Nhà phê bình văn học Đặng Tiến đã từ giã cõi tạm để đi gặp những nhà thơ, nhà văn Việt Nam tiền bối mà cả đời ông đã tận tụy nghiên cứu, làm người lữ hành trên dặm đường dài đi tìm cái hay, cái đẹp của ngôn từ trong các tác phẩm để đời của họ. Viết phê bình văn học (thực ra gồm cả phê bình mĩ thuật, âm nhạc), Đặng Tiến cũng đã để lại những tác phẩm, bài viết quý như vàng, như ngọc cho đời.
Bài viết này là một nén tâm nhang gửi đến ông.
Đối với một nhà phê bình tài hoa, uyên bác, được giới nghiên cứu trong và ngoài nước thừa nhận, nể phục thì cần có nhiều nghiên cứu, khám phá những chiều kích làm nên uy tín, thẩm quyền của ông trong giới phê bình. Bài viết này chỉ là một góc nhỏ, một “khung cửa hẹp”, của một người làm ngôn ngữ học, nhìn vào vẻ đẹp, sự hào hoa, sang trọng và uy quyền trong cách dùng từ ngữ của ông, một phù thủy thật sự trong cách dùng ngôn từ.
Long đong theo mệnh nước nổi trôi, ông chủ yếu sống và làm việc ở nước ngoài nhưng ông đã dùng tiếng Việt vô cùng tài tình. Tôi luôn nghĩ đến ông khi nghe những thanh âm đầu tiên trong bài Tình ca của Phạm Duy:
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời. (Tình ca-Phạm Duy).
Cả nửa thế kỷ sống và làm việc ở Pháp, ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, vẫn viết chủ yếu bằng tiếng Việt, dù tiếng Pháp của ông thuộc vào dạng thượng thừa (ông là giảng viên thỉnh giảng của Ban Việt học, Khoa Đông Phương học của Đại học Paris 7, nhưng công việc chính của ông là giáo viên dạy tiếng Pháp ở một trường trung học của Pháp). Đó là điều ít người biết, phải da diết lắm với quê hương, với “tiếng nước tôi” mới trọn vẹn, chung thủy một tình yêu như thế, bởi lẽ giữ quốc tịch Việt Nam thì có nhiều thua thiệt khi làm việc trong hệ thống giáo dục của Pháp.
Đọc lại những bài phê bình của ông, từ góc độ ngôn ngữ học và chỉ ở góc độ ngôn ngữ học, tôi lẽo đẽo đi tìm câu trả lời: Điều gì tạo nên sự hấp dẫn, kì diệu đến mê hoặc trong ngôn ngữ phê bình (văn học, âm nhạc, mĩ thuật) của ông?
Đặng Tiến là người tâm đắc với chức năng thi pháp của ngôn ngữ. Ông thích dẫn nhà ngữ học lừng danh Jakobson: “Mỗi từ ngữ không có giá trị tự tại, mà chỉ là công cụ để chỉ một đối tượng: con mèo, con chó chẳng hạn. Khi từ ngữ vượt khỏi công dụng thông tin ấy, để biểu hiện giá trị thẩm mỹ tự tại thì, theo Jakobson, nó có chức năng thi pháp (fonction poétique). Đó là thơ”. (Đặng Tiến-Thơ là gì ?). Ông luôn khẳng định: “trong thơ, hình thức và nội dung là một. Phải dùng cái nhìn sâu lắng để tìm nội dung trong hình thức và hình thức trong nội dung, vì một tác phẩm văn nghệ không có hai giá trị khác biệt, mà là một thể hiện duy nhất” (Đặng Tiến-Hoàng Trúc Ly, nụ cười trong và đôi mắt sáng). Ông từng nói huỵch toẹt: “viết về thơ mà không văn vẻ thì đọc chán, mà văn vẻ thì giảm bớt tính khoa học” (Thơ là gì?). Và điều kì diệu, ít người làm được, đó là những bài viết của ông vừa “văn vẻ”, lại vừa “khoa học”. Nói một cách hình ảnh, ông đã đi dây giữa cách viết “văn vẻ” và cách viết uyên bác, khoa học trong các bài phê bình của mình, dựa trên mẫn cảm ngôn ngữ và nền tảng lí luận vững chắc về ngữ học, thi pháp học. Ngôn ngữ trong các bài phê bình của ông thường xuyên vượt khỏi công dụng thông tin, để biểu hiện giá trị thẩm mỹ tự tại, tức có chức năng thi pháp, đó là lí do mà khi đọc Đặng Tiến, tôi cảm thấy được khai mở, được “sướng”, được cảm thấy “phiêu”, “phê”, vừa đọc vừa lo bài sắp kết thúc.
