điểm buôn bán có tính toàn quốc và khu vực. Giữa thị tứ và đô thị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bản thân thị tứ có thể phát triển thành đô thị. Sự khác nhau giữa đô thị và thị tứ là sự khác nhau về mức độ phát triển và tầm vóc.
+ Vì mang tính địa phương, thị tứ thường gắn chặt với làng xã, nằm trong kết cấu làng xã, chịu sự kiểm soát của bộ máy chính quyền làng xã. Đô thị có cơ chế quản lý riêng theo kiểu đô thị, mà đứng đầu thường là vị Thị trưởng, Phố trưởng…
+ Kết cấu kinh tế của thị tứ là sự gắn chặt của ba yếu tố nông-công-thương đậm nét. Trên cơ sở nông nghiệp phát triển, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp ở đây được mở rộng hơn. Trong đó thương nghiệp được xem là tiêu chí cơ bản để phân biệt thị tứ với các vùng nông thôn khác. Sự phát triển của thương nghiệp được biểu hiện ở nhiều mặt: Chợ, bến, các khu phố buôn bán cố định, hoạt động trao đổi hàng hóa...
+ Về xã hội, do sự khác biệt về kết cấu kinh tế, thị tứ chứa đựng nhiều yếu tố khác với làng xã cổ truyền như: Kết cấu xã hội, các tổ chức tự quản…
Thị tứ An Thái xưa không phải là đơn vị hành chính của chính quyền phong kiến, địa giới của nó cũng không nhất thiết đồng nhất với thôn (ấp) An Thái ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Thị tứ An Thái là cách gọi nhằm nhấn mạnh mức độ phát triển về thương nghiệp của vùng đất An Thái, để phân biệt với các vùng xung quanh. Theo khảo sát, vùng đất trung tâm của thị tứ An Thái đầu thế kỷ XIX thuộc thôn An Thái (ấp Mỹ Hòa, sau đổi thành thôn Mỹ Thạnh) và một phần ấp Thắng Công (sau đổi thành thôn Thắng Công), tổng (thuộc) Thời Đôn (sau là tổng Nhơn Nghĩa), huyện Tuy Viễn, trấn (tỉnh) Bình Định; nay phần lớn thuộc địa giới của thôn An Thái, thôn Mỹ Thạnh, một phần thôn Thắng Công, xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Vùng phụ cận bao gồm các thôn khác thuộc xã Nhơn Phúc hiện nay.
2. Yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của thị tứ An Thái
Về giao thông: An Thái xưa có điều kiện giao thông thuận lợi, nằm bên cạnh dòng sông Tam Huyện (sông Côn) là huyết mạch giao thông đường thủy quan trọng ở Nam Bình Định, nối liền vùng biển và đầm Thị Nại với vùng đồng bằng, trung du và miền núi ở Nam Bình Định. Từ An Thái, theo đường thủy có thể dễ dàng ngược lên Phú Phong, bến Trường Trầu, nguồn Phương Kiệu (nguồn Cầu Bông), xuôi về thành Hoàng Đế (thành Đồ Bàn), phủ thành Quy Nhơn, thành Bình Định, thương cảng Nước Mặn, đô thị Quy Nhơn...
An Thái xưa còn là đầu mối giao thông đường bộ quan trọng. Tuyến đường bộ thứ nhất, từ đường Cái Quan (đường Thiên Lý, tiền thân của quốc lộ 1A ngày nay), thành Bình Định, qua An Thái lên Kiên Mỹ, Tây Sơn Thượng đạo (Gia Lai), đường bộ này có thể xem là tiền thân của quốc lộ 19A ngày nay. Tuyến đường bộ thứ hai, từ thành Hoàng Đế, qua An Thái lên nguồn An Tượng (thủ sở ở địa phận thôn Thọ Lộc, xã Nhơn Thọ, thị xã An Nhơn ngày nay). Như vậy, An Thái nằm ở vị trí cửa ngõ quan trọng về giao thông của vùng trung du, miền núi Nam Bình Định và vùng Bắc Tây Nguyên.
Về điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên ở An Thái khá thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp. An Thái xưa ở thuộc Thời Đôn, là một trong ba thuộc có đất đai màu mỡ, kinh tế phồn thịnh của phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Đinh), được sử gia phong kiến ca ngợi. Theo Lê Quý Đôn, 5 thuộc Thì Tú, Thì Đôn, Thì Hòa, Hà Bạc, Hà Nghiêu ruộng đất rộng rãi, màu mỡ[11]. Sang Thế kỷ XIX, Quốc Sử quán triều Nguyễn lại khẳng định: Ba thuộc (Thì Đôn, Thì Hòa, Thì Tú), ruộng màu mỡ rộng rãi, gọi là “Tiểu Nông Nại” (Tiểu Nông Trại)[12].
Về chính trị - xã hội: An Thái khá gần các thủ phủ, trung tâm chính trị của phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) như: Phủ thành Quy Nhơn, thành Hoàng Đế, thành Bình Định. Thời Nguyễn, An Thái còn là nơi đặt lỵ sở, trường học của phủ An Nhơn.
