Thứ Ba, 18 tháng 3, 2025

"VŨ TRỤ" LÀ GÌ? Nguồn gốc của từ "vũ trụ" - Tác giả Ung Chu (Hán Việt thông dụng)

Cách nay khoảng hơn 1500 năm, người Hán đã dịch thuật ngữ Phật giáo "lokadhātu" लोकधातु trong tiếng Phạn thành "thế giới" 世界. Trong đó, "giới" 界 nghĩa là cõi - một khái niệm về không gian rộng lớn, "thế" 世 là từ để nói về thời gian trải dài. Cách gán hình dung về sự vô hạn của không gian và thời gian để mô tả vũ trụ một cách triết học cũng thể hiện qua từ "vũ trụ" 宇宙 của người Hán. "Vũ" 宇 chỉ sự rộng lớn bất tận về không gian, như trong "hoàn vũ" 寰宇, "trụ" 宙 mang ý là từ xưa đến nay, là sự kéo dài vô hạn về thời gian.

Tác phẩm "Thi Tử" 尸子 (thế kỉ 4 TCN) thời Chiến Quốc 戰國 định nghĩa:
上下四方曰宇 往古来今曰宙
Thượng hạ tứ phương viết vũ, vãng cổ lai kim viết trụ.
Nghĩa là: Trên dưới 4 phương gọi là "vũ" 宇, từ xưa đến nay gọi là "trụ" 宙.

Tương tự, tác phẩm "Hoài Nam Tử" 淮南子 (khoảng thế kỉ 2 TCN) thời Tây Hán 西漢 định nghĩa:
往古來今謂之宙 四方上下謂之宇
Vãng cổ lai kim vị chi trụ, tứ phương thượng hạ vị chi vũ.
Nghĩa là: Từ xưa đến nay gọi là "trụ" 宙, 4 phương trên dưới gọi là "vũ" 宇.

Tổ hợp "vũ trụ" 宇宙 ghi nhận sớm nhất trên văn bản trong tác phẩm "Trang Tử" 莊子 (thế kỉ 3 TCN, người Việt còn gọi là "Nam Hoa kinh" 南華經): "Hề bàng nhật nguyệt, hiệp vũ trụ" 奚旁日月 挾宇宙.

"Vũ" 宇 thường được chú giải là mái nhà, "trụ" 宙 thường được chú giải là rường cột đỡ mái nhà. Thiên "Lãm minh huấn" 覽冥訓 trong "Hoài Nam Tử" 淮南子 có câu:
鳳凰之翔至德也 雷霆不作 風雨不興 川穀不澹 草木不搖 而燕雀佼之 以為不能與之爭於宇宙之間
Phụng hoàng chi tường chí đức dã, lôi đình bất tác, phong vũ bất hưng, xuyên cốc bất đạm, thảo mộc bất dao, nhi yến tước giảo chi, dĩ vi bất năng dữ chi tranh ư vũ trụ chi gian
Nghĩa là: Đức lớn phượng hoàng bay liệng, sấm sét gió mưa không nổi lên, sông nước và hoa màu cỏ cây không nhấp nhô dao động, nhưng én và sẻ xảo quyệt, cho rằng phượng hoàng không thể tranh đấu với chúng ở chỗ rường mái. Học giả Cao Dụ 高誘 thời Đông Hán 東漢 chú giải: "Vũ, ốc diêm dã; trụ, đống lương dã" 宇屋簷也 宙棟梁也 ("Vũ" 宇 là mái nhà, "trụ" 宙 là rường cột).

Cả 2 chữ này đều mang bộ "miên" 宀 là hình vẽ nhà có mái. Việc dùng "vũ" 宇 chỉ sự rộng lớn bất tận về không gian, "trụ" 宙 chỉ sự kéo dài vô hạn về thời gian được xem là phép hoán dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy rường mái mà chỉ toàn bộ không gian được bao trùm.

Khi sở hữu tri thức thiên văn học mới, người ở vùng văn hoá Hán tự đã dùng "vũ trụ" 宇宙 để nói về không gian, thời gian bao la rộng lớn và toàn bộ những thứ tồn tại và diễn ra bên trong nó. Một khái niệm đậm tính triết học của cổ nhân đã trở thành thuật ngữ khoa học. Tiếng Nhật đọc là "u-chū" うちゅう, tiếng Hàn đọc là "u-ju" 우주.

Nhớ lại đoạn đầu tiên trong bài thơ ngàn chữ (4 × 250) "Thiên tự văn" 千字文 của Chu Hưng Tự 周興嗣 (thế kỉ 6) xưa nay được dùng làm bài học 1000 chữ Nho vỡ lòng:
天地玄黃 宇宙洪荒
日月盈昃 辰宿列張
寒來暑往 秋收冬藏
閏餘成歲 律呂調陽
雲騰致雨 露結為霜
Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang
Nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt trương
Hàn lai thử vãng, thu thâu đông tàng
Nhuận dư thành tuế, luật lữ điệu dương
Vân đằng trí vũ, lộ kết vi sương

Các bạn đã thấy trình độ tri thức khoa học của cổ nhân chưa nè?

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...