“Ai đem phân chất một mùi hương” (Xuân Diệu), dù sao thì sau đây cũng là suy nghĩ của tôi về những gì tạo nên sự hấp dẫn, kì diệu đến mê hoặc trong ngôn ngữ phê bình của ông.
Bao trùm lên tất cả là nền tảng ngữ học và thi pháp học
Mẫn cảm ngôn ngữ của Đặng Tiến được đặt trên một nền tảng ngữ học, thi pháp học phương Tây và phương Đông vô cùng chắc chắn, giúp ông phát hiện được những vẻ đẹp ngôn từ ít người thấy được. Nói theo ngôn ngữ nhà võ, ông có một bộ tấn pháp và kỹ thuật quyền cước vô cùng căn bản, để từ đó có thể thi triển những tuyệt kỹ võ học.
Nhớ một lần, ông giải thích cho tôi cái hay trong hai câu thơ của Trần Đăng Khoa như một trường hợp của phép tu từ “anagram” (tạm dịch là “xáo trộn từ ngữ”):
Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
Ông nói, từ “đa” của câu sáu hiệp vần với từ “là” của câu tám, tạo cặp “đa là”, nói lái (một loại xáo trộn từ ngữ) thành “la đà”, hai từ ở hai câu khác nhau đã cộng hưởng, gợi hình ảnh chiếc lá rơi một cách thần tình.
Trong sách vở dạy về tu từ học ở Việt Nam, chưa tác giả nào nói đến hiện tượng “anagram” này. Các thầy cô dạy môn Ngữ văn, khi bàn đến phép tu từ trong hai câu thơ trên đây chỉ nói đến phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, theo đó “tiếng rơi” của lá vốn được cảm nhận bằng thính giác đã được nhà thơ cảm nhận bằng xúc giác “rất mỏng” và bằng thị giác “rơi nghiêng”. Có thể Trần Đăng Khoa cũng chẳng có ý dùng như thế, nhưng thực tế câu thơ là như thế, hay xuất thần, và Đặng Tiến đã có một cách giải thích cũng hay xuất thần. Với Đặng Tiến, lí luận về ngữ học, thi pháp học là công cụ để ông khám phá vẻ đẹp của ngôn từ.
Ông viết về một đoạn trong Cây tam cúc của Hoàng Cầm:
Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới chị
võng mây trôi
“ Quan Đốc đồng… nhịp thơ gay gắt, như định mệnh bức bách đánh dấu bằng âm đ cứng rắn – như trong những chữ đánh đấm, đạp đổ, đấu đá, đau đớn đối lập với câu sau, ung dung nhẹ thoáng, làm nổi bật những động từ phóng túng, tự do, thoải mái: thả, cưới, võng, trôi đưa đến hư không. Chữ thả dùng rất độc và đắt, nhắc đến những cuộc bố ráp của một quân đội viễn chinh vô kỷ luật” (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại).
Khi Đặng Tiến lẩy ra những từ có âm “đ”, một âm nổ, để nói về “định mệnh bức bách” tôi như nghe đâu đây tiếng đùng đoàng của súng đạn, của sự bất an mơ hồ, dẫu rằng súng đạn đã lùi xa.
Ông viết tiếp về mấy câu thơ vừa dẫn: “Thân phận người chị long đong: động từ cưới không rõ chủ từ, qua câu thơ, không rõ Quan Đốc đồng cưới chị hay ông ấy chỉ thả tịnh vàng cưới chị. Ai cưới, không biết, về đâu cũng không hay; chúng ta cảm giác một cuộc cưỡng hôn, hay một cuộc hôn nhân chắp nối trong giặc giã. Đau xót nhất là Em đã bảo: Chị đừng đi. (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại).