An Thái là vùng đất được khai phá khá lâu đời. Khoảng từ đầu thế kỷ XVII, cư dân người Việt đã khai phá vùng đất này. Họ Hồ, họ Nguyễn, họ Trần, Trương, Phạm, Bùi… là những dòng họ vào đây lập nghiệp sớm nhất. Thế kỷ XVIII-XIX, An Thái trở thành một vùng cư dân đông đúc. Dân cư đông đúc, là nhân tố quan trọng để lập chùa, chùa Bảo Quang ở An Thái được lập ra năm 1752... Đến đầu thế kỷ XIX, diện tích thổ cư (đất ở) của ấp Mỹ Hòa (thôn Mỹ Thạnh) trong địa bạ là 2,6 mẫu[13], Mỹ Hòa là ấp có diện tích thổ cư lớn hơn so với nhiều ấp khác của thuộc Thời Đôn. Cư dân của An Thái lúc bấy giờ có cả người Việt và người Hoa, sự có mặt của người Hoa là nhân tố xã hội quan trọng đưa đến sự hình thành và phát triển của thị tứ An Thái.
3. Thời gian hình thành thị tứ An Thái
Đến nay, chưa tìm thấy các nguồn sử liệu ghi chép về thời điểm hình thành của thị tứ An Thái. Việc xác định thời gian ra đời của thị tứ xưa không đơn giản, bởi nó không phải là đơn vị hành chính của nhà nước, tiêu chí cũng không cụ thể. Về tiêu chí thương nghiệp của thị tứ An Thái, đến nay đã có các tài liệu ghi chép về chợ, khu phố của thị tứ An Thái ở đầu thế kỷ XIX, vì vậy có thể khẳng định, khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, An Thái đã là thị tứ phát triển. Vấn đề đặt ra là thị tứ An Thái hình thành ở thế kỷ XVII, XVIII hay đầu thế kỷ XIX?
Trên cơ sở khảo sát các thị tứ ở Bình Định, các tác giả Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân xác định: Khoảng thời gian xuất hiện của một số thị tứ ở Bình Định, trong đó có thị tứ An Thái là vào các thế kỷ XVII-XIX[14]. Trong báo cáo khoa học “Lễ hội đổ giàn ở An Thái” nhóm nghiên cứu xác định thị tứ An Thái ra đời vào thế kỷ XVIII[15]. Nguyễn Xuân Nhân trong công trình “Cảng thị Nước Mặn thuở phồn vinh” cho rằng, trong thời kỳ phồn thịnh của Nước Mặn (thế kỷ XVII giữa thế kỷ XVIII) thì An Thái, Đập Đá, Gò Găng… đều là “vệ tinh” của Nước Mặn[16]. Mặc dù đã có các kết quả nghiên cứu trên, tuy nhiên chưa tìm thấy các tài liệu ghi chép về chợ, khu phố của An Thái ở thế kỷ XVIII. Vì vậy việc xác định thời gian ra đời của thị tứ An Thái trước thế kỷ XIX chỉ mang tính đoán định.
Những nguồn tư liệu khác cho thấy:
Thứ nhất, thế kỷ XVIII, An Thái đã là một vùng đất có kinh tế thương nghiệp phát triển. Nhờ vậy An Thái đã thu hút thương khách tới buôn bán và lập nghiệp, thương nhân Nguyễn Nhạc thường lui tới buôn bán hay thầy giáo Hiến chọn mảnh đất An Thái lập nghiệp là những minh chứng điển hình.
Thứ hai, sự hình thành của thị tứ An Thái không thể không nói tới thời gian người Hoa di cư tới đây, bởi “sự hình thành thị tứ An Thái đồng thời với sự có mặt của người Hoa”[17], “người Hoa chính là một trong những lực lượng tiên phong góp phần vào quá trình hình thành và phát triển của thị tứ An Thái”[18]. Người Hoa (nay là người Việt gốc Hoa) đến định cư ở An Thái vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, sau một thời gian tạm cư ở Nước Mặn, tiêu biểu có họ Lâm, họ Quách. Theo gia phả của họ Lâm (Lâm Thanh), thuỷ tổ của họ này là Lâm Liên Quang, quê ở trang Tân An Tam Đô, huyện Đông Khê, phủ Thương Châu, sang Việt Nam giữa thế kỷ XVII. Tính đến thế hệ cháu của Lâm Kỳ Ngoạn (đời thứ 12) họ Lâm đã trải qua 14 đời ở Việt Nam. Từ đường của họ Lâm do Lâm Tăng Thọ lập ở An Thái năm 1862 nay vẫn còn.
Theo gia phải họ Lâm (Lâm Duy) chép thuỷ tổ của họ này là Lâm Văn Hanh, người làng Khê Vĩ, Tam Thuận Lục Đô, huyện Nam An, phủ Truyền Châu, tỉnh Phúc Kiến, đến Việt Nam năm Vĩnh Trị thứ 4, đời nhà Lê (1680). Lúc đầu họ Lâm cư trú tại Nước Mặn, sau một thời gian đến An Thái lập nghiệp.
Thứ ba, thế kỷ XVIII thế lực của người Hoa ở An Thái đã khá mạnh. Sau khi tới An Thái, người Hoa mở tiệm buôn, lập phố đưa đến sự phồn thịnh cho các hoạt động thương nghiệp ở đây. Nhờ buôn bán phát đạt, từ thế kỷ XVIII, người Hoa ở An Thái đã có các thương nhân giàu có, họ thuê người khai phá đất để sản xuất nông nghiệp hoặc mua đất, trở thành những điền chủ. Họ Lâm (Thanh) có nhiều ruộng đất, do vậy trở thành mục tiêu tấn công của cuộc khởi nghĩa chàng Lía[19]. Cũng nhờ có thế lực và lực lượng đông đảo, người Hoa đã lập ra chùa Bà (năm 1760), chùa Bảo Quang (1752) làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng.
Tóm lại, tuy sử liệu chưa nhiều, căn cứ vào mức độ phát triển của An Thái, sự có mặt và hoạt động của người Hoa ở đây, có thể khẳng định, thế kỷ XVIII, An Thái đã phát triển với tư cách là một thị tứ.
