Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2024

Vì sao Thúy Kiều "đem tình cầm sắt ra duyên cầm kỳ"

Trải qua mười lăm năm lưu lạc, chịu bao nhiêu đầy đọa trong chốn hồng trần của kiếp má hồng phận mỏng, nàng Kiều trung hậu, thủy chung cuối cùng cũng được đền đáp. Đó là kết thúc đoàn tụ bên gia đình, nhất là được tái hợp cùng chàng Kim Trọng, mối tình đầu trong trẻo, sâu nặng theo Kiều đến tận sau này.

Thế nhưng trước ngưỡng cửa hạnh phúc muộn màng, nàng Kiều đã có một quyết định bất ngờ. Đó là từ chối cuộc hôn nhân với chàng Kim, “đem duyên cầm sắt ra duyên cầm cờ” và xem “duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”.

Như ta biết, hầu hết các truyện giai nhân tài tử của văn học Trung Quốc, truyện thơ nôm của Việt Nam đều theo kết cấu : Gặp gỡ - Lưu lạc - Đoàn viên và kết thúc bao giờ cũng là kết thúc có hậu. Nguyễn Du và Truyện Kiều cũng không nằm ngoài công thức có tính truyền thống quy phạm này. 

Thế nhưng, Tố Như tử không đơn thuần chỉ là nhà đạo đức học của lời giáo huấn “ở hiền gặp lành”, ông còn là nhà nghệ sĩ “có tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ nhân), “như nhiều tâm hồn vĩ đại xưa kia, Nguyễn Du băn khoăn đi tìm một cách giải đáp cho câu hỏi đớn đau của cuộc sống con người bị áp bức” [2; tr. 153], ông đã chọn một lối đi khác dù rằng con đường lớn vẫn là truyền thống cổ điển, đó là một kết thúc, nói như Giáo sư Đặng Thanh Lê “rất công thức, rất quen thuộc mà cũng khá bất ngờ” [2; tr. 154]. “Quen thuộc, bất ngờ” ở đây là màn Đoàn viên, tức là “kết thúc câu chuyện có nghĩa là kết thúc quãng đời ‘Tai biến’, và sự ‘Đoàn tụ’ với người yêu là một ban thưởng lớn” [2; tr. 153] dành cho nhân vật chính. 

Còn “độc đáo” ở đây là quyết định bất ngờ, khó hiểu của Kiều khi khước từ cuộc sống hôn nhân với người tình đầu “mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”. Chính bởi kết thúc độc đáo, “gần như có một không hai trong hệ thống truyện Nôm” [2; tr. 155] này mà giá trị tác phẩm cũng như tư tưởng tác giả được nâng lên một tầm cao mới. Bởi, “thiên tài bao giờ cũng vượt lên trên ràng buộc của công thức ước lệ với sự sáng tạo độc đáo. Nguyễn Du đã đi vào con đường mới mẻ của nghệ thuật trên cơ sở một cảm xúc đúng đắn về cuộc sống” [2; tr. 155].

Vậy, tại sao có một kết thúc “độc đáo” như vậy xuất hiện trong Truyện Kiều mà các truyện thơ Nôm khác không có ? Nói cách khác, tại sao đều trải qua những đọa đày, thử thách, nhưng nàng Ngọc Thư trong Nhị độ mai, Cúc Hoa trong Tống Trân Cúc Hoa, Thoại Khanh trong Thoại Khanh Châu Tuấn… cuối cùng cũng đạt được hạnh phúc yêu đương tột đỉnh, còn nàng Kiều lại ngậm ngùi “Từ nay khép cửa phòng thu / Chẳng tu thì cũng như tu mới là”, đoạn tuyệt dứt khoát tình phu thuê chăn gối với người yêu Kim Trọng suốt mười lăm năm “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”. 