Có lẽ nền ngữ học, thi học phương Tây đã xúi ông cảm nhận màu sắc của các nguyên âm (như Rimbaud ngày nào đã cảm nhận trong bài “Những nguyên âm”:“A đen, E trắng, I đỏ, U lục, O xanh dương”). Từ hai câu thơ của Hoàng Cầm trong bài “Về với ta”:
“Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín”
Ông viết: “Câu thơ long lanh những thanh sắc gọi về tuổi thơ hoàng kim và bích ngọc, lấp lánh vàng xanh qua một loạt nguyên âm mở (a, ang…) ngây ngất, chao đảo dưới trời chiều, rồi thu vào màu sim tím gian truân rón rén sau những nguyên âm khép (i, im…) (Đặng Tiến- Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại).
Ông cảm nhận nhịp thơ, đặt trong những liên tưởng bất ngờ (mà ông nhiều lần gọi là “liên văn bản”) khiến nhịp điệu có dịp được phơi nhiễm với màu sắc:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
(Hoàng Cầm- Bên kia Sông Đuống)
“Dịu dàng, đằm thắm và trong sáng, nụ cười ánh lên đôi mắt; dù rằng câu thơ không nói gì về đôi mắt, ánh nắng và mùa thu vẫn tỏa ra từ cái nhìn hồn nhiên, đôn hậu, ngời niềm hạnh phúc ấm và sáng, lên đời sống nông thôn ảm đạm, xa xăm. Câu thơ sáu chữ đã xuất hiện từ lâu, từ trước thời Nguyễn Trãi, nhưng không thông dụng về sau; nhịp thơ tự do và khoan thai, nhẹ nhàng, cởi mở. Bốn âm bằng liên tiếp, trầm lặng và cởi mở, cười như mùa thu, chợt lóe lên tia sáng sắc cạnh của hai âm trắc tỏa nắng. Tia nắng bất ngờ nhắc chúng ta nhớ lại ánh nắng cuối thu đầu truyện Đôi bạn của Nhất Linh: “Ở ngoài, như ý mong ước của Trúc, trời bỗng nắng to’’ (Đặng Tiến- Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại)
Ông phân tích ngữ âm, kết hợp với từ vựng thật tài tình:
“Ước gì ta có ngựa say,
Con sông bên ấy bên này của ta.
Trời cao, bến lặng, bờ xa…
Lao đao gió sậy, la đà dặm trăng…
Một mai bên quán lại ngừng
Quẩy theo với rượu, một vừng giai nhân.
Ta say ngựa cũng tần ngần,
Trời cao xuống thấp, núi gần thêm xa.
Nhịp thơ linh động, so với nhịp đôi đều đều của lục bát: “bên ấy … bên này… bến lặng… bờ xa” như giọng lẩm nhẩm của người say, không còn phân biệt phương hướng, tả, hữu, trước, sau; đất liền và sông nước đều như nhau, đều “của ta”: say là chiếm hữu, là trấn ngự trần gian. Mải làm chủ trần gian nên quên cả mình, quên tự chủ. Và mơ hồ chữ nghĩa: “gió sậy” không “lao đao” mà chỉ lao xao, con người mới lao đao; dặm trăng chỉ lờ mờ, nếu cần thì la cà chứ không la đà, cành trúc mới la đà: âm thanh và hình khối nhòe nét. Nhưng lao đao và la đà vẫn có nét chung là mất thăng bằng qua âm l /đ luyến láy, như trong: lảo đảo, lênh đênh, long đong, lừ đừ, lờ đờ, lật đật, lận đận… (Đặng Tiến-Tưởng niệm 100 năm sinh Lưu Trọng Lư)
Ông vừa tỉ mẫn đong đếm vừa hào phóng liên tưởng khi viết về Nguyễn Bắc Sơn:
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui (Nguyễn Bắc Sơn-Mật khu Lê Hồng Phong)