4. Biểu hiện kinh tế của thị tứ An Thái từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX
Kinh tế thương nghiệp: Nếu như tiểu thủ công nghiệp là hoạt động kinh tế đặc trưng của thị tứ Đập Đá thì thương nghiệp được xem là nét nổi bật của An Thái xưa. Hoạt động này còn để lại dấu ấn đậm nét ở những vết tích của bến, chợ và khu phố (xem hình Sơ đồ phố- bến- chợ thị tứ An Thái xưa).
Chợ An Thái xưa thuộc thôn Mỹ Thạnh, ở vị trí tiếp giáp của 2 thôn Thắng Công và Mỹ Thạnh. Chợ An Thái từng là chợ phát triển sầm uất, ở thế kỷ XIX trở thành một trong những chợ lớn của Tuy Viễn. Vì thế mà sách “Đại Nam nhất thống chí” đưa chợ An Thái lên đầu danh sách hệ thống chợ ở Tuy Viễn[20]. Đến đầu thế kỷ XX, An Thái vẫn là một trong 2 chợ sầm uất và lớn nhất của tỉnh Bình Định, theo “Đại Nam nhất thống chí”, đầu thế kỷ XX, các chợ được chia làm 9 hạng để đóng thuế. Trong đó chợ An Thái (Mỹ Thạnh), Gò Chàm (chợ An Nghĩa) có thứ hạng nộp thuế cao nhất (hạng 3), các chợ còn lại của tỉnh Bình Định nộp thuế từ hạng 4 đến hạng 9[21].
Đầu thế kỷ XIX, diện tích đất chợ An Thái trong địa bạ là 0,2 mẫu[22] (tương đương 720m2). Theo khảo sát năm 2006 của chúng tôi diện tích chợ An Thái trước đây khoảng 1500m2. Điều này cũng dễ hiểu, bởi cùng với sự phát triển của thị tứ An Thái, diện tích chợ được mở rộng thêm. Dấu tích còn để lại theo khảo sát là một bãi đất rộng nằm sát bờ sông Côn, phía Nam có ngôi chùa Bà Hỏa do Nhân dân xây dựng năm 1847 sau một vụ hỏa hoạn. Diện tích chợ như vậy, thuộc vào loại lớn nhất trong các chợ ở Bình Định lúc bấy giờ.
Ngoài những buổi chợ thường, mỗi tháng còn có 6 ngày chợ phiên nhằm vào các ngày 01, 06, 11, 16, 21, 26 âm lịch. Hàng hóa bày bán ở chợ rất phong phú: Hàng tạp hóa, sản phẩm thủ công, trầu, sản vật núi rừng, các sản phẩm từ vùng biển mang lên. Về sau do diện tích hẹp, sông Côn chuyển dòng, chợ được dời về vị trí mới hiện nay. Chợ An Thái hiện nay cũng thuộc thôn Mỹ Thạnh, nhưng cách chợ An Thái trước đây khoảng 01km, chợ được di dời vào năm 1965.
Xung quanh chợ về các mặt Đông, Tây, Nam là khu phố chợ (xem hình: Sơ đồ Phố-Chợ). Phố An Thái được nói tới trong “Châu bản triều Nguyễn” vào năm 1830[23]. Phố chợ An Thái chủ yếu nằm trên 2 trục lộ chính: Trục lộ thứ nhất từ bến chợ đi xuôi về phía Đông, xuống chùa Bà, nay là đường An Thái 1; trục lộ thứ 2 từ chợ đi về hướng Nam lên đường bộ từ thành Bình Định đi Tây Sơn Thượng Đạo (nay là đường DT 636B), trục lộ này hiện nay là một phần đường An Thái 1 và đường DT 639B. Dấu vết còn lại mà chúng tôi khảo sát từ năm 2006 là từ đường của họ Thái, Tạ, Diệp, Đỗ... hoặc còn nguyên vẹn, hoặc chỉ còn lại nền cũ. Trên những khu phố xưa, người Hoa xây dựng nhà cửa san sát quay theo lối đi. Tại đây người Hoa đã phát huy khả năng buôn bán và tính liên kết cộng đồng để kinh doanh, khuấy động mạnh mẽ sức sống thương nghiệp trên vùng đất này. Ở thị tứ An Thái cũng xuất hiện nhiều cửa hiệu buôn bán thuốc Bắc nổi tiếng như: Vĩnh Thạnh, Nguyên Phong Thái, Thương Long, Mỹ Vị, Vĩnh Phát[24]… Họ Lâm (Lâm Duy) là họ lớn, có thế lực, nắm giữ toàn bộ hoạt động buôn bán thuốc Bắc ở An Thái. Theo gia phả dòng họ Lâm cho biết, các thế hệ của họ Lâm từ thủy tổ Lâm Văn Hanh trở đi đều có cửa hiệu bán thuốc Bắc. Vào nửa sau thế kỷ XIX, hoạt động buôn bán thuốc Bắc ở An Thái còn được tô điểm bởi sự lớn mạnh của họ Thái ở lĩnh vực này. Gia phả dòng họ này cho biết, nhiều thế hệ làm nghề thuốc Bắc: Hiệu Vĩnh Phát của Thái Văn Thiện (1858), hiệu Vĩnh Phong của Thái Văn Từ (1872), hiệu Vĩnh Thành của Thái Lập Kính (1886)[25]... Bên cạnh hiệu buôn thuốc Bắc, ở đây còn có nhiều hiệu buôn của người Hoa ở các lĩnh vực khác như Chấn Hưng, Nguyên Phát, Nguyên Thành... Các cửa hiệu bán tạp hóa của người Hoa như cửa hiệu của ông Tư Hải, Hàn Lập Thành, Thái Giáo Thông[26]...