Việc Tố Như để cho Kiều quyết định “đem duyên cầm sắt ra duyên cầm cờ”, tức đem duyên vợ chồng đổi thành duyện bầu bạn ở đây có nhiều nguyên nhân. Trong giới hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ tìm hiểu nguyên do của quyết định bất ngờ này từ khía cạnh nhân vật, tức là đặt vào hoàn cảnh của chính nhân vật để xem xét.

Trong cuộc đời nhiều bất hạnh của mình, Thúy Kiều đã hai lần từ chối hạnh phúc yêu đương với người tình đầu Kim Trọng xứng đôi đẹp lứa “người quốc sắc, kẻ thiên tài”. Lần thứ nhất là trao duyên cho Thúy Vân “mà đem duyên chị buộc vào duyên em”, “bán mình chuộc cha” và em trai Vương Quan, bởi đứng giữa cán cân đạo lí – tình yêu “bên tình bên hiêu bên nào nặng hơn”, Kiều buộc phải hi sinh tình đầu, “làm con trước phải đền ơn sinh thành” ở đầu truyện. Lần thứ hai là khi “nạn xưa trút sạch làu làu”, Kiều được đoàn tụ “một nhà sum họp” ở phần cuối truyện. Nếu như ở lần đầu, việc chối bỏ hạnh phúc là điều bất khả kháng (“thân chòn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên”), dù cho đó là một quyết định hết sức khó khăn, đau đớn và thẫm đẫm nước mắt của người con gái trăng tròn lần đầu biết yêu đã vỡ tan giấc mộng, (trước lúc trao duyên, Kiều đã “lệ tràn thấm khăn” và sau những lời tột cùng đau khổ “Ơi Kim Lang, hỡi Kim Lang…”, Kiều đã kiệt sức, hoàn toàn gục ngã “Cạn lời, phách tán hồn bay / Một hơi lạnh ngắt hai tay như đồng”); thì ở lần sau, dường như mọi việc đều ngược lại. Kiều trở về trong sự yêu thương vô bờ của gia đình (“Ông bà trông mặt, cầm tay… Hai em hỏi trước han sau”), được chính em mình xưa “nhận duyên” thay chị, nay là chính thất của Kim Trọng chủ động mở lời tái hợp với một thái độ cảm thông, sẵn lòng (“Còn duyên, may lại còn người / Còn vầng trăng bạc còn lời nguyên xưa / Quả mai ba bảy đương vừa / Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì”). 

Đặc biệt, Kiều được chàng Kim ngày xưa và ngày nay tiền hậu nhất nhất, trước sau chung tình, có “một quan niệm nhân văn về chữ trinh của người phụ nữ”, một “tình yêu sâu sắc, vị tha và phẩm cách trong sáng” [2; tr. 174 và 176), sẵn lòng và hết lòng đón nhận nàng. Thế nhưng khi mọi điều kiện cho cuộc sắt cầm tái hợp đều rất thuận lợi, thì Kiều đã chủ động khước từ một cách tỉnh táo, dù rằng bên trong là tột cùng của bi kịch khổ đau nhưng Kiều không thể nào làm khác. Có hai nguyên nhân chính dẫn đến quyết định này của Kiều, đó cũng là nguyên nhân từ hai mối quan hệ của Kiều với Thúy Vân, Kim Trọng.