“Điển hình cho thi pháp Nguyễn Bắc Sơn là từ vựng : câu đầu trên 7 chữ, đã có 5 từ diễn tả niềm hoang mang trước cuộc sống mỏng manh, bao quanh một chủ từ “ta” phù du hiu hắt; “mai” là cuộc sống đếm từng ngày ; động từ “đụng” vừa chủ động: có đi mới đụng, vừa thụ động vì có tính cách tình cờ, tai hại ngoài ý muốn: “anh đi nhè nhẹ, đụng giường má hay” . Người lính đụng trận như người thường đụng xe, đụng mưa ; bình thường, chính xác hơn, người khác sẽ nói: đụng giặc, đụng địch”. (Đặng Tiến-Nguyễn Bắc Sơn)
Liên văn bản, liên văn bản và liên văn bản: lập thể (stereo) chứ không phải đơn âm (mono)
Liên văn bản (intertextuality) là một khái niệm hấp dẫn trong lý thuyết văn học và ngôn ngữ học đương đại, chỉ ra mối dây ràng buộc tinh tế giữa các văn bản với nhau. Nói nôm na, với liên văn bản thì một văn bản không chỉ đứng độc lập, mà luôn giao hòa, kết nối với những văn bản khác thông qua sự dẫn chiếu, ám chỉ hoặc những ảnh hưởng tinh tế nào đó trong cấu trúc, phong cách và nội dung.
Qua liên văn bản, các tác phẩm văn học, thơ ca, hay thậm chí cả văn bản phi hư cấu, trở nên phong phú và đa tầng hơn. Đặng Tiến là một bậc thầy trong việc sử dụng liên văn bản.
Từ hai câu trong bài hát của Phạm Duy:
“Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già
Mưa nhiều, mưa nhiều càng tươi bông múa” (Phạm Duy-Bà mẹ quê)
Đặng Tiến mở ra không gian của ca dao và thời gian của mùa vụ, của tình yêu lứa đôi trên cái nền tự tình dân tộc: “Lời nhạc Phạm Duy đậm đà tình tự dân tộc vì bản thân anh thấm nhuần ca dao, tục ngữ và những làn điệu dân ca “từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời”. Lời ca Phạm Duy có khi cũng xa vời, nhưng vì nghe quen, chúng ta không còn để ý và lười tìm hiểu. Ví dụ mưa nhiều càng tươi bông lúa nói lên niềm tin lạc quan của người nông dân, qua tục ngữ trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa. Nhưng câu trên “ướt áo mẹ già” với ta chỉ là một hình ảnh cần lao vất vả, cảm động, ta quên rằng Phạm Duy đã rung cảm từ những câu hát đối đáp nam nữ :
- Trời mưa ướt bụi ướt bờ
Ướt cây ướt lá, ai ngờ ướt em
- Trời mưa ướt lá trầu vàng
Ướt em, em chịu, ướt chàng, em thương
(Đặng Tiến-Thương tiếc Phạm Duy 1921-2013: Nghe lại MẸ VIỆT NAM)
Liên văn bản trong bài viết của Đặng Tiến muôn hình vạn trạng, nhờ đó mà người đọc được theo ông chu du qua nhiều ranh giới không gian, thời gian. Chẳng hạn, “Con thuyền” trong ca từ Đoàn Chuẩn được ông dùng như một đầu vào để truy cập vào văn học cổ điển Trung Hoa và văn học, mỹ thuật đương đại Việt Nam:
“Hình ảnh chìa khóa trong ca khúc Đoàn Chuẩn không phải là những “Lá Thư”, “Tà Áo Xanh”, “Lá Đổ Muôn Chiều” như người ta thường nói, mà là con thuyền: Thuyền rời xa bến vắng người ơi. Con thuyền muôn đời, của ca dao, của Đường Thi, từ bến Tần Hoài của Đỗ Mục, đến bến Phong Kiều của Trương Kế - hay gần hơn - trong Xuân Diệu: Tình du khách thuyền qua không buộc chặt...