Cũng giống như nhiều thị tứ khác, hoạt động buôn bán của Hoa thương diễn ra dưới 2 hình thức: Buôn bán tĩnh tại và buôn bán lưu động. Một số thương nhân lưu động có vốn lớn, nhiều người nhờ buôn bán trở nên giàu có. Nhà buôn giàu có nhất ở An Thái là ông Tạ Thủy Nguyên, tới An Thái lập nghiệp năm 1813, ông thường cho người ngược lên sông Côn thu mua các sản vật rừng về bán tại An Thái[27]. Người Hoa ở An Thái ngoài họ Quách, Lâm, còn có nhiều dòng họ khác chủ yếu đến cùng thời với họ Thái vào thế kỷ XIX như: Họ Đường, Diệp, Tạ, Lục... gốc Phúc Kiến; Trần, Vương, Hoa gốc Hải Nam; Thân, Lý, Hàn... gốc Quảng Đông.
Nhờ có số lượng đông đảo, Hoa thương trở thành lực lượng cơ bản góp phần khuấy động nên sức sống thương nghiệp của thị tứ An Thái. Khu phố của người Hoa ở An Thái khá phát triển. Được hỏi về bí quyết thành công trong thương mại, họ cho biết “đó là sức mạnh liên kết cộng đồng, tính cần cù nhẫn nại và tính thích nghi nhạy bén với mọi tình huống biến đổi của xã hội” [28].
Bên cạnh Hoa thương, ở thị tứ An Thái, thương nhân người Việt cũng giữ vai trò quan trọng. Họ có thể là những “lái buôn nông nhàn” hay là lái buôn chuyên nghiệp. Cửa hiệu chuyên bán nông sản của ông Nguyễn Chí là cửa hiệu phát đạt nhất của người Việt ở An Thái lúc bấy giờ[29].
Bên cạnh khu phố chính, ở thị tứ An Thái cũng đã hình thành các xóm buôn chuyên nghiệp với sự tham gia của cả thương nhân người Hoa và người Việt: xóm chợ, xóm cá, xóm gạo. Xóm chợ là khu dân cư bên cạnh chợ, ngoài những hiệu buôn lớn, là những người buôn bán nhỏ tại chợ, bán các mặt hàng bánh trái, nông sản, dùng gia đình... Xóm cá chuyên buôn cá, các hộ buôn ở xóm này đón thuyền bè từ miền xuôi lên, mua cá đưa vào chợ bán. Những người buôn cá này thường có vốn ít, chủ yếu là người Việt. Xóm gạo, chuyên đi mua thóc ở các địa phương lân cận, xát thành gạo bán ở chợ An Thái.
Sự phát triển của thương nghiệp ở An Thái đưa đến sự hình thành của hàng loạt bến. Bến Chợ (bến An Thái) giữ vai trò là đầu mỗi giao lưu bằng đường sông ở An Thái. Vào những ngày phiên chính của chợ An Thái khách qua lại tấp nập, bến Chợ thực sự gắn liền với hoạt động của chợ An Thái nói riêng và toàn bộ thị tứ An Thái. Thuyền buôn từ 2 ngả về neo đậu nơi đây, đa số hàng hóa đều hội tụ ở bến này và chuyển đổi lên chợ. Ngày trước, khi sông Côn chưa có biến động lớn về dòng chảy, bến chợ chỉ cách chợ An Thái khoảng 10m. Nay dấu vết của bến hầu như không còn, vì sông Côn đã lùi khá xa.
Cách bến Chợ khoảng 500m về phía Đông Bắc là bến Đò Phủ. Bến này đóng vai trò là bến đò đưa khách sang sông. Tuy vậy nó cũng là biểu hiện mang ý nghĩa như là hệ quả của sự phát triển kinh tế thương nghiệp.
Xuôi dòng sông Côn cách bến Chợ 100m là Bến Đá. Bến Đá cũng có vai trò như bến Chợ, nhưng ý nghĩa lớn hơn của nó là một bến đêm, bến nghỉ chân trước khi thuyền bè cập bến Chợ tiêu thụ sản phẩm hoặc mua hàng mang đi. Ngày nay bến Đá không còn nữa, dấu vết để lại theo khảo sát năm 1991 là một trụ xây bằng gạch chắc chắn ôm lấy bờ sông để đất không bị sụp lở[30].
Từ bến Chợ ngược sông Côn lên phía Tây chừng 02km là bến Trầu. Nhân dân thường gọi là “Bến trầu ông Nhạc”, bởi nó gắn liền với hoạt động mua bán trầu của anh em Tây Sơn. Xưa kia “Nguyễn Nhạc thường chở trầu xuôi dòng sông Côn… rồi lên chợ An Thái bán[31]. Tuy chỉ gắn riêng với hoạt động của Nguyễn Nhạc, song dù sao vẫn phần nào thể hiện sự phát triển giao lưu kinh tế ở đây.