Trước hết là nguyên nhân xuất phát từ quan hệ với người em Thúy Vân. Như đã nói, trong màn đoàn viên, giữa lúc “tiệc hoa vui vậy” và khi đã “tàng tàng, chén cúc dở say”, Vân đã thưa với đại gia đình về chuyện nối lại tình xưa duyên cũ cho chị với chồng. Đó là “người em vườn Thúy” “thùy mị, mà phúc hậu” [3; tr. 602], “vô từ và trung hậu” [2; tr.169] nhưng phải chịu nhiều thiệt thòi trong tình yêu. Dù rằng chính Thúy Vân là người chủ động mở lời tác hợp duyên vợ chồng cho Kim - Kiều với thái độ sẵn lòng, cảm thông và vị tha. Thế nhưng dễ gì để nàng Vân có quyết định như vậy. Nói cách khác, Thúy Vân không phải vô tư đến độ chẳng biết gì như nhiều người vẫn trách, trái lại, bên trong những lời “mối mai” tưởng như rất nhiệt tình ấy là cả một nỗi đau câm lặng. Ngày xưa há chẳng phải vì những lời thống thiết khổ đau của chị mà nàng Vân đành chịu cảnh “duyên chị buộc vào duyên em”, chấp nhận cuộc hôn nhân an bài, bước vào đời sống hôn nhân mà chưa một lần biết yêu và được yêu thật sự. Nỗi đau này có kém gì nỗi đau của tình yêu tan vỡ. Rồi mười mấy năm chung sống vợ chồng với chàng “họ Kim tên Trọng”, dẫu rằng đã nên gia thất, vợ con đề huề, chàng Kim lúc nào cũng nhớ mong tình cũ “Tuy rằng vui chữ phu thê / Vui này đã cất sầu kia được nào / Khi ăn ở, lúc ra vào / Càng âu chuyện mới, càng dào tình xưa”, thế nhưng “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”. Mười lăm năm chăn gối giáp mặt ra vào, nghĩa phu thê cũng nặng biết bao, đâu dễ gì san sẻ, từ bỏ. 

Nói chung, nàng Kiều hi sinh quá nhiều, nhưng nàng Vân cũng hi sinh không ít, lại là sự hi sinh lặng lẽ, “không một tiếng vang, không một phản ứng; nàng trở về kiếp sống âm thầm, khi bổn phận đã tròn” của “một kẻ đến sau trong tình ái !... Là một chiếc bóng âm thầm bên cạnh người chồng hờ” nhưng chỉ biết “cắn chặt răng, nén đau thương để mưu hạnh phúc cho người thân” [3; tr. 605 và 604]. Thúy Kiều là người “thông minh với sẵn tính trời”, lại trải qua mười mấy năm lưu lạc để già dặn, trưởng thành, Kiều thấu hiểu nỗi đau thầm kín quá lớn ấy. Kiều mợ Kim Trọng nhưng cũng nợ Thúy Vân, một bên nợ tình, một bên nợ nghĩa và cả hai đều là những “nghĩa nặng tình thâm”. Kiều sẽ không làm người thứ ba trong cuộc hôn nhân này, đó là một quyết định đúng đắn, một cách an ủi cho những hi sinh của em mình, dẫu rằng trong tận sâu con tim, Kiều vẫn còn yêu Kim tha thiết như buổi ban đầu.

Có người cho rằng, xã hội phong kiến cho phép chế độ hôn nhân đa thê, một chồng nhiều vợ (nhưng lại cấm đoán điều người lại, Trai năm thuê bảy thiếp / Gái chính chuyên một chồng), vậy sao Kiều không chấp nhận làm vợ sau của Kim Trọng. Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ trong những tháng ngày trôi nổi, từng làm vợ lẽ, Kiều hiểu nỗi đau của những người phụ nữ sống trong chế độ đa thuê. Trái tim nhân hậu của Kiều đã từng thấm thía hết những nỗi đau thân phận người phụ nữ xưa, trong đó có chuyện hôn nhân nhiều vợ. Đây cũng là một nét giá trị, độc đáo của chủ nghĩa nhân đạo trong Truyện Kiều của tác gia vĩ đại từng mạnh dạn nói lên “Đau đơn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Bên cạnh nguyên nhân từ mối quan hệ với em gái, còn một nguyên nhân quan trọng nữa. Đó là nguyên nhân từ quan hệ với người người yêu ngày trước, “nọ chàng Kim đó là người ngày xưa”. 