Ca khúc Đoàn Chuẩn là thế giới quy ước. Người phụ nữ tô quầng mắt, ngập ngừng trong chiếc áo nhung..., đôi mắt như hồ thu..., bên cầu ngồi xõa tóc thề... là người đẹp trong tranh Tố Nữ, tranh lụa, hay sơn dầu của Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị. (Đặng Tiến-ĐOÀN CHUẨN (1924 - 2001): TÌNH NGHỆ SĨ)
Hay chỉ với một từ “về” trong câu thơ của Hàn Mặc Tử “Sao anh không về chơi thôn Vỹ” Đặng Tiến cũng đưa người đọc du viễn với bao cuộc đi về nguồn cội, với những triết lí và tâm tình hiện đại trong nhạc Trịnh Công Sơn và Phạm Duy:
“Người Việt dùng chữ về để diễn tả sự trở lại : về nhà, về làng, về nước, về nguồn… ; người Huế, đi đến nhà bạn, ở xa, cũng dùng chữ “về”, thân ái, tâm tình. Mỗi tình bạn là một quê hương, một đợi chờ, “một cõi đi về” như tên bài hát người Huế Trịnh Công Sơn. Lại mang máng nhớ thêm : “Sao em không về…Trong cơn đau vùi…Làm sao có nhau…”. Phạm Duy, không phải người Huế, cũng viết Về Miền Trung, và đã tế nhị lập lại nhiều lần động từ về trong nghĩa tâm tình đó”. (Đặng Tiến-Hàn Mạc Tử và bài thơ thôn Vỹ).
Có thể nói, liên văn bản tháo tung biên giới của văn bản, tạo tính lập thể, nhiều chiều kích, đa tầng, giúp người đọc hiểu sâu, hiểu rộng hơn, thích thú hơn. Đặng Tiến có một vốn tri thức phong phú đáng kinh ngạc về văn học Phương Tây làm nền móng cho liên văn bản. Hãy đọc cách ông viết về một câu phủ định trong thơ Hoàng Cầm:
“Nghé con bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi” (Hoàng Cầm-Cây tam cúc)
“Trong bài thơ, chỉ có một câu phủ định, nhưng vô vọng. Làm sao “đừng lớn nữa” làm sao giữ mãi được cõi “thiên đường xanh những mối tình bé dại” (le vert paradis des amours enfantines) như lời thơ Baudelaire? Nhân vật Créon, cuối vở kịch Antigone của Anouilh cũng dặn chú tiểu đồng là “đừng lớn nữa” (Il faudrait ne jamais devenir grand). Vấn đề của Hoàng Cầm là không thoát ra khỏi được tuổi thơ. Hoàng Cầm ở tuổi sáu mươi, bảy mươi, làm thơ là để sống lại tuổi mười hai “trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi” (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm Truyền thống và hiện đại).
Tương tự, từ một buổi chiều xanh, một quả sim trong thơ Hoàng Cầm cũng đủ để Đặng Tiến đưa người đọc phiêu du sang trời Âu với quan điểm của Rimbeau về màu sắc của các nguyên âm, rồi về lại Việt Nam với Hàn Mặc Tử và ca dao.
Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
đi mãi tìm sim chẳng chín (Hoàng Cầm-Về với ta)
“[…] Buổi chiều xanh không biết tự thời nào:
Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc
(Hàn Mặc Tử)
Hay bầu trời Rimbaud:
Par les soirs bleus d’été j’irai par les sentiers
(Chiều hạ xanh những lối mòn chân nhỏ… )
Những dấu chân chim sẽ đưa ta về với ca dao:
Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương”
(Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm Truyền thống và hiện đại).
Liên văn bản đã trở thành bảo bối để Đặng Tiến mê hoặc người đọc, với những liên hệ bất ngờ. Chẳng hạn, từ “Cây tam cúc” của Hoàng Cầm, Đặng Tiến dẫn dụ người đọc vào thế giới xuân thì rạo rực của trẻ con nông thôn mới lớn và cả những ái ân già dặn của người lớn trong thơ Hồ Xuân Hương:
“Giấc mơ tình ái đã đến với Hoàng Cầm từ tuổi lên tám, bên cạnh cô hàng xóm tên Vinh tuổi gấp đôi. Tuổi thơ đã sớm phảng phất mùi tính dục với hơi tóc ấm… đọng tuổi đương thì, và hình ảnh rạo rực, tinh quái:
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Có lẽ trai gái chơi bài xong, mệt quá, lăn kềnh ra ngủ: hình ảnh mộc mạc hồn nhiên của quê nghèo. Chúng ta nhớ bài thơ "Cờ người” được gán cho Hồ Xuân Hương, có câu: Quân thiếp trắng, quân chàng đen, và Hồ Xuân Hương thường có lối chơi chữ như thế. (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm Truyền thống và hiện đại)
Thế giới của nghịch ngữ, của những từ ngữ gần âm, gần nghĩa hoặc trái nghĩa, thủ thuật viết ca từ của những rapper đương đại
Đặng Tiến là bậc thầy dùng nghịch ngữ và những từ ngữ gần âm gần nghĩa hoặc trái nghĩa, có thể gọi là chơi chữ.