Kinh tế tiểu thủ công nghiệp: Kinh tế tiểu thủ công nghiệp ở thị tứ An Thái khá phát triển, ngoài nghề chế biến thuốc Bắc gắn liền với vai trò của người Hoa, thì các nghề còn lại đều có nguồn gốc từ người Việt. Sự nổi tiếng của nghề làm bún “song thần” (còn gọi đậu tuyến: 豆線, song thằn: 雙绳, song thằng) ở An Thái được phản ánh qua câu ca dân gian:
“Nón ngựa Gò Găng
Bún song thằng An Thái
Lụa đậu tư Nhơn Ngãi”
An Thái nổi tiếng với sản phẩm bún “song thần”. Loại bún này được làm bằng bột đậu xanh, có hương vị thơm ngon và giá trị dinh dưỡng cao. Theo bà Lý Thị Hương mà chúng tôi phỏng vấn năm 2006, Bà là người duy nhất còn nắm bí quyết và sản xuất loại bún này, đây là nghề hoàn toàn là của người Việt. Tương truyền các vua Nguyễn triệu thợ bún An Thái ra kinh đô Huế làm bún “song thần” nhưng không thành vì nước sông Hương khác với nước sông Côn. Bún “song thần” được mang đi trao đổi ở nhiều nơi như Quy Nhơn, Sài Gòn… Trung bình cứ 0,5kg đậu xanh làm được 01kg bún, vì thế giá thành cao; trước đây chủ yếu cung cấp cho tầng lớp trên. Bún “song thần” được sách “Đại Nam nhất thống chí” liệt kê vào hàng những sản vật nổi tiếng ở Bình Định[32].
Nghề dệt khá phát triển ở An Thái. Sách “Đồng Khánh dư địa chí” cho biết: The, lụa sản xuất ở các thôn Mỹ Thạnh, Nhơn Nghĩa, Phương Minh, Thới Thuận[33] của huyện Tuy Viễn. “Đại Nam nhất thống chí” cũng khẳng định: Lương, sa, nhiễu, lãnh thâm, lụa, vải, đều sản ở huyện Tuy Viễn, có các hộ chuyên nghiệp[34]. Trong đó, Nhân dân địa phương thường ca ngợi các sản phẩm đặc sắc như lụa đậu tư, lụa đậu ba, lụa đậu đôi. Mặt hàng lụa đậu tư khá nổi tiếng ở đây, chất lượng lụa bền đẹp và chắc, nguyên liệu là tơ tằm. Trong kỹ thuật dệt mắc 04 ống đứng gọi là lụa“đậu tư”, khổ lụa rộng 6,5 phân. Sản phẩm được tiêu thụ khá rộng, chủ yếu để may áo tứ thân. Nghề dệt lụa ở đây, có nguồn gốc từ Hải Hưng. Đến nay nghề lụa đậu tư không còn nữa.
An Thái còn có nghề đúc đồng khá nổi tiếng. Hiện nay trong dân gian còn lưu truyền tên xóm Chiêng, gắn liền với nghề truyền thống chuyên sản xuất các loại nhạc cụ như chiêng, cồng... Nguồn gốc của nghề đúc đồng ở đây có cùng nguồn gốc với nghề đúc đồng Bằng Châu (phường Đập Đá, thị xã An Nhơn), Kim Châu (phường Bình Định, thị xã An Nhơn). Ông tổ của nghề đúc đồng Bình Định là Dương Không Lộ (cũng là ông tổ của nghề đúc đồng Việt Nam), hàng năm vào ngày 17/3 âm lịch các làng nghề đúc đồng tiến hành cúng Tổ.
Ngoài ra ở An Thái trước đây còn có nghề kéo mật làm đường, nghề làm giấy, nghề làm thiếc... đều khá phát triển.
Kinh tế nông nghiệp: An Thái có nền nông nghiệp phát triển. Mặc dù đa số dân trong thị tứ làm nghề buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, nhưng họ vừa tham gia sản xuất nông nghiệp. Đối với người Việt, ruộng đất có được chủ yếu nhờ quá trình khai hoang lập làng. Năm 1839, thôn Mỹ Thạnh có hơn 213ha ruộng đất, thôn Thắng Công có hơn 54ha ruộng đất[35].
Đối với người Hoa, khi giàu có họ mua ruộng đất tại chỗ và các khu vực lân cận, trở thành điền chủ. Ở thế kỷ XVIII, họ Lâm (Lâm Thanh) đã có trong tay nhiều ruộng đất, do vậy trở thành mục tiêu tấn công của cuộc khởi nghĩa chàng Lía. Vào đầu thế kỷ XIX, họ Lâm nắm giữ gần như toàn bộ ruộng đất ở An Thái. Sau cải cách ruộng đất (1839 - 1840) mặc dù bị chiết cấp 50% ruộng đất, nhưng Lâm Quang Nhữ (đời thứ 8) vẫn có tới hàng trăm mẫu ruộng. Họ Tạ đến An Thái vào năm 1813, nhưng cũng chiếm giữ trong tay trên 100 mẫu ruộng[36]. Nhiều người Hoa ở An Thái còn có ruộng đất ở các địa phương khác, như trường hợp của Lâm Chí Nhuận, Lâm Hữu Định có ruộng đất ở thôn Kiên Mỹ[37]. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số người Hoa ở An Thái trở thành những địa chủ giàu có. Như trường hợp Tạ Thủy Nguyên có hơn 200 mẫu ruộng[38].
5. Vai trò và đặc điểm của thị tứ An Thái từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX
Thứ nhất, An Thái trung tâm thương mại quan trọng của Bình Định từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX
Vai trò này được thể hiện rõ trong kinh tế thương nghiệp của An Thái. Nhờ hệ thống giao thông thuận lợi, An Thái trở thành trung tâm thương mại, điểm trung chuyển hóa quan trọng ở Nam Bình Định, nơi cung ứng hàng hóa cho đô thị Quy Nhơn. Thậm chí “Hệ thống bến cùng mạng lưới giao thông đường thủy, cho phép An Thái có quan hệ buôn bán với nhiều nơi, trong đó có cả Hội An”[39]. Nếu xét về mức độ phát triển, An Thái là một trong những trung tâm thương nghiệp bậc nhất của Bình Định, chỉ đứng sau thương cảng Nước Mặn và đô thị Quy Nhơn. Tiễn sĩ Đinh Văn Liên cũng đã xác nhận: “từ thế kỷ XVIII, nơi đây (tức An Thái) trở thành trung tâm buôn bán khá sầm uất… Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, An Thái là một thị tứ sầm uất vào bậc nhất của Bình Định”[40].