Dù rằng, chàng Kim Trọng trong truyện là một người đàn ông chung thủy (Dầu rằng vật đổi sao dời / Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh) và bao dung, suốt mười lăm năm trời vẫn không quên được người yêu cũ, trong ngày tái hợp, đã nói lên được một quan niệm vô cùng tiến bộ và “nhân văn phi chính thống về chữ trinh của người phụ nữ” [2; tr. 175] (Xưa nay trong đạo đàn bà / Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường… Như nàng lấy hiếu làm trinh / Bụi nào cho đục được mình ấy vay), có một sự cảm thông sâu sắc, một tấm chân tình ít ai có được, thậm chí một chút hờn trách xa xôi (Duyên kia có phụ chi tình / Mà toan sẻ gánh chung tình làm hai) nhưng tất cả đều không làm lay động được quyết định của Kiều. Tại sao nàng Kiều lại trở nên lạnh lùng, dứt khoát như vậy ? Phải chăng Kiều “sự đời đã tắt lửa lòng”, hay Kiều đã không còn yêu Kim Trọng như trước ?

Thật ra, câu trả lời dễ dàng nhận thấy qua những lời đối thoại của Kiều cùng Kim Trọng. Bởi lúc này, trải qua bao nhiêu gió dập sóng vùi “Hết nạn nọ đến nàng kia / Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, Kiều từ một “tố nga” sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che” đã trở nên “sâu sắc nước đời” không kém bất kì người nào. Nàng Kiều bước ra từ những va đập, chà xát của cuộc đời đen tối và kiếp sống ô nhục trong suốt mười lăm năm trường đã già dặn, cứng cáp hơn rất nhiều, đủ hiểu rằng trong chế độ phong kiến, trước sau thước đo cao nhất nhân phẩm của người phụ nữ vẫn là “chữ trinh đáng giá ngàn vàng” đồng thời cũng là sợi dây oan nghiệt nhất trói buộc cuộc đời họ. Kiều thừa biết rằng xưa nay “Trong đạo vợ chồng / Hoa thơm phong nhị, trăng vàng tròn gương”. Cái gọi là hoa thơm còn kín nhị, trăng vàng chưa khuyết đó chính là tấm thân băng trinh tiết ngọc, là giao ước thiêng liêng cho sự bền chặt của quan hệ vợ chồng, là giá trị để người chồng tôn trọng vợ. Thế nhưng Kiều bấy giờ ra sao ? Chính Kiều đã thẳng thắn thừa nhận “Thiếp từ ngộ biến đến giờ / Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa / Bấy chầy gió táp, mưa sa / Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn”. Rõ ràng, nàng Kiều tự hiểu mình “đã xong thân thế” thì “còn toan nỗi nào”. 

Dù rằng chàng Kim có bao dung, độ lượng như thế nào đi nữa, thì một khi chữ trinh kia đã mất (Kiều lại là gái lầu xanh trong bao nhiêu năm trời), liệu Kim Trọng có còn tôn trọng Kiều được nữa không ? Ta nên nhớ, Kim Trọng từ đầu đến cuối luôn là một nhân vật lí tưởng được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn. Ngoài đời thật không có một Kim Trọng nào như vậy. Giả sử bước vào cuộc sống hôn nhân, những dấu vết còn lại trên thân thể Kiều từ những trò “vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” của những tháng năm đen tối, nhơ nhớp nơi kĩ viện lầu xanh, những ám ảnh về vợ mình từng là người của bao nhiêu người đàn ông trước mình, những tai tiếng, dị nghị của miệng lưỡi ác tâm người đời, liệu họ Kim có còn có say đắm, vô tư, bao dung và tôn trọng Kiều như trước được không? Điều này Kiều thừa hiểu.

Có người cho rằng, những bất bằng đã được dẹp (qua màn Báo ân báo oán), quá khứ rồi sẽ lùi xa (qua màn Đoàn viên), Kiều sẽ dần lành mọi vết thương và sẽ có một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc bên người mình yêu. Cũng giống như cô gái sông Hương được đổi thay cuộc đời ở một tương lai sáng tươi trong bài thơ Tiếng hát Sông Hương của Tố Hữu : “Răng không cô gái sông Hương / Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài / Thơm như hương nhị hoa nhài / Sạch như nước suối ban mai giữa rừng”. Ta nên nhớ, phải hơn một trăm năm sau, thời đại của Thúy Kiều mới giống thời đại của cô gái sông Hương, “Thúy Kiều không phải là cô gái sông Hương để có thể nhờ cách mạng, rũ sạch quá khứ khổ đau, hướng tới tương lai tươi sáng” bởi ở thời Kiều, những quan niệm giai cấp, quan niệm xã hội còn hết sức nặng nề, bảo thủ, “nó chặn đứng quyền sống, quyền làm lại cuộc đời của những nạn nhân xã hội” [2; tr. 162]. Kiều ý thức rất rõ những nghiệt ngã ấy. Cho nên nàng đã có những lời quyết liệt : “Khéo thay dơ duốc bày trò / Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi / Người yêu ta xấu với người / Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”. 

Mặt khác, Kiều vốn là người giàu lòng tự trọng, ý thức về bản thân sâu sắc. Lúc này đây, sau khi đã nếm trải mọi tủi nhục của cuộc đời gió bụi, để xóa đi những mặc cảm, cái Kiều cần là sự tôn trọng, chứ không phải là lòng thương hại, người Kiều cần là một tri kỉ chứ không phải là một người chồng bình thường. Cho nên, không ngại ngần, Kiều vẫn ngẩng đầu khẳng định với chàng Kim : “Chữ trinh còn một chút này / Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan”. Bởi vậy, từ chối làm vợ mà chỉ làm bạn với Kim Trọng để không bị đánh lừa bởi “hạnh phúc giả tạo, siêu hình” là một quyết định sáng suốt. Đưa ra quyết định không phải dễ dàng này, Kiều có cái nhìn sâu sắc, nhưng đồng thời cũng chua chát, xót xa vô cùng. Không ngẫu nhiên mà Xuân Diệu gọi đây là “bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều”. Bởi vậy, “màn ‘Tái hồi Kim Trọng’ vẫn chứa chan yêu tố nhân đạo chủ nghĩa vì đậm đà màu sắc hiện thực chủ nghĩa” [2; tr. 163].

Có thể nói, quyết định “bán mình chuộc cha” để rồi buộc phải “đem duyên chị buộc vào duyên em” khó khăn, đau đớn bao nhiêu, thì quyết định “đem duyên cầm sắt ra duyên cầm cờ” cũng khó khăn, đau đớn bấy nhiêu. Cuối cùng rồi Kiều cũng lựa chọn ngã đường hạnh phúc “Ba sinh đã phỉ mười nguyền / Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy”, từ chối cuộc hôn nhân với người tình đầu son sắt. Đó không phải bởi Thúy Kiều không còn yêu Kim Trọng, càng không phải bởi con tim Kiều đã chai sạn trơ lì, mà đó là bởi cái nhìn sâu sắc, hiện thực của nàng họ Vương, dẫu rằng đó là là quyết định quá tàn nhẫn, tận cùng của bi kịch tình yêu, bi kịch quyền sống và làm lại cuộc đời nơi Kiều.
___________________

Tài liệu tham khảo chính

1. Nguyễn Du, Truyện Kiều, Vũ Hữu Tiềm bình giải, chú thích và minh họa, NXB Thanh Niên, 2008.

2. Đặng Thanh Lê, Giảng văn Truyện Kiều, tái bản lần thứ bảy, NXB Giáo Dục, H., 2009.

3. Nhiều tác giả, Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, tái bản lần thứ hai, NXB Giáo Dục, H., 2001.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...