Nghịch ngữ được hiểu một biện pháp tu từ diễn đạt các ý tưởng dường như mâu thuẫn hoặc trái ngược nhau nhưng lại chứa đựng một chân lý sâu xa hoặc mang ý nghĩa thâm thúy. Nghịch ngữ thường được sử dụng để kích thích tư duy, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc hoặc người nghe, có thể giúp làm sáng tỏ những vấn đề phức tạp bằng cách diễn đạt những ý tưởng trừu tượng theo cách bất ngờ và ngược đời. Đặng Tiến dùng muôn hình muôn vẻ nghịch ngữ:
“Ở Hàn Mặc Tử trăng là sự tương tranh đồng thời tương ứng giữa ánh sáng và bóng tối, vừa tương khắc vừa tương sinh. Trăng là Bóng Tối hết là Bóng Tối và Ánh Sáng chưa đủ là Ánh Sáng” (Đặng Tiến-Đức tin trong nguồn thơ Hàn Mạc Tử)
“Những tự do trong đời người, khi thuận chiều thời cuộc thì làm nên danh phận ; ngược chiều thời cuộc thì là số phận. (Đặng Tiến-Nhớ hai tiếng hát Hoàng Thi Thơ và Ngọc Bích)
“Hiểu như vậy là lìa xa văn bản, nhưng xích gần lại định mệnh thảm khốc của nhà thơ”. (Đặng Tiến-Hàn Mạc Tử và bài thơ thôn Vỹ)
“Hoàng Cầm làm thơ liên tục nhưng rời rạc trong hơn năm mươi năm. Những bài thơ xiêu lạc như những chiếc lá lìa cành:
Rồi lại chiều mai lại sớm kia
Lá không in dấu phận xa lìa
Cứ lang thang phố nhờ cơn gió
Nhè nhẹ sang hè rẽ lối khuya
(Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại)
Ngược với nghịch ngữ là những từ gần nghĩa. Nếu những từ gần nghĩa lại thêm gần âm thì càng tuyệt vời. Vỏ ngữ âm của ngôn ngữ loài người là có hạn, việc dùng những từ gần âm, gần nghĩa khiến người đọc cảm thấy vỏ ngữ âm (cái biểu đạt) đã được khai thác cạn kiệt, khai thác theo lối xả thân để phục vụ cho việc biểu nghĩa (cái được biểu đạt). Từ gần âm, gần nghĩa được Đặng Tiến sử dụng với tần suất cao, như tay đãi vàng miền Viễn Tây sàng đi sàng lại mớ bùn cát để tìm vàng:
“Ngay từ Sao khơi nguồn bài thơ đã là một từ ý nhị và tế nhị. Bình thường nó là từ nghi vấn. Nhưng khi viết ” Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung » thì Huy Cận không hỏi ai điều gì. (Đặng Tiến-Hàn Mạc Tử và bài thơ thôn Vỹ)
“-Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Thanh điệu làm nổi bật chữ “về”, dấu huyền, giữa câu, đáng lẽ phải là âm trắc theo quy luật Gió theo lối gió, mây đường mây. Chữ “về”, đắc địa và đắc ý, là một từ rất Huế”. (Đặng Tiến-Hàn Mạc Tử và bài thơ thôn Vỹ)
“Tuy nhiên giữa cuộc gặp gỡ đó, có điều khác nhau: Nguyên thủy trong thơ Đinh Hùng chỉ làm đề tài thi ca, cùng lắm là một ẩn ước. Ở Bùi Giáng là khối ẩn ức, hiểu theo nghĩa đẹp mà Bùi Giáng gọi là Mnemosyne, niềm nhớ nhung sâu kín, nỗi u hoài thao thiết, nguồn thi hứng chủ đạo.” (Đặng Tiến-BÙI GIÁNG-NGUỒN XUÂN).