Thứ hai, An Thái là trung tâm văn hóa và là “cửa sổ” giao lưu văn hóa Việt - Hoa ở Bình Định từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX.
Khi thị tứ An Thái hình thành, nơi đây trở thành địa điểm giáo dục, võ thuật quan trọng của phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định). Nguyễn Nhạc từng theo giáo Hiến để học văn võ. Giáo hiến vốn là môn khách của Trương Văn Hạnh, Hạnh bị Trương Phúc Loan giết chết, bèn trốn vào Quy Nhơn, ngụ ở ấp An Thái, mở trường dạy văn võ cho anh em Nhạc theo học[41]. Từ năm 1865 đến năm 1889, An Thái còn là nơi đặt trường học của phủ An Nhơn, theo “Đại Nam nhất thống chí”, trường học phủ An Nhơn: “ở thôn Mỹ Thạnh huyện Tuy Viễn. Trước kia trường học huyện Tuy Viễn ở thôn Hòa Cư, năm Minh Mệnh thứ 13 đổi làm trường học của phủ, năm Tự Đức thứ 18, dời đến chỗ hiện nay”[42]. Năm 1889, trường học phủ An Nhơn bị bãi bỏ, đến năm 1899, lập lại trường học phủ An Nhơn, đặt tại thôn Thắng Công[43].
An Thái nổi tiếng với truyền thống thượng võ. Võ thuật An Thái đã để lại những dấu ấn đậm nét trên vùng đất Bình Định: “Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. Những tư liệu hiện còn không cho biết rõ trước đây, thị tứ An Thái có bao nhiêu lõ võ, nhưng chí ít cho thấy ngoài lõ võ của Trương Văn Hiến, còn có lò võ của Diệp Trường Phát (lò Quách Cang, Tàu Sáu) hình thành đầu thế kỷ XX. Sự có mặt của võ Trung Quốc (võ Tàu) đã đưa đến nét mới cho võ thuật An Thái, bên cạnh võ thuật thuần Việt cổ truyền, võ Tàu đơn thuần, đã có sự kết hợp, học hỏi giữa võ thuật của hai phái. Lò võ Bình Sơn ở An Thái hiện nay là điển hình cho sự kết hợp giữa võ Tàu và võ Việt truyền thống An Thái. Lễ hội Đổ Giàn là một trong những biểu hiện của truyền thống võ thuật An Thái[44].
An Thái còn là trung tâm tín ngưỡng, tôn giáo của người Hoa và người Việt. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tại đây người Hoa đã lập nên trang, hội quán riêng mà dấu tích của nó vẫn in đậm cho đến ngày nay. Chùa Bà (An Hoà trang) khai sơn 1760, Họ Lâm, Trịnh, Quách là những họ đóng góp xây dựng nên chùa này. Trên cơ sở đó 1873, người Hoa đã lập ra Ngũ bang Hội quán[45]. Chùa Ông (Xuân Quang trang) được lập năm 1919, họ Tạ, Thái, Diệp là những họ đóng góp chủ yếu để xây chùa. Chùa Bảo Quang (thôn Thắng Công) do đại sư Lâm Tế (Trung Quốc) chánh tông đời thứ 36 Nguyễn Từ Phổ Diễn lập năm 1752[46], chùa Phổ Tịnh (thôn An Thái ngày nay) cũng thuộc phái Lâm Tế, lập năm 1850, cả hai ngôi chùa này sớm trở thành ngôi chùa của người Hoa và người Việt. Lễ hội Đổ giàn ở An Thái vốn là lễ hội được hình thành của cộng đồng người Hoa, được tổ chức tại Ngũ bang Hội quán, sau đó trở thành lễ hội chung của hai dân tộc Hoa -Việt.
Như vậy, thông qua thị tứ An Thái và sự có mặt của người Hoa ở đây, giữa người Hoa và người Việt đã có sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa. Người Hoa tiếp thu văn hóa của người Việt, trái lại người Việt cũng tiếp thu văn hóa người Hoa, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa của cư dân Bình Định, sự tiếp thu này thể hiện rõ trên các mặt võ thuật, tín ngưỡng, lễ hội...
Thứ ba, An Thái từng là trung tâm chính trị của phủ An Nhơn nói chung, huyện Tuy Viễn nói riêng
Từ năm 1865 đến giữa thế kỷ XX, An Thái là nơi đặt lỵ sở của huyện Tuy Viễn. Những thời điểm phủ An Nhơn được thành lập, phủ An Nhơn kiêm lý huyện Tuy Viễn, lỵ sở của phủ An Nhơn đặt ở thôn Mỹ Thạnh, huyện Tuy Viễn[47]. Vì vậy, trong thời gian khá dài, An Thái đóng vai trò là trung tâm chính trị của phủ An Nhơn nói chung, huyện Tuy Viễn nói riêng.
Thứ tư, sự hình thành và phát triển của thị tứ An Thái, người Hoa có vai trò đặc biệt quan trọng
- Ở những thời điểm nhất định, người Hoa đã đóng vai trò là lực lượng tiên phong cho sự xác lập của các thị tứ, trung tâm buôn bán ở Bình Định. Những cứ liệu ở các thị tứ An Thái cho phép chúng ta hình dung về vai trò của người Hoa đối với việc hình thành các thị tứ này. Ở An Thái người Việt (họ Hồ, họ Nguyễn…) có thể vào lập nghiệp sớm hơn nhưng vai trò thương nghiệp không đáng kể. Sự hình thành thị tứ An Thái đồng thời với sự có mặt của người Hoa. Thời điểm mà người Hoa dời từ thương cảng Nước Mặn và các nơi khác đến đây để mở tiệm buôn, lập phố, cũng đồng thời với sự hình thành của các thị tứ này. Người Hoa chính là một trong những lực lượng tiên phong góp phần sự hình thành của thị tứ An Thái. Sự có mặt của người Hoa đã đưa vùng quê An Thái trở thành thị tứ sầm uất một thời.
- Người Hoa là lực lượng thương nhân cơ bản ở thị tứ An Thái. Hiện nay chưa tìm thấy tài liệu viết về số lượng người Hoa ở thị tứ An Thái trước đây là bao nhiêu. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Người Hoa chiếm 2/3 cư dân của thị tứ An Thái[48]; “vào đầu thế kỷ XX, người Hoa ở đây chiếm 60% dân cư”[49]. Từ năm 1979 trở đi, người Hoa ở đây bắt đầu di chuyển sang các nơi khác, song số lượng người Hoa ở đây vẫn còn nhiều. Năm 1991, người Việt gốc Hoa ở An Thái còn 40 hộ với 234 nhân khẩu. Khi khảo sát toàn bộ khu phố chợ An Thái trước đây cho thấy tỷ lệ người Việt gốc Hoa ở đây chiếm 70% đến 80% dân cư. Người Việt gốc Hoa là lực lượng thương nhân cơ bản ở khu phố chợ An Thái. Do vậy khu phố chợ này, còn được gọi khu phố của người Hoa. Thông qua hoạt động kinh tế khác nhau, nhất là hoạt động thương mại, người Việt gốc Hoa góp phần thúc đẩy và duy trì sức sống cho thị tứ An Thái. Đúng như Nguyễn Quang Ngọc khẳng Định: “Đặc biệt ở các thị tứ Miền Trung, Miền Nam sở dĩ hình thành và phát triển được, một lý do rất quan trọng là do hoạt động buôn bán của người Hoa hay người Việt gốc Hoa ở đó. Thị tứ An Thái (tỉnh Bình Định) là một ví dụ tiêu biểu”[50]. Về sau, khi người Hoa chuyển đi các nơi khác, kéo theo sự lụi tàn của thị tứ An Thái.
- Người Việt gốc Hoa còn để lại nhiều di sản văn hóa có giá trị cho thị tứ An Thái như: Chùa Bà, chùa Bà Hỏa, chùa Bảo Quang, chùa Phổ Tịnh, từ đường, lễ hội Đổ giàn, võ thuật... Từ đường họ Lâm ở thôn Thắng Công, do ông Lâm Tăng Thọ[51] lập năm 1862 nay vẫn còn.
Thứ năm, kết cấu chính trị - xã hội của thị tứ An Thái khác với làng xã người Việt
Trong cơ cấu xã hội của các làng xã cổ truyền trước đây ở Việt Nam thường chỉ có sự hiện diện của người Việt. Trong đó có thể có một hoặc nhiều dòng họ người Việt khác nhau đã chung sống qua nhiều thế hệ, tính cộng đồng được coi là đặc trưng khá nổi bật của làng xã cổ truyền.
Đối với thị tứ An Thái, cơ cấu trên đã bị phá vỡ thành phần dân cư có sự hiện diện của một số lượng lớn người Hoa trong thị tứ, họ đã hình thành các tổ chức mang tính tự trị, tự quản dưới nhiều hình thức khác nhau như bang, hội, Minh hương xã.
Người Hoa ở thị tứ An Thái chia thành hai bộ phận. Bộ phận di cư qua trước thế kỷ XIX cư trú trong Minh hương xã, bộ phận này chủ yếu di chuyển từ Nước Mặn lên và vẫn thuộc Minh hương xã Nước Mặn. Bộ phận di cư qua từ thế kỷ XIX, tập trung trong các bang. Con cháu người Hoa trong các bang sinh ra đến 18 tuổi lập thành Minh hương xã (minh hương xã Tân thuộc). Bang, Minh hương xã có hệ thống tổ chức quản lý riêng, điều này làm cho kết cấu chính trị - xã hội của thị tứ An Thái khác với làng xã người Việt cổ truyền.
Tóm lại, nhờ những ưu thế về tự nhiên, kinh tế, xã hội, thế kỷ XVIII, An Thái đã phát triển thành một thị tứ. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, An Thái là một trong những trung tâm thương nghiệp bậc nhất của Bình Định, đồng thời còn là trung tâm văn hóa, chính trị quan trọng. Bên cạnh vai trò của người Việt, sự hình thành và phát triển của thị tứ An Thái gắn với vai trò quan trọng của người Hoa. Người Hoa thực sự để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử vùng đất An Thái./.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại Nam liệt truyện, tập 1&2, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[2] Nguyễn Huy Quýnh (2018), Quảng Thuận đạo sử tập, Nxb Đại học Vinh, Nghệ An.
[3] “Thuộc” là đơn vị hành chính trung gian giữa huyện và thôn (hoặc xã, phường).
[4] Trước năm 1832, huyện Tuy Viễn bao gồm cả huyện Tuy Phước, năm 1832 huyện Tuy Viễn tách thành Tuy Phước và Tuy Viễn, huyện lỵ Tuy Viễn đặt ở thị xã An Nhơn ngày nay. Huyện Tuy Viễn lúc bấy giờ gồm địa giới của thị xã An Nhơn, huyện Tây Sơn, Vĩnh Thạnh và vùng Tây Sơn Thượng đạo (thuộc Gia Lai) ngày nay.