“Còn lại một mình Em, giữa cảnh mây trôi tan tác. Gọi đôi là gọi Chị, gọi hạnh phúc, gọi vô cùng và vô vọng”. (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại)
“Huy Cận dân tộc trong tình cảm và hiện đại trong trí tuệ. Dĩ nhiên nói như vậy là sơ lược, thậm chí sơ đẳng. Nhưng tôi mạn phép giản lược, cho bài viết dễ hiểu, vì độc giả thường so sánh và thường hỏi: còn kẻ nọ người kia thì sao? (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại).
“Nghệ thuật, trong một giây lát nào đó, giải phóng con người nhọc nhằn và nhục nhằn, ra khỏi xã hội phong kiến đen ngòm:
Trai gái trong xã
Rút ống chân khỏi mực đen ngòm
Chạy ra bến sông khỏa ánh trăng mát rợi
Tiếng hát cất lên nhuộm mùi hoa bưởi”
(Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại)
“Mặt khác, anh muốn dựa vào hư cấu đậm màu huyền thoại để thí nghiệm một ngôn ngữ thi ca mới, bằng cú pháp, nhịp điệu và hình ảnh khác lạ khi dồn hết tâm can vào việc kiến tạo ngôn ngữ, Hoàng Cầm cũng đã giãi bày nhiều tình cảm riêng tư: Men đá vàng có lẽ là tác phẩm Hoàng Cầm mang nhiều ẩn ức và u uất nhất. (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại).
“Phạm Công Thiện nổi tiếng về nhiều câu văn khẳng định, chắc nịch, có khi quá kích hay quá khích, nhưng bản thân anh là khách hoài nghi. Từ đó, nói về anh, viết về anh là việc khó, như đưa dòng suối vào chai thì cũng là nước suối đấy thôi, nhưng một triệu chai không làm sống lại con suối. (Đặng Tiến-Nhớ thương Phạm Công Thiện).
“Và đồng nghiệp tương tác và tương đắc của mình, không thuộc đồng khoa dân tộc học, mà là nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson.
[…] Với ai được dịp gần ông, về mặt học thuật hay trong thực tế, Lévi-Strauss là tấm gương sáng, về lao động trí thức và về cách ứng phó với cuộc đời, trong một giai đoạn lịch sử nhiễu nhương, một trần gian đa đoan, và một nhân gian nhiễu sự. (Đặng Tiến-CLAUDE LÉVI-STRAUS)
“Xuân Như Ý tiếp đến là một vũ trụ thơm tho và tinh khiết vì là càn khôn mới dựng lên. Ở đây, nhà thơ như rợn ngợp trong trinh nguyên của Đất Mới, mà tượng trưng là con chiên con vô tật và vô tội, làm ngọn đèn trinh bạch rọi sáng cả hoàng thành”. (Đặng Tiến-Đức tin trong nguồn thơ Hàn Mạc Tử)
Nhiều khi, cũng là một từ, một cụm từ thôi nhưng Đặng Tiến đảo trật tự để làm mới, để khai thác khả năng diễn đạt của từ, nhất là tạo nhịp điệu, chẳng hạn hưng phế/phế hưng.