[5] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Bình Định, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[6] Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mạng, ngày 24 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 10 (1830).
[7] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Bình Định, tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[8] Viện nghiên cứu Hán nôm (2003), Đồng Khánh địa dư chí, Hà Nội.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[10] Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam nhất thống chí: tỉnh Bình Định, bản Duy Tân, Bộ giáo dục Sài Gòn.
[11] Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[13] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Bình Định, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[14] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr15-26.
[15] Bùi Việt Thanh, Nguyễn Văn Ngọc, Lâm Chí Hoàng (2005), Báo cáo khoa học lễ hội Đổ giàn ở An Thái, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
[16] Nguyễn Xuân Nhân (2002), Cảng thị Nước Mặn thuở phồn vinh, Sở khoa học Công nghệ tỉnh Bình Định.
[17] Nguyễn Công Thành (2007), Vai trò của người Hoa đối với sự hình thành và phát triển mạng lưới thị tứ ở Bình Định từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 2, tập I, tr. 94-98.
[18] 阮功成:《17—19世纪越南平定省的华人共同体》,《三峡大学学报》2019年第6期,第88—93页。
[19] 阮功成:《17—19世纪越南平定省的华人共同体》,《三峡大学学报》2019年第6期,第88—93页。
[20] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[21] Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam nhất thống chí: tỉnh Bình Định, bản Duy Tân, Bộ Giáo dục, Sài Gòn.
[22] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Bình Định, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[23] “Châu bản Triều Nguyễn” (triều Minh Mạng, ngày 24 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 10 (1830) có chép về bản tấu của Trương Công Dũng xin về quê dưỡng bệnh. Theo đó, Trương Công Dũng là người trang Yên (An) Hòa, phố Yên (An) Thái, xã Minh Hương, trấn Bình Định.
[24] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr.15-26.
[25] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr.15-26.
[26] Hoàng Thị Liên (1991), An Thái từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Khóa luận cử nhân lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
[27] Hoàng Thị Liên (1991), An Thái từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Khóa luận cử nhân lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
[28] Hoàng Thị Liên (1991), Kết quả khảo sát lịch sử hình thành thị tứ An Thái, Bình Định.
[29] Hoàng Thị Liên (1991), An Thái từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Khóa luận cử nhân lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
[30] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, tr.15-26.
[31] Ban Nghiên cứu lịch sử Tây Sơn-Nguyễn Huệ (1978), “Nghĩa Bình với khởi nghĩa Tây Sơn và Quang Trung Nguyễn Huệ”, Kỷ yếu Hội nghị nghiên cứu phong trào nông dân Tây Sơn và anh hùng Nguyễn Huệ, Nghĩa Bình.
[32] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[33] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin dịch (2003), Đồng Khánh địa dư chí, Viện Nghiên cứu Hán nôm, Hà Nội.
[34] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[35] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn - Bình Định, tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
[36] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4, tr.15-26.
[37] Phan Phương Thảo (2004), Chính sách quân điền năm 1839 ở Bình Định, Nxb Thế giới, Hà Nội.
[38] Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (2007), Địa chí Bình Định, tập Kinh tế, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định.
[39] Phan Đại Doãn (1990), Đô thi cổ Hội An mấy đặc điểm kinh tế -xã hội, Tạp chí Kinh tế, số 5 (177), tr.40-46.
[40] Đinh Văn Liên (2008), Bình Định đất võ trời văn, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
[41] Quốc sử quán triều Nguyễn (2014), Đại Nam liệt truyện, tập 1&2, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[42] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[43] Quốc sử quán triều Nguyễn (1963), Đại Nam nhất thống chí: tỉnh Bình Định, bản Duy Tân, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn.
[44] Trò chơi phá giàn: Ban Tổ chức treo trên giàn một con heo đã quay chín. Đứng xung quanh giàn là tất cả các võ sĩ của các thôn. Bất thần người trưởng trò chặt đứt dây giữ giàn và con heo rơi xuống. Đấy chính là lúc các võ sĩ đua tài. Họ phải dùng mọi thủ pháp và miếng võ để có thể giành được con heo. Sau khi tranh được, họ phải vác heo chạy một mạch về thôn. Người thắng cuộc sẽ được cả làng kính nể và suy tôn.
[45] Bùi Việt Thanh, Nguyễn Văn Ngọc, Lâm Chí Hoàng (2005), Báo cáo khoa học lễ hội Đổ giàn ở An Thái, xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Theo ông Phan Minh Bá: Chùa Bà được xây dựng năm 1873, đến năm 1933 mới đổi tên thành Ngũ bang Hội quán.
[46] Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn (1988), Tư liệu về Tây Sơn - Nguyễn Huệ, tập 1: Trên đất Nghĩa Bình, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình.
[47] Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, bản Tự Đức, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[48] Hoàng Thị Liên (1991), An Thái từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, Khóa luận cử nhân lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội.
[49] Phan Đại Doãn, Vũ Hồng Quân (1992), Thị tứ hiện tượng đô thị hóa (qua tư liệu tỉnh Bình Định), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4, tr.15-26.
[50] Nguyễn Quang Ngọc (1989), Thương nghiệp ở nông thôn Việt Nam truyền thống: Mấy hiện tượng đáng lưu ý, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 5 (171), tr. 54-64.
[51] Có tài liệu chép là ông Lâm Cao Thơ lập.

Anh bác học quá!!!
Trả lờiXóa