“Với tội kiêu căng, loài người phải chịu bao nhiêu hưng phế: từ Hồng Thủy cho đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa hủy tháp Babel, thành Sodome và Gomorrhe, bao nhiêu lớp bụi phế hưng đã lấp mất cánh đồng xanh lẫn “ít nhiều hơi hám của kiên trinh” (Đặng Tiến-Đức tin trong nguồn thơ Hàn Mạc Tử)
“Những lý luận trên đây không nhằm giảm giá tác phẩm Thanh Tịnh. Đó là những hậu quả, hay hiệu quả tự nhiên trong nghề cầm bút. Thanh Tịnh thuộc thế hệ tác giả phải vừa viết văn, làm thơ vừa học cách làm thơ, viết văn. (Đặng Tiến-THANH TỊNH, QUÊ MẸ)
Với cách dùng nghịch ngữ, từ gần âm, gần nghĩa, cách đảo trật tự như thế, có thể nói Đặng Tiến là phù thủy của nghệ thuật chơi chữ:
“Và đặc biệt Trịnh Công Sơn là người tăm tiếng mà không tai tiếng. Thính giả yêu thương ái ngại cho anh chàng nhạc sĩ tài hoa ngần ấy mà bao giờ cũng bị tình phụ mà không nghe nói phụ tình: Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. (Đặng Tiến-TRỊNH CÔNG SƠN tiếng hát hòa bình)
“Nói đến người phụ nữ Việt Nam, không thể chỉ dừng lại ở làn môi khóe mắt, mà phải nhắc đến mồ hôi nước mắt, những vất vả và thiệt thòi” (Đặng Tiến-Thơ Hoàng Cầm: Truyền thống và hiện đại)
Cách khai thác từ ngữ, đay đi đay lại với âm và nghĩa như vậy cũng là cách mà các rapper hiện đại dùng trong ca từ của họ.
Hãy nghe Đen Vâu:
"Mang tiền về cho mẹ. Đừng mang ưu phiền về cho mẹ" (Mang tiền về cho mẹ)
"Nếu mà mệt quá, giữa thành phố sống chồng lên nhau. Cùng lắm thì mình về quê, mình nuôi cá và trồng thêm rau" (Bài này chill phết)
"Chẳng cuộc chơi nào thắng mãi. Chẳng có đêm nào trắng hoài. Chẳng niềm đau nào đắng mãi. Chuyện tình vẫn đẹp dù chẳng kể ngắn dài" (Mưa trên những mái tôn)
Cách dùng từ ngữ giàu liên kết về âm và giàu liên tưởng về nghĩa như vậy của Đặng Tiến không chỉ thấy trong các bài phê bình, ông còn thể hiện trong bản dịch tài hoa bài thơ “Cầu Mirabeau” nổi tiếng của Apollinaire. Có nhiều người dịch rất hay bài này, nhưng tôi thích nhất bản dịch của Đặng Tiến, bởi bản dịch dùng rất đắc địa những từ ngữ giàu liên kết về âm và giàu liên tưởng về nghĩa.
Le pont Mirabeau
Guillaume Apollinaire
Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu'il m'en souvienne
La joie venait toujours après la peine
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l'onde si lasse
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
L'amour s'en va comme cette eau courante
L'amour s'en va
Comme la vie est lente
Et comme l'Espérance est violente
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure
Guillaume Apollinaire
Bản dịch của Đặng Tiến, tài hoa từng chi tiết, đặc biệt với những dòng được nhắc đi nhắc lại “Hãy đến đêm hãy điểm giờ/ Ngày tháng trôi tôi trơ vơ”:
Cầu Mirabeau
Dưới cầu Mi-ra-bô xuôi sông Xen
Và tình ta
Cần chăng mà nhớ mãi
Buồn sẽ qua và niềm vui trở lại
Hãy đến đêm hãy điểm giờ
Ngày tháng trôi tôi trơ vơ
Tay trong tay cùng nhìn nhau đối diện
Dưới vòng tay
Bắc cầu mãi trôi đi
Làn sóng mệt nhoài ánh nhìn vĩnh viễn
Hãy đến đêm hãy điểm giờ
Ngày tháng trôi tôi trơ vơ
Tình ra đi như con nước xuôi dòng
Tình ra đi
Đời sao là chậm chạp
Và sao là khốc liệt nỗi Chờ Mong
Hãy đến đêm hãy điểm giờ
Ngày tháng trôi tôi trơ vơ
Ngày lại qua ngày tháng tháng cũng qua
Thời gian qua
Như tình không trở lại
Dưới cầu Mi-ra-bô xuôi sông Xen
Hãy đến đêm hãy điểm giờ
Ngày tháng trôi tôi trơ vơ
(Còn nữa)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét