Tóm tắt: Lâu nay, có một số người viết về lễ ăn trâu của các tộc người ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, nhưng hầu như ít khi đặt vấn đề nên duy trì hay loại bỏ, vì liên quan đến nhiều vấn đề nhạy cảm khác nhau. Bài viết này đặt lại vấn đề này qua khảo sát về lễ ăn trâu của người Ca dong ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, là lễ hội lớn nhất trong năm của tộc người trên miền sơn cước này, chứa đựng nhiều giá trị văn hoá tộc người, nhưng cũng có nhiều vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội đương đại. Nội dung trình bày, bao gồm: Mục đích, diễn trình lễ ăn trâu của người Ca dong và một vài vấn đề đặt ra.
Từ khoá: Lễ ăn trâu, Kă kapơ, Ca dong, miền núi Quảng Ngãi, huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi
1. Khái quát về người Ca dong ở huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi
Huyện Sơn Tây gồm có 9 xã: Sơn Mùa, Sơn Liên, Sơn Bua, Sơn Dung, Sơn Long, Sơn Lập, Sơn Tinh, Sơn Màu, Sơn Tân, là huyện nằm về phía tây tỉnh Quảng Ngãi, có phía đông, đông nam giáp huyện Sơn Hà; phía tây nam giáp huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum; phía tây bắc giáp huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam; phía bắc giáp huyện Trà Bồng. Trung tâm huyện lỵ Sơn Tây (tại xã Sơn Mùa), cách thành phố Quảng Ngãi 80km về hướng Tây.
Đến năm 2022, tổng số dân trên huyện Sơn Tây hơn 21.000 người, trong đó gần 17.500 người Ca dong, còn lại người Hrê và người Kinh.
Trong sách Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum[1] của GS Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên và các tác giả), xuất bản năm 1981, xếp Ca dong là một trong 5 nhóm địa phương của dân tộc Xơ đăng ở Gia Lai - Công Tum, gồm: Xơ teng, Mơ nâm, Ca dong, Ha lăng; và Ca dong là tên gọi “mới được phổ biến rộng rãi đối với người Ca dong ở huyện Trà My”[2] (không nhắc đến người Ca dong ở Quảng Ngãi). Đến năm 1984, trong công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam có ghi: Ca dong là một trong 5 nhóm người của dân tộc Xơ đăng, gồm: Xơ teng, Tơ đrá, Mơ nâm, Ca dong, Hà lăng[3]. Trong cuốn Người Xơ đăng ở Việt Nam, của Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, xuất bản 1998, do GS Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, cũng viết tương tự[4]. Tuy nhiên, theo bài viết Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, năm 2016, và bản đồ phân bố các tộc người ở miền Trung bao gồm cả Tây Nguyên, kèm theo bài, GS.TS Nguyễn Văn Huy (Đại học Paris), xem người Ca dong là một tộc người/ dân tộc riêng, không nằm trong dân tộc Xơ đăng, và ông viết là dân tộc/tộc người Kayong[5].
Cho đến nay, người Ca dong ở huyện Sơn Tây và cũng như người Ca dong sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (chỉ một ít ở xã Trà Xinh, huyện Trà Bồng), không thừa nhận họ là người Xơ đăng, và tự gọi là người Kayong (như GS Nguyễn Văn Huy và một số người viết). Về vấn đề này, chúng tôi sẽ xin trình bày trong một dịp khác, mặc dầu chúng tôi thiên về cách gọi tộc người này là Kayong, như cách họ tự gọi, và là một tộc người/dân tộc riêng, không phải là một nhóm địa phương nằm trong dân tộc Xơ đăng (Sedang). Nhưng trong bài viết này, chúng tôi vẫn dùng cách viết là Ca dong, là một tên gọi khác của dân tộc Xơ đăng, như cách ghi trong Danh mục các dân tộc Việt Nam do Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành vào năm 1979 và được Ủy ban Dân tộc và Chính phủ Việt Nam công nhận.
Khác với các tộc người láng giềng, như người Cor, người Hrê, người Ca dong ở huyện Sơn Tây vẫn còn giữ được nếp sống sinh hoạt trên các ngôi nhà sàn. Họ không thích ở nhà trệt. Nếu gia đình nào có nhà trệt, thì họ vẫn giữ ngôi nhà sàn truyền thống, hoặc làm một ngôi nhà sàn bằng gỗ hay tre nứa bên cạnh. Có lẽ, cũng nhờ nếp sinh hoạt trong ngôi nhà sàn, nên cho đến nay, người Ca dong ở huyện Sơn Tây, Quảng Ngãi vẫn gìn giữ và trao truyền có hiệu quả các giá trị di sản văn hoá tộc người. Các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ theo chu kỳ cây lúa rẫy theo truyền thống của tộc người vẫn còn được trao truyền, như là lễ mừng lúa mới, lễ ăn lúa giống thừa, lễ cúng nguồn nước, lễ phát rẫy phép, lễ Tết Ôh Khrêh… đặc biệt là lễ ăn trâu. Mỗi năm, cứ vào tháng 3 tháng 4, trong huyện Sơn Tây có hàng chục lễ ăn trâu, chủ yếu diễn ra tại các xã: Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Tinh.
2. Diễn trình hội ăn trâu của người Ca dong huyện Sơn Tây
Người Ca dong gọi kă kapơ, hay kă kapư, là ăn trâu (kă là ăn, kapơ hay kapư là trâu). Lễ ăn trâu là ngày hội lớn nhất trong năm của người Ca dong ở miền núi Quảng Ngãi, là lễ thức của gia đình, nhưng có sự tham gia của cộng đồng, thậm chí, có lễ ăn trâu có hằng nghìn người tham dự.
2.1. Nhiều mục đích khác nhau
Dù từng bị cấm đoán từ những năm 80 của thế kỷ trước, vì lý do giảm sức kéo cày, vì bị xem là “dã man” - theo cái nhìn của người miền xuôi, vì sự kiệt quệ kinh tế của gia đình, làng xã - theo cái nhìn của các cơ quan chức năng, nhưng cho đến nay, ở các xã Sơn Dung, Sơn Bua, Sơn Mùa, hầu như năm nào cũng có tổ chức lễ ăn trâu của gia đình, có năm trong mỗi xã có đến 4-5 lễ ăn trâu.
Hầu hết người Ca dong ở miền núi Quảng Ngãi tổ chức hội ăn trâu theo đúng chu kỳ mùa nông lịch mới - mùa đi phát rẫy phép: tháng 3, tháng 4[6], thi thoảng cũng tổ chức vào những tháng khác, nhưng chỉ giản đơn là để cầu sức khoẻ[7].
Do không có điều kiện để tham dự đầy đủ tất cả các lễ ăn trâu ở huyện Sơn Tây, nhưng trong những năm qua, chúng tôi cũng đã tham dự hơn 20 lễ ăn trâu của người Ca dong ở vùng đất này, trong đó có những lễ ăn trâu chúng tôi chỉ có điều kiện tham dự 11 ngày, thậm chí có lễ chỉ dự được 2 ngày chánh lễ (xem liệt kê ở mục chú thích)[8]. Khi được hỏi, tổ chức lễ ăn trâu để làm gì, những người chủ gia đình đều trả lời na ná giống nhau, là để cầu sức khoẻ, để tạ ơn thần linh, tổ tiên, đã giúp một ai đó trong gia đình bình an, để tạ ơn bà con, xóm giềng, sau bao năm nguyện ước, là dịp được gặp mặt bà con, bạn bè ở xa, mà lúc những lúc bình thường khó bề gặp được.
Nhưng không chỉ có thế, trong lời nguyện ước thực hiện lễ ăn trâu, qua khảo sát, chúng tôi còn nhận ra, đây còn là dịp trả lễ cho hàng xóm láng giềng, là dịp cố vượt lên nỗi ám ảnh mặc cảm nghèo khó, là dịp để xoá tan nỗi niềm như “ăn chực” trâu, heo, của những gia đình từng tổ chức lễ trước đây, là dịp cố để minh chứng là gia đình đã khá giả, đã đủ đầy.
Khi khảo sát lễ ăn trâu ở làng Mnông Gar, Georges Condominas còn nhấn mạnh thêm, đại ý rằng: Lễ cúng trâu, hay lễ ăn trâu còn chứng tỏ một người đã vươn tới quyền lực, củng cố uy quyền cá nhân, đem lại bằng chứng rõ ràng về địa vị của họ[9].
Theo ký ức của nhiều người lớn tuổi, trước đây, người Ca dong ở Sơn Tây, còn tổ chức lễ ăn trâu khi họ chuyển làng mới, hoặc mừng chiến thắng giữa các bộ lạc, các nhóm tộc người khác nhau, hoặc ăn thề kết nghĩa giữa các nhóm tộc người, giữa các plây. Trong những năm chống Pháp, chống Mỹ, các thủ lĩnh người Ca dong còn đứng ra làm lễ ăn trâu để làm cố kết cộng đồng tộc người nhằm chống Pháp, chống Mỹ. Các hình thức ăn trâu mừng chiến thắng, ăn thề kết nghĩa…, cũng là ngày hội chung của cộng đồng, chiêng trống, ca hát vang dậy núi rừng, như lễ ăn trâu hiện nay còn tồn tại. Nhưng đến nay các hình thức ăn trâu dạng mừng chiến thắng, ăn thề, kết nghĩa… đã không còn tổ chức trên vùng núi Sơn Tây nữa.
Cùng với các hình thức ăn trâu nêu trên, đến giờ, thi thoảng trong một ít plây Ca dong có làm lễ ăn trâu chia của cho người chết, hoặc vì “ông bà báo mộng đòi ăn trâu”, hay vì bất lực trước bệnh tật phải cầu viện thần linh. Nhưng người Ca dong chỉ gọi lễ thức này là vít kapơ hay pấc kapơ (đâm trâu), mà không gọi kă kapơ, bởi họ chỉ lặng lẽ đâm trâu hiến tế, chia của, chứ không tưng bừng như ngày hội ăn trâu chuẩn bị mùa rẫy mới, mừng làng mới, mừng chiến thắng…[10]
Như vậy, có thể nói, để tổ chức ăn trâu, chắc hẳn người Ca dong trên miền núi cao Quảng Ngãi có nhiều lý do, nhiều mục đích, dẫu đậm nhạt khác nhau.
2.2. Thời gian vào hội và làm cây nêu - cột lễ ăn trâu
Để thực hiện lời nguyện, người Ca dong lấy mây đan thành một chiếc vòng hẹn ước, mà họ gọi là vòng đhean (hay còn viết là đhing), có đường kính chừng 2-3 tấc. Lời hứa cùng thần linh, tổ tiên và các nỗi niềm khác được đan cùng trong vòng đhean đó. Mỗi ngày, họ nhìn chiếc vòng đặt trong “mủng hồn” để không bao giờ xao nhãng lời hẹn ước của họ. Đã hẹn ước 5 năm hay 7 năm phải làm lễ ăn trâu, thì phải thực hiện, dẫu khó khăn đến mấy. Lúa, nếp phải tiết kiệm, tích trữ; trâu, heo, gà phải cố nuôi; y phục, trang sức và các đồ dùng sinh hoạt phải dần mua sắm...
Việc chuẩn bị cho lễ ăn trâu, tất nhiên dài ngày, nhưng lịch trình lễ hội ăn trâu chính thức của người Ca dong huyện Sơn Tây là 13 ngày, hoặc 15 ngày, tính từ ngày ủ rượu cần, hoặc ngày cúng Yă Co - nữ thần cai quản nguồn nước[11] (được tính là ngày thứ nhất), đến khi kết thúc lễ.
Để ủ rượu cần gia đình phải chuẩn bị các bánh men trước đó, tựa như làm bánh men cho Tết Năm mới. Phụ nữ giã gạo, nấu cơm, lên rẫy nhổ củ mì về luộc chín. Trên dưới 20 ché rượu bằng gạo, nếp, hoặc củ mì, là số rượu trung bình cho mỗi cuộc hội ăn trâu gia đình mà họ phải chuẩn bị.
Từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 5, nhiều bà con trong làng, ngoài làng, bằng sự tự nguyện, có thể đến góp củi, gạo, muối, dầu ăn, bột ngọt…, cho mượn cả nồi đồng, chén bát, thậm chí chiêng, ché, nếu gia đình tổ chức lễ ăn trâu không đủ những thứ ấy. Đàn ông, con trai trong làng tự nguyện góp sức làm nêu, trang trí mái nhà, cầu thang, chỉnh chiêng, san bằng chỗ dựng nêu và hội cacheo.
Để có chỗ cho khách ở xa về ngủ, nghỉ, ăn uống, và cũng để có chỗ làm nêu, chơi chiêng, người Ca dong phải làm thêm sàn tạm bằng tre nứa, nối bên hông phía tây của ngôi nhà, chỗ 2 cửa amok (bok - cửa sổ).
Mùa ăn trâu chính là mùa trái reang kalung nở bung cánh trắng, nên trước đây, khi người Ca dong chưa biết tính ngày tháng như bây giờ, họ nhìn trái reang kalung nở bung cánh trắng trên khắp núi rừng là biết đã đến mùa ăn trâu. Khi ấy, đàn ông, con trai phải vào rừng hái trái reang kalung mang về cất giữ nơi khô ráo. Trái reang kalung già, rồi khô đi, có hình dạng như trái phượng vĩ khô, nhưng trong ruột lại xếp chồng những cánh trắng tinh, mềm mại. Với người Ca dong, trái reang kalung là một trái thiêng, là trái của thần linh ban cho họ, nên không thể dùng loại vật liệu khác thay thế để làm cây nêu, vì cây nêu chính là cột lễ dâng hiến cho thần linh. Cùng với hái reang kalung, những người đàn ông, con trai trong làng cũng đến giúp gia đình tổ chức lễ ăn trâu, như: đi chặt đót, tre, nứa, gỗ về làm các loại cây nêu, đặc biệt cây nêu lớn, làm nhà sàn phụ. Phụ nữ trong làng đi lên rừng kiếm củi, hái rau, đốn chuối non… Ông chủ, bà chủ trong nhà phải đi mời bà con thân thuộc, sui gia, láng giềng, không chỉ trong một plây, một thôn, một xã, hay vài ba xã trong huyện, mà có khi phải băng rừng, lội suối đến tận Trà Vân - Nam Trà My (Quảng Nam), hay tận Ngok Tem, Đắk Trên, Kon Plong (Kon Tum).
Để làm lễ ăn trâu, con vật hiến sinh chính, dĩ nhiên là: Con trâu. Con trâu hiến sinh thường phải là trâu đực[12], không tì vết, khoẻ mạnh, có thể là do gia đình nuôi trong rừng hay đi mua, hoặc trao đổi với người khác vật có giá trị tương đương. Nếu phải đi mua để trao đổi, thì để tìm mua một con trâu hiến sinh vừa ý cũng lắm đỗi nhọc nhằn, đôi khi padâu và người chủ gia đình phải đi qua nhiều plây, nhiều cánh rừng. Người bán hoặc người được đổi trâu cũng “hãnh diện” và vui mừng, vì trâu họ nuôi được chọn để hiến tế thần linh, cũng là được hưởng lây phúc đức.
Trong lễ ăn trâu, người Ca dong chỉ cần một con trâu hiến sinh, chứ không phải 2 con hoặc nhiều đến 11 con trâu (trong số 13 con của làng) phải hiến sinh, như ở làng Hmông Gar mà Condominas đã kể[13]. Khi đã lựa chọn được con trâu dùng để hiến sinh, trong suốt nhiều tháng, người Ca dong phải cử người chăm sóc, phải tìm những ngọn cỏ ngon nhất cho trâu ăn. Đến lúc ủ rượu cần, hay cúng thần Nước (Yă Co), là lúc bắt đầu làm nêu (tức vào ngày đầu tiên của lịch trình chính thức của lễ hội), ông chủ hoặc con trai trong nhà phải dắt trâu về nhốt trong chuồng - là cái chuồng mới được làm, sau khi cúng đuổi tà ma và cầu thần Yang Ta Neh phò trợ, bằng gà, hoặc heo. Từ ngày đưa trâu về chuồng, mỗi lần cho trâu ăn, người chủ gia đình cũng phải ăn phép những ngọn cỏ hnoong[14], trước khi cho trâu ăn. Bởi họ xem trâu là hoá thân của con người, nên trâu phải ăn như con người, và có như thế, thì khi hiến sinh, hồn trâu mới “vui vẻ” thay mặt cho con người tiếp xúc với thần Tarok và các thần linh khác.
Cùng với con trâu, vật thiêng chứ hai để giao tiếp với thần linh, đó là cây nêu (loong gâng). Vì xem cây nêu là cột thông gian giữa cộng đồng người với thế giới thần linh, nên người Ca dong quan tâm đặc biệt đến việc làm cây nêu – cột lễ chính trong lễ hội ăn trâu.
Cây nêu trong lễ ăn trâu của người Ca dong cơ bản giống nhau. Độ cao trung bình chừng gần 30 m, tính từ phần gốc đến phần ngọn, chia làm 3 tầng: tầng gốc, tầng giữa và tầng ngọn.
Tầng gốc được làm bằng gỗ chò hoặc gỗ sến, hình trụ tròn, đường kính khoảng 20cm, dài chừng 4m (gọi là chak xiâm gâng). Cách mặt đất chừng 1,5 m, thuộc tầng gốc, có vung veang[15] làm bằng gỗ, 4 cánh, hình lưỡi mác, sơn theo kiểu sọc ngang, các màu: đen, đỏ, trắng, trong đó màu đen là chủ đạo, với các hoạ tiết khác nhau, thậm chí còn vẽ hình người trên thân cây (như trên cây nêu của gia đình ông Đinh Ka La, ở thôn Nước Min, xã Sơn Mùa, trong lễ ăn trâu vào tháng 4 năm 2007), hoặc viết tên cả người chủ gia đình trên cánh vung veang (như cây nêu của ông Đinh Văn Lá, ở thôn Nước Lang, xã Sơn Dung, vào tháng 4 năm 2021). Phần trên cùng của tầng gốc (glâng) có gắn bàn gỗ hình đĩa tròn (gâng xiâm), có đường kính chừng 40-50cm, là “chiếu nghỉ”, hay “mâm ngồi” cho thần Tarok và các yang trên trời xuống ăn trâu. Trên glâng người ta gắn các chu wuk - là những miếng gỗ đẽo cong như ngọn rau dớn, vươn lên đều 4 phía, và treo các cring ning (chuông) bằng nứa nhỏ chung quanh. Từ chu wuk người Ca dong lấy 4 dây mây xâu ruột cây hố, đặt xen kẽ các tua ngắn như chuỗi cườm lớn được sơn nhiều màu sặc sỡ, rồi buộc vào 04 góc của vung veang. Còn dải dây đan bằng nứa mỏng gọi là yi zoai ka được treo từ giữa tầng hai của cây nêu (chang vay). Trên yi zoai ka có treo các linh vật bằng gỗ như cho croh, một con gà trống, một con gà mái, nhái, cá niêng, cachui (cái gùi đàn ông)….
Trên cột nêu từ tầng vung veang đến tầng chu wuk, có trang trí nhiều hoa văn sọc ngang đỏ, đen, trắng, quanh thân cây, mà theo các nghệ nhân Ca dong, đó là hình răng trâu, tai hổ, lá đùng đình, rơmoang (khăn quàng) của đàn ông…
Tầng giữa, được làm bằng tre lồ ô (tanrôp), dài chừng 8m. Ở dưới tầng giữa có gắn chang vay, 4 cánh, như hình 4 ngọn rau dớn vươn lên không trung. Ở giữa tầng giữa có gắn glâng hình như chiếc đĩa tròn bằng gỗ, mà theo người Ca dong là nơi Tarok - ông Trời và các yang “xuống nghỉ”, trước khi theo dây chỉ màu trắng kết như hình chiếc thang, để trèo xuống một chiếu nghỉ ở tầng gốc, rồi tiếp tục theo chiếc thang bằng chỉ (yi zoai ka) leo xuống tầng vung veang để nhận con vật hiến sinh. Ở đoạn trên cùng của tầng giữa, người Ca dong gắn hình một con chim hang (hình chim phượng hoàng đất) bằng gỗ, được gọt, đẽo rất công phu, phết màu đen, trắng, đỏ[16]. Mỏ chim hang ngậm miếng bông reang kalung, 2 cánh chim được treo 2 chuỗi cring ning bằng ống nứa, được xâu bằng hạt cườm trắng - là loại hạt từ cây họ bo bo mọc dưới suối, có tên gọi là kloong ravông. Tại đuôi chim hang có gắn tấm phướn hình tam giác (clă acleang), đầu nhọn lên trời, được sơn màu đen, đỏ, trắng, có những hình ô hộc hình vuông, hình tam giác. Đáy phướn có gắn cring ning bằng cọng bông cây lau. Người Ca dong quan niệm: Chim hang chính là con vật cưỡi của thần Tarok - vị thần của các vị thần - nên chim hang là linh vật chính trên cây nêu. Tấm phướn vừa như đuôi chim hang, vừa như để xua đuổi ma quỷ.
Tầng ngọn (chak goai), được làm bằng ống nứa, có treo nhiều dải reang kalung màu trắng, kết chùm với vỏ trái reang kalung được cắt thành hình tam giác, có 3 bậc, treo các reang krum. Hình chim vlink (chèo bẻo) màu đen - được cho là biểu tượng của người Ca dong, như để mời gọi các thần linh, được treo trên đỉnh của tầng ngọn[17].
Để buộc trâu vào cột, người Ca dong còn lên rừng chặt mây về làm các nài buộc trâu, gồm: một nài hình tròn, đan rất công phu, có đường kính chừng 40 cm, để xỏ vào gốc cây nêu, và cũng là nài sẽ cột trâu vào đó; một dây cũng được đan công phu, nhưng hình dẹp (gọi là vră) dùng để nối từ cầu thang nhà sàn ra đến tận nơi buộc đầu trâu.
Cùng với việc làm nêu, đàn ông, con trai còn làm những đồ trang trí khác trên mái nhà, trong nhà, cầu thang… Mái nhà được cột những thanh tre, nứa, dọc, ngang, và trên đó còn có treo các dải băng bằng nứa tuốt nhỏ như những dải bông thả xuống lưng chừng. Người Ca dong gọi dải bông này là kamui. Cuối và đầu kamui có nhuộm màu bằng nước nấu hỗn hợp, gồm lá trầu, hạt cau và bột nghệ. Giữa dải băng có vết nhuộm đen bằng nhọ nồi. Người Ca dong quan niệm, mái nhà cũng là nơi thần linh về ngự trị để dự ăn trâu, nên cần phải trang trí mái nhà thật đẹp. Tại khu vực bếp, như để che ấm cho thần giữ lửa, người ta cũng lấy nứa, tre lồ ô đan thành những tấm phên, có các khung đỡ. Trên đầu khung đỡ có treo các dải hoa bằng nứa (kamui), tựa như các dải hoa thả thòng xuống trên cây nêu và trên mái nhà[18].
Để trang trí trong nhà, người Ca dong còn làm cho croh - tựa như cho croh trên tầng giữa cây nêu, nhưng lớn hơn, treo trong vách nhà. Cho croh được làm bằng gỗ, có 2 đầu đẽo cong lên như chong chóng, được sơn màu đen, đỏ, trắng, có hạt cườm bằng cloong ravong, cring ning bằng nứa (có khi đến 20 cring nink). Trong lễ hội ăn trâu, thoạt nhìn, cho croh chỉ như một thứ nhạc cụ, vì có gắn cring ning bằng nứa, góp cùng tiếng chiêng hlênh, chiêng hanâng, các điệu nhảy của người Ca dong, nhưng đó chính là biểu tượng cho linh vật giữ cửa, giữ nhà - theo các già làng thôn Nước Min - Sơn Mùa.
Từ lời giải thích của các già làng, chúng tôi suy đoán: Linh vật này chắc hẳn liên quan đến tục hèm trong nghi lễ của cộng đồng của người Ca dong. Cho croh nhắc nhở về thuỷ tổ trong truyền thuyết về người mẹ thuỷ tổ của người Ca dong, lẫn người Hrê (và các đồng tộc láng giềng khác) với con chó trong trận đại hồng thuỷ mà nhiều người Ca dong lẫn Hrê còn truyền khẩu[19].
Tuy nhiên, cũng có ý kiến giải thích rằng: Cho croh có 2 nghĩa, nếu croh là danh từ, thì đó là cái, là mẹ; cho croh là chó cái, chó mẹ[20]. Nếu theo cách hiểu này, thì có thể linh vật này gắn liền với tín ngưỡng phồn thực, cầu mong cho sự sinh sôi, nảy nở.
Cùng với cho croh, trên xà nhà, nơi gian giữa nhà sàn còn treo biểu tượng Mặt khê (mặt trăng), với ý nghĩa để soi sáng cho ngôi nhà sàn, và cũng là nơi thần “thấy đường về” nhà sàn, nơi thần và người cùng chạm vào đó. Trên Mặt khê, người Ca dong cũng khắc nhiều hoa văn gần như cho kroh.
2.3. Những ngày chính hội
Lễ dựng nêu và buộc trâu
Vào ngày thứ 7, tính từ lúc ủ rượu cần, người Ca dong bắt đầu thực hiện những nghi lễ chính của hội ăn trâu ngay từ sáng sớm. Bao gồm các lễ thức: cúng trong nhà, cúng máng nước, cúng đầu ngõ, dựng nêu và cúng cây nêu (chính), lễ tarih - khai chiêng (hanrâm chink), khai hội cacheo.
Lễ cúng trong nhà thực hiện nơi cây cột thiêng - gần bếp lửa. Con heo hiến tế cho thần Hmô Pâng - thần Bếp, cúng Hwoanh (cầu sức khoẻ), sẽ được chọc tiết tại đây. Tiết heo sẽ được padâu bôi lên trán các thành viên cho gia đình. Đó là một thứ năng lượng thiêng được truyền cho con người.
Tại đầu ngõ, tại ngã ba đường, tại máng nước, người Ca dong cũng làm những cây nêu nhỏ bằng nứa, có dây chỉ làm thang (yi zoai ka) cho các vị thần, có các giàn cúng bày biện lễ vật cho các thần linh và những người đã khuất theo thứ bậc. Thầy cúng và ông chủ gia đình cũng sẽ cúng thần Tarok, Mat hi - Mat khê, Yang Ta Neh, Yă Co Yă Vuei, keak kachok… và cũng để khấn mời ông bà - những người đã mất về dự lễ ăn trâu cùng gia đình và làng xóm. Cúng đầu ngõ thường chỉ hiến tế gà mái nhỏ, cúng ngã ba đường, cúng máng nước, thường hiến tế bằng heo nhỏ lẫn gà. Khi nhìn cây nêu, nhìn lễ vật hiến tế cũng có thể thấy thứ bậc của nghi lễ, mà ở đó chứa đựng sự coi trọng cộng đồng làng và cộng đồng gia tộc.
Trong ngày thứ 7 này, lễ dựng nêu (cột thiêng, cột chính) là lễ thức quan trọng nhất, bởi nó là trung tâm của lễ hội, diễn ra từ đầu giờ chiều.
Để dựng nêu, trước hết là phải đào lỗ để chôn cây nêu và nối các thành phần của cây nêu lại. Người Ca dong đào lỗ dựng nêu bằng cách lấy một đoạn cây nứa chẻ ở phần đầu làm 4, rồi vót thành hình tam giác nhọn cả 4 mảnh, xong chọc xuống chỗ dựng cột nêu, sau khi khấn xin phép thần Ta Neh bằng một con gà nhỏ. Họ vừa chọc lỗ, vừa đổ nước, vừa lấy đất lên, nên lỗ dựng nêu có khi sâu đến hơn 1m, mà vẫn không bị xói lở. Lỗ chỉ rộng vừa bằng gốc nêu. Nhờ thế cột nêu mới chắc chắn.
Cách đào lỗ bằng ống nứa, nước, để dựng nêu, kể cả dựng cột nhà sàn, dựng cột kho lúa, là một tri thức dân gian, mà có lẽ, ít có tộc người nào có được, kể cả người Việt.
Khi nối các thành phần của cây nêu, người Ca dong dùng mây để buộc các tầng ngọn, tầng giữa, tầng gốc, rồi cũng bằng dây mây và các loại dây rừng khác, đông đảo trai tráng trong làng sẽ kéo cây nêu lên từ 4 góc trong tiếng reo hò cổ vũ.
Trước khi dựng nêu, người Ca dong làm lễ tarih, là lễ khai chiêng và uống rượu phép tại nhà sàn. Chiêng cho nghi lễ dựng nêu, cúng nêu, là chiêng hanâng (có từ 6-8 chiếc). Lúc làm lễ khai chiêng, cũng như lúc ra hội cacheo người Ca dong có thể đánh một lúc từ 1 đến 3 bộ chiêng hanâng trở lên tùy theo điều kiện có chiêng và có người đánh chiêng, dù là nam giới hay nữ giới.
Hình như để làm cho hồn chiêng thức dậy, làm cho tiếng chiêng bay bổng, làm cho tiếng chiêng vang thấu tận trời xanh để mời gọi thần Tarok, người ta lấy một miếng bông gòn (cũng có khi là bông vải) bỏ trên chiếc chiêng đầu tiên - chiêng đhing, và rồi thổi qua những chiếc chiêng được bỏ nằm dọc nhà sàn. Trên chuôi các chiếc dùi đánh chiêng, người ta còn gắn dải hoa nứa mềm mại (kamui), được nhuộm màu đỏ bả trầu. Sau nghi lễ này, 3 hồi chiêng hanâng sẽ vang lên, như báo hiệu cho các vị thần, báo hiệu làng xóm biết thời khắc chuẩn bị đưa trâu vào cột lễ.
Khi 3 hồi chiêng kết thúc, thầy cúng và người chủ gia đình bắt đầu xỏ mũi trâu, cho trâu ăn cỏ chah. Lại 3 hồi chiêng nữa kết thúc, là lúc phải dựng nêu. Hàng chục đàn ông, thanh niên cùng tham gia dựng nêu trong lỗ đào sẵn và cũng đã nối vào nài trâu (vră). Tại gốc nêu chính, người Ca dong cắm thêm 1 cây tanong, lá ranghiâp, 1 cây vot đhao, 1 cây đhawenh để ngọn[21], chừng như để rước các vị thần ở tầng thấp cùng về dự lễ hiến sinh trâu; và không những thế, vì đây là những loại cây có nhiều nước, nên chúng còn có ý nghĩa, cầu mong cho “mọi điều tươi mát, thuận hòa, cũng như để ngăn cản tà ma không thể đến phá hoại”…
Nêu vừa dựng xong, sau lời khấn thần linh của padâu, các thành viên trong gia đình sẽ vịn vào cây nêu rồi rung nêu 3 lần, như để báo hiệu với thần linh là đã hoàn thành cột lễ ăn trâu (chứ không đơn thuần là để xem cây nêu đã được dựng chắc chắn hay chưa). Nhưng chuyện rung cây nêu không chỉ là báo hiệu với thần linh đã hoàn thành cột lễ ăn trâu, hay xem cây đã chắc chắn chưa, mà đó còn là phép thử: Nếu cây nêu rơi rụng nhiều thứ, thì gia đình chắn hẳn phải làm lễ ăn trâu lần nữa, còn nếu không rơi rớt gì đáng kể thì gia đình sẽ không tổ chức ăn trâu lần tiếp theo (tựa như phép thử cho trâu ăn ngọn cỏ bông lau lần cuối cùng, mà chúng tôi sẽ đề cập ở sau).
Ngay sau đó, con trâu sẽ được cột vào gốc nêu, rồi được đeo những thứ trang sức bằng những chuỗi cring ning bằng nứa, những dải hoa bằng bông cây lồ ô nhuộm màu, được cài hai “cái lược” được đan như hình tam giác, có nhiều hoa văn trên hai sừng. Người Ca dong gọi những thứ trang sức trên sừng trâu là kamui aky kapơ. Trên đầu trâu có thể còn gắn 1 lục lạc bằng đồng lớn[22], hay 1 lục lạc lớn, và 2 lục lạc nhỏ[23]. Đó là cách làm đẹp rất đỗi công phu cho con trâu.
Buộc trâu vào cột lễ và trang sức cho trâu xong, một vài người sẽ cầm roi quất vào trâu khá mạnh, chừng như để thử trâu có tuột ra khỏi vòng hay làm đổ cây nêu không, và cũng là báo cho thần linh biết là trâu cũng “đã đẹp”, đã sẵn sàng để hiến tế.
Những nghi lễ tiếp theo sẽ do padâu (thầy cúng) thực hiện, như đếm những hạt gạo trong mủng đồ lễ cho từng thành viên gia đình, coi giò gà, gieo 2 thẻ nứa, đốt hương tagu trong rìu sắt (hoặc xuổng sắt), mời thần linh trầu cau, rượu…. Trong cái mủng (anênh) của padâu, nếu đầy đủ, thường sẽ gồm: một nhúm gạo, một nắm cơm lúa rẫy, ít hạt muối, sáp ong ruồi, xâu cườm, dây linh hồn (mahua), quả cau, lá trầu, lọ vôi, lọ thuốc bột, quả chuối, bánh tráng, kẹo hoặc đường, bông, lá đhawênh, đọt cây bông lau, dây hẹn ước (đhean), nhựa cây tagu…
Nhưng đó là trách nhiệm của padâu chính. Bởi, thường trong một lễ ăn trâu có 2 padâu - một lớn tuổi và một nhỏ tuổi. Padâu lớn tuổi, là padâu chính, có thể là người trong hoặc ngoài làng, uy tín, có nhiều kinh nghiệm trong thực hành nghi lễ (cũng có thể ông chủ gia đình kiêm padâu)[24]; padâu nhỏ tuổi được lựa chọn từ một đứa con trai trong làng, có thể dăm bảy tuổi, hoặc lớn hơn[25]. Ngoài công việc phụ giúp cho padâu chính, sự xuất hiện của padâu nhỏ chỉ như biểu tượng cho một sự truyền nghề giao tiếp với thần linh. Padâu chính cầm anênh đựng lễ vật, và các dụng cụ thực hành nghi lễ, còn padâu phụ cầm con khỉ bằng gỗ (h’nhyk h’nhok), đính trên một khúc nứa, có ròng rọc. Khi thực hiện nghi lễ, padâu nhỏ cầm cây nứa, kéo ròng rọc để con khỉ bằng gỗ sẽ nhảy múa lên, xuống, theo nhịp chiêng.
Hội cacheo
Đến sẫm tối, hội cacheo bắt đầu. Hàng trăm người tập trung quanh cây nêu và con trâu. Có cả những người làng khác, thậm chí tận các xã giáp ranh với huyện Sơn Tây, như ở xã Đăk Nên, xã Ngọc Tem (Kon Plong, Kon Tum)[26], hay Trà Vân (Bắc Trà My, Quảng Nam)[27] cũng về tham dự. Những thành viên trong gia đình mặc trang phục truyền thống, mang rượu croh (rượu cần) đi mời từng người. Rượu được dựng trong 7 hoặc 9 ống nứa, do các cô gái mặc trang phục truyền thống đảm nhiệm. Họ chap ti[28] nhau, cùng uống rượu.
Khi chiêng hanâng của người lớn tuổi tấu xong những bài chiêng ăn trâu, chiêng hlênh của thanh niên, lẫn trẻ em, tiếp tục diễn tấu quanh cây nêu, những bài chiêng vui nhộn, như các bài: Đheak katu, Đheak vuk, Đheak yeang, Oh kă xuâng, Ling lang, Ta đhui, Ea rong, Yi prenh, Lenh lenh, Neng nep, Hi naao, Ye oh ye,... Tất cả mọi người tham dự hội cacheo đều đi vòng quanh con trâu theo chiều ngược kim đồng hồ, vừa đánh chiêng, vừa nhảy múa. Những bà mẹ lớn tuổi còn hát những bài ra nghế khóc trâu, trầm bổng, da diết, kể lể dài lê thê với con trâu.
Hội cacheo diễn ra sau lễ buộc trâu và có thể diễn ra thâu đêm. Con người như hoà nhập với núi rừng, với thần linh, như một bộ phận chưa hề bị tách rời với tự nhiên, cùng cộng sinh, cộng cảm.
“Lễ thức của bất cứ của dân tộc nào cũng là sự liên kết của một chuỗi các hành động, hành động đó có thể diễn ra trong một quá trình chuẩn bị hàng năm, hàng tháng, nhưng tập trung hơn cả là 2-3 ngày lễ hội. Lễ ăn trâu của người Ca dong cứ nén dần, nén dần qua ngày tháng và tới lúc nó “nổ bùng” một cách mạnh mẽ, dũng mãnh bên cột ăn trâu. Đó là thời khắc con người hoà hợp với thiên nhiên, hoà hợp thần linh, hoà hợp giữa con người và con người, một cuộc đại hoà hợp để tạo nên sức sống và cũng là sức mạnh của người Ca dong. Đó cũng chính là lẽ sống, triết lý sống bên cột ăn trâu” - GS.TS. Ngô Đức Thịnh[29].
Lễ đâm trâu
Sang ngày thứ 8, tính từ ngày ủ rượu cần, từ tờ mờ sáng, dù nhiều người còn chếnh choáng hơi men và mất ngủ, vẫn phải cố thức dậy sớm lo cho thời khắc đâm trâu hiến tế. Nếu đêm cacheo là thời khắc tưng bừng nhất, thì thời khắc đâm trâu là thời khắc thiêng liêng nhất của lễ hội ăn trâu.
Để chuẩn bị cho thời khắc này, đàn ông, con trai, đàn bà, con gái, trẻ con trong gia đình đều xênh xang trang phục cổ truyền, đeo vòng cườm trên cổ, trên tay, vào chân. Vòng kiềng nào quý nhất đều được đem ra trưng diện. Padâu lớn, padâu nhỏ chuẩn bị lễ vật.
Sau khi cả gia đình đã chuẩn bị lễ phục, ông chủ gia đình sẽ cùng một vài người cầm dây buộc trâu, nối thẳng dây vào cầu thang nhà sàn, xong cầm giáo (có nơi cầm dao nhọn) đi đo khoảng cách tượng trưng từ gốc cây nêu tới nhà sàn. Ngay sau đó, ông chủ gia đình sẽ lấy bông gòn bịt vào đầu mũi giáo (hoặc mũi dao), đến bên con trâu nhổ ít lông trán của con trâu bỏ lên đầu của mỗi thành viên trong gia đình, kèm những lời cầu mong bình an, khoẻ mạnh. Hình như, đó là nghi lễ nhằm truyền sức mạnh từ con trâu đến các thành viên trong gia đình.
Kết thúc nghi lễ này, là đoàn chiêng hanâng 6 chiếc, hoặc 8 chiếc bắt đầu gõ nhịp. Theo đoàn chiêng có thầy cúng lớn ôm mủng lễ vật, thầy cúng nhỏ cầm con khỉ gỗ và các thành viên trong gia đình đi vòng quanh trong nhà 3 lần, xong uống rượu phép, rồi lại đi từ nhà ra vòng quanh cột lễ ăn trâu theo chiều ngược kim đồng hồ 7 lần. Trong lúc các thành viên trong gia đình từ ngoài vào trong nhà, một người lớn tuổi trong làng sẽ cầm đuôi con trâu giơ lên cao để các thành viên trong gia đình phải chui qua đuôi trâu đó. Tuy nhiên, mỗi nơi có khác ít nhiều về thời gian, cũng như các chi tiết trong nghi lễ cầu sức khoẻ này. Có nơi không có cả nghi lễ chui qua đuôi trâu, như trong lễ ăn trâu ở nhà ông Đinh Văn Lá, như chúng tôi đã đề cập.
Sau nghi lễ cả nhà đi vòng quanh cây nêu, vô nhà, chui đuôi trâu, là bắt đầu đâm trâu. Trước khi đâm phép, ông chủ gia đình, bà chủ gia đình phải nói lời từ biệt, cảm ơn con trâu hiến sinh, và khấn mời các vị thần, tổ tiên đến ăn uống, nhận lễ vật mà lâu nay gia đình đã hứa hẹn, cảm ơn các vị thần, tổ tiên đã phù hộ, và giờ đến lúc chủ nhà đâm trâu trả ơn và xin các vị thần, tổ tiên tiếp tục bảo vệ, phù hộ…
Trích một đoạn lời khấn của một chủ gia đình:
Kô a chôh tagu ku hyaang, thang chă, tagu lam hyaang, halaang lam thoai:
- Thoai wi vook, wi yă, vook ma kanră, yă ma kanri,
- Thoai pi ma oi ngok yi zoai, a nhoai yôh, oi hmô kuk kân hmô thân xiâm…
Pi oi a ru a ruo tu Kor, tu Hrê, manro pi thộ đơ, patrơ pi thộ a nuấy
Hi kô a thang, mang kô a cryao
A chă papơ khuai loh, kanroh khuai e
A ma wái theh ka kanri, theh koan ink nêh ink kalah, kanri khuai haloan, koan khuai je, pi uh mân tah yinẹ tố jố ra-o
Hi kô khuai e lâm, glâm am
Am pi kapơ đị nân, kân gaeh
Thae pi lam muấy ramuh truh azink
Xiin pi ố wă kă thi
Kă wệ ngan van đơ thâng nghia kô hnha, vla k ô êh…[30]
Lời từ biệt vừa kết thúc, các thành viên trong gia đình, kể cả thầy cúng phải lấy con dao nhỏ, rồi tự tay lấy một ít lông mi trâu bỏ vào mủng đựng lễ vật. Khi được hỏi, vì sao lại phải lấy lông mi trâu, hay lông mi heo? Người Ca dong bảo rằng: Những lông mi ấy sẽ được bỏ vào ống nhỏ để đeo vào cổ, làm vật chứng cho việc trả nợ với thần linh, và cũng là để biết kiêng cử sau này. Nếu nhà có trẻ con, thì người lớn sẽ cầm tay trẻ con để thực hiện việc lấy chút lông mi trâu. Khi các thành viên lấy lông mi trâu xong, ông chủ gia đình, hoặc bà chủ gia đình cho trâu ăn những ngọn cỏ bông lau, và vài ngụm nước. Có lẽ đó là lần “trả ơn” cuối cùng cho con trâu, trước khi nó phải chịu hiến tế thay cho con người. Việc trâu chịu hiến tế thay cho con người, phải chăng chính là tàn dư của tục hiến tế người có từ thời tiền sử?
“Các nhà nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á đã phát hiện ra rằng, việc dùng trâu thay cho nghi lễ hiến tế người là một bước biến đổi mang đầy tính nhân đạo. Sau này, ở các dân tộc phát triển, người ta dùng hình nhân để thay thế trong các nghi lễ cúng giải hạn, đó cũng là sự biến tướng của tục hiến sinh” - lời của GS Ngô Đức Thịnh [31].
Sau khi cho trâu uống nước, cho ăn cỏ bông lau, thời khắc đâm trâu chuẩn bị bắt đầu - là lúc thời khắc người chủ gia đình ném muối gạo lên cây nêu, lên con trâu, uống chung với thần linh bát rượu (uống rượu rồi hắt rượu lên cây nêu), đốt hương tagu, cho thần Tarok và thần linh trên trời, rải bột vlo xuống đất cho thần Yă Co và Yang Ta Neh, rồi cắt vòng mây - vòng đhean - mang lời thề ước hẹn đâm trâu hiến tế - một nghi lễ quan trọng, xem như lời thề hẹn cúng trâu cho thần linh sau bao năm đang thực hiện.
Nghi lễ đó vừa kết thúc, ông chủ gia đình lấy giáo bịt bông gòn, hoặc bông vải, đâm phép con trâu, kế đến là hàng chục thanh niên khoẻ mạnh cầm giáo, cũng có gắn trên mũi giáo ít bông, đâm vào hông con trâu - nơi vị trí tim trâu. Nhưng vì sao khi đâm trâu, người Ca dong lại gắn bông gòn, hoặc bông vải lên mũi dao, hay mũi giáo? Người Ca dong bảo rằng: Bông gòn, bông vải là thứ nhẹ, dễ bay đi; đâm con trâu để hiến sinh cũng là cách xem chuyện hiến sinh phải nhẹ nhàng như bông vậy. Không biết đó là cách người Ca dong tự huyễn hoặc mình hay là nói về cái chết nhẹ tựa bông của con trâu phải chịu hiến sinh. Có lẽ cả hai.
Những mũi giáo làm con trâu lồng lộn, chạy quanh cây nêu, cho đến khi gục ngã. Nhưng người Ca dong kiêng để trâu ngả đầu quay ra ngoài nhà, nên khi đâm trâu, những người đâm trâu sẽ chọn cách đâm để trâu ngả đầu về phía ngôi nhà. Nhỡ con trâu ngã xuống mà không quay đầu vô nhà thì họ phải cố kéo đầu con trâu đúng hướng vô nhà, và không được để con trâu ngả đè lên vră - dây buộc trâu vào gốc nêu. Nếu trâu không quay đầu vô nhà, hay làm đè vră, thì đó sẽ điềm xui xẻo không mong muốn cho cả gia đình, theo quan niệm truyền đời của họ.
Lúc trâu đã ngã, bà chủ gia đình sẽ lấy tấm phên che trâu lại, xong lấy cắt đọt cỏ bông lau thành 7 mảnh thả xuôi từ đầu đến đuôi trâu, và cũng có nơi bà chủ nhà ném trứng gà vào đầu trâu rồi bước qua mình trâu 5-7 lần, như chúng tôi đã chứng kiến lễ ăn trâu của các gia đình xã Sơn Dung. Rồi padâu và tất cả các thành viên trong gia đình đến bên gốc nêu, cùng nắm tay vào cây nêu rung lên 3 lần, để báo hiệu cho thần linh biết là đã đâm xong con trâu hiến tế. Trong nhà sàn tiếng dàn chiêng hanâng lại tiếp tục ầm vang.
Cũng trong nhà sàn, người Ca dong bắt đầu làm nghi lễ hiến sinh heo. Thường có 2 con heo để hiến sinh, gồm một heo nhỏ màu đen tuyền, một heo lớn. Như nghi lễ đâm trâu ngoài cây nêu, thầy cúng cùng ông chủ gia đình khấn mời thần linh, tổ tiên chứng kiến lễ hiến sinh heo, bà chủ gia đình cũng lấy chút lông mi heo bỏ trong mủng lễ vật. Lời khấn của padâu, hoặc ông chủ gia đình cũng tương tự như lời khấn khi vừa kết thúc lễ đâm trâu, chỉ khác là thay tên con trâu (kapơ) bằng tên con heo (chua/chu).
Những bữa ăn cộng cảm
Sau giây phút này, người ta bắt đầu xẻ thịt trâu, thịt heo, rồi làm lễ dâng cúng thịt chín, cũng như để ăn uống. Thường họ làm các món: Món akya - bằng da trâu - trong gok bung; món hakoh - thịt heo, thịt trâu, huyết trâu, huyết heo - cho người già; món gok đhing - lòng heo, tim, gan, ruột non…, là món ăn thiêng, chỉ dành cho gia đình ăn. Người Ca dong gọi chung những món này là vôp. Ngoài các món trên, họ nấu thịt trâu, thịt theo trong nhiều cỡ nồi khác nhau, từ nồi ba, đến nồi bảy, để chiêu đãi cho mọi người dự lễ, cùng với cơm lúa rẫy, cơm lam. Đầu trâu được đặt trên bó củi nứa tại chân cột cây nêu, để dành cho người ăn hôm sau.
Bữa ăn cộng cảm bằng thịt trâu, thịt heo, cơm lúa rẫy và những thứ khác từ prâm, từ rừng núi có thể kéo dài cả ngày, nếu lễ ăn trâu có quá đông người tham dự. Đó là những thứ đã được hiến tế thần linh, đã được thần linh ban phát, nên với người Ca dong, ăn thịt trâu, thịt heo khi đã hiến tế, sẽ trở thành một thứ năng lượng thiêng giúp cho con người khoẻ mạnh, tràn trề sinh lực, luôn gặp nhiều may mắn. Trừ một ít thịt trả ơn thầy cúng để thầy cúng mang về nhà, còn không ai được mang thịt trâu ra khỏi gia đình tổ chức lễ ăn trâu. Khách khứa có thể ăn cả ngày với gia đình, có thể đến tận khuya, nhưng không được mang về nhà. Bữa ăn cộng cảm luôn thấm đẫm lời ca, tiếng hát, tiếng chiêng, tiếng đàn, lời kể chuyện amoan…
Nhưng không phải chỉ là bữa ăn cộng cảm giữa con người với con người, mà còn có bữa ăn cộng cảm với đất trời, rừng núi. Vào buổi trưa ngày thứ 7 (ngày ăn trâu), khi mặt trời đúng đỉnh đầu, 7 người con trai (có thể là người trong gia đình, hoặc thêm người bà con trong dòng họ) mang cung nỏ, rượu, ít cơm lam, thịt trâu, thịt heo lên rừng để ăn với thần Núi, thần Rừng, với thú rừng, chim chóc… Đến đỉnh núi họ sẽ bắn 2 mũi tên, một mũi về phía rừng, một mũi về phía nhà, xong ăn hết cơm, thịt, uống hết rượu rồi lại về làng[32]. Có nơi lại bắn 1 mũi về phía mặt trời mọc, 1 mũi về phía mặt trời lặn, với hàm ý: bắn đi những lo âu, phiền muộn, vì nợ nần, đau khổ, khó khăn, phiền phức… trong cuộc sống lâu nay. Với người Ca dong, nghi lễ này hẳn không phải là một tàn dư của nghi lễ bắn núi mừng chiến trận như người Xơ teng - một đồng tộc của họ ở huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum[33].
Ngày thứ 9, kể từ ngày ủ rượu cần, người Ca dong vẫn tiếp tục ăn uống, hát múa, chơi chiêng, quanh cây nêu, rồi nướng đầu trâu để ăn (nên ngày này gọi là hi kă gâu, còn ngày hôm trước gọi là hi kă chak). Sừng trâu đem treo lên cây xuyên trên vách nhà sàn. Hội cacheo lại như không ngừng nghỉ.
2.4. Những lễ thức cuối cùng
Cũng vào tối ngày thứ 9, gia đình sẽ làm lễ cầu sức khoẻ cho chủ gia đình, và chủ gia đình sẽ cầu sức khoẻ cho những người thân trong nhà, cho họ hàng và làm lễ tiễn thầy cúng lớn (chính).
Lúc này, ché rượu cần thiêng duy nhất - là ché rượu đặt ngay chỗ ông chủ nhà ngủ, sẽ được đem ra cùng uống bằng triêng. Những lời chúc sức khoẻ qua lại giữa chủ gia đình và từng người trong họ hàng qua ché rượu có những hạt gạo lúa rẫy nổi trên mặt ché. Họ lấy từng hạt gạo bỏ lên đỉnh đầu của từng người ở ngay gần bếp lửa - cũng là chỗ ngủ của ông chủ gia đình, rồi nói những lời chúc bổng trầm theo hoàn cảnh sống của từng người, làm buổi lễ thêm thiêng liêng, thành kính.
Và cũng ngay chỗ này, sau lễ chúc sức khoẻ, sẽ diễn ra nghi lễ hát ra nghế đối đáp để tiễn thấy cúng. Sau những lời hát đối đáp tại gian thiêng bên bếp lửa, là lời hát đối đáp qua tấm rèm bằng tấm rơmoang thổ cẩm truyền thống. Thầy cúng sẽ ngồi bên ngoài tấm rèm (tức khu vực tiếp khách của gia đình), người chủ gia đình sẽ ngồi trong rèm (gian thiêng của nhà sàn), tiếp tục hát những bài ra nghế. Hát chừng vài câu đối đáp, tấm rèm sẽ được đưa ra treo ngay cửa ra vào. Ông chủ gia đình sẽ ra phía ngoài cửa, thầy cúng ở trong cửa. Tại đây, họ lại hát ra nghế đối đáp, cùng uống rượu phép.
Sau lễ thức hát ra nghế đối đáp, thầy cúng nhỏ cùng một số người trong gia đình sẽ đưa thầy cúng lớn đến ngã ba đường. Lễ vật biếu cho thầy cúng lớn gồm: thịt trâu, thịt heo, ít gạo, trầu cau. Bà vợ thầy cúng lớn cũng sẽ được biếu một cái ché mới. Đến tại ngã ba đường, họ dừng lại, và lại hát một vài câu ra nghế với nhau, rồi uống chén rượu phép. Sau đó, thầy cúng lớn, lẫn thầy cúng nhỏ về nhà. Tại nhà thầy cúng lớn họ sẽ nướng ít thịt trâu, cùng ché rượu mà chủ nhà ăn trâu biếu thầy cúng trước đó.
Đến ngày thứ 10, vào sáng sớm, những người khoẻ mạnh, không phân biệt nam nữ, đại diện cho các gia đình trong plây có tham dự lễ ăn trâu đến nhà chủ lễ ăn trâu cùng ăn sáng, xong lên núi phát rẫy phép cho gia đình tổ chức lễ ăn trâu. Lễ thức này gọi là muih preh.[34] Lễ thức phát rẫy phép chỉ diễn ra trong buổi sáng. Sau khi phát rẫy phép xong, mọi người lại trở về nhà tổ chức lễ ăn trâu, cùng ăn uống, chơi chiêng hlênh trong nhà, quanh cây nêu. Xong họ giật cho ngọn cây nêu ngả xuống (tầng có chim vling, hoa reang kalung), báo hiệu chính lễ ăn trâu đã kết thúc.
Ngày thứ 11, cả nhà nghỉ ngơi; xuống suối bắt cá tali để ăn phép (gọi là kă mahem).
Ngày thứ 12, đại diện gia đình ăn trâu đi phát rẫy phép, trả lễ lễ cho thầy cúng lớn.
Ngày thứ 13, đại diện gia đình đi phát rẫy phép cho thầy cúng nhỏ. Lễ ăn trâu kết thúc.
Cuối tháng 4, gia đình tự đi đốt rẫy, và đến tháng 5, mỗi gia đình trong plây cử một người đi trỉa lúa rẫy cho gia đình tổ chức lễ ăn trâu.
3. Nên loại bỏ hay duy trì?
3.1. Lý do cần loại bỏ
Đã có một thời lễ ăn trâu của người Ca dong bị cấm đoán, như đã nói ở phần đầu bài viết này. Lý do chính được đưa ra gồm:
Quá tốn kém: Thường một lễ ăn trâu, mỗi gia đình phải hiến tế 1 con trâu, 7 con heo lớn, khoảng chục con gà nhỏ. Có nơi còn thêm 1 con dê (như lễ ăn trâu nhà ông Đinh Ka La vào tháng 3 năm 2023). Gạo lúa rẫy khoảng vài tạ, để nấu cơm và ủ rượu cần. Nếu tính giá trị bằng tiền, có thể phải đến 70- 80 triệu đồng (hiện nay). Ngoài lễ vật, để tổ chức lễ ăn trâu, gia đình và họ hàng phải mất nhiều ngày công lao động, như đi lên rừng kiếm củi, kiếm chuối, đặc biệt trong việc làm cây nêu.
Bị/được xem là dã man, phí sức kéo cày: Khi dự ngay chính buổi lễ đâm trâu (ngày thứ 8), nhiều người Kinh cho là quá dã man, và mặt khác, cho rằng con trâu dùng để cày bừa, là “đầu cơ nghiệp”.
Mê tín: Cúng kiếng nhiều, mê muội tin vào thần linh.
Ngoài ra, còn một số lý do khác, như cách ăn uống chưa hợp vệ sinh, tập trung đông người dễ lây bệnh, một số trẻ con bỏ học trong những ngày diễn ra lễ ăn trâu…
Những lý do này hiện vẫn còn được đặt ra, không chỉ đối với các cấp chính quyền, cơ quan quản lý văn hoá, nhưng vẫn còn lúng túng (vì vậy, nhiều gia đình vẫn tổ chức ăn trâu mà không bị cấm đoán như trước đây).
3.2. Vài ý kiến của người Ca dong
Ông Đinh Xuân Bình, nguyên Bí thư xã Sơn Mùa, hiện là Huyện uỷ viên, Phó ban Dân vận Huyện uỷ Sơn Tây, cũng là một nghệ nhân làm cây nêu, nắm giữ nhiều bài chiêng hanâng, chiêng hlênh , cho rằng:
Dân tộc nào cũng vậy, niềm tin là rất quan trọng. Hễ có niềm tin thì làm được nhiều thứ. Tin để làm. Nếu không tin thì không làm được. Niềm tin chính là văn hoá của con người. Bởi vì nếu tin vào điều gì đó thì khi ta làm điều gì đó mà ta tin, sẽ mang lại hạnh phúc, làm có hiệu quả, và để tiếp tục sống có ý nghĩa. Nên niềm tin có sức sống rất mãnh liệt. Bởi trong đó có văn hoá, có cuộc sống. Nếu không tin thì người ta không thể làm (cây nêu, và các lễ thức) công phu, cầu kỳ như thế này. Chính niềm tin nên người ta tin rằng cuộc sống có người, có thần nên người ta mới tin thần phù hộ cho cuộc sống làm ăn, sức khoẻ. Vì tin nên mới làm cây nêu, các thủ tục cúng bái để dâng hiến cho các vị thần, và tin rằng thần linh sẽ tiếp nhận và phù hộ [35].
Ông Đinh Ka La, nghệ nhân ưu tú, 83 tuổi, hiện ở thôn Nước Min, xã Sơn Mua, người đã có 7 lần tổ chức lễ ăn trâu của gia đình:
Mình đã hứa với thần linh là 7 năm làm lễ ăn trâu, là mình phải thực hiện. Ruộng rẫy mình đã chia hết cho con rồi. Con cái không thiếu cái ăn. Nhà mình vẫn còn vài chục con trâu, con bò. Lúa rẫy 3 năm để dành. Lúa ruộng năm rồi được hơn trăm bao. Mình không cần nhiều tiền, miễn sao sống cho hạnh phúc, vui vẻ. Mình vẫn còn dành tiền để mua heo. Mình cúng trâu là để trả ơn bà con đã giúp mình, đã mời gia đình mình ăn trâu; để cho thanh niên nam nữ trong plây chơi chiêng, biết làm loang gâng (cây nêu), để có dịp ăn mặc đẹp theo truyền thống của dân tộc mình.[36]
Khi chúng tôi đến thôn Nước Vương, xã Sơn Liên, ông Đinh Văn Xô[37], 82 tuổi, ở gần hồ thuỷ điện Đăk Ring có nói rằng:
Mình có đổi trâu để lấy 2 bộ chiêng. Bộ chiêng hanâng của mình có 6 chiếc. Đổi bằng 1 con trâu. Bộ hlênh có 11 chiếc. Mình phải đổi 2 con bò để lấy bộ chiêng hlênh của ông Đinh Văn Đoàn ở Tà Dô (Sơn Tân). Mình quên chơi chiêng lâu rồi. Mình mua về cho con cái và thanh niên trong xóm chơi. Nhưng con cái mình, và thanh niên ở đây ít người biết đánh chiêng. Mỗi lần có ăn lúa mới, tết, chúng nó cứ hát nhạc của người Kinh. Nên chúng nó phải qua Sơn Mùa, Sơn Dung dự ăn trâu, để học đánh chiêng. Giờ tụi nó biết đánh hết rồi. Lễ ăn trâu là phải đánh chiêng, phải biết làm nêu. Từ năm 1999 đến nay, nhà mình đã 3 lần tổ chức lễ ăn trâu rồi[38].
Ngày 8/10/2022, chúng tôi đến thôn Tà Dô, xã Sơn Tân, tìm nghệ nhân Đinh Văn Đoàn, người vừa được phong danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, nhưng ông vừa mất, không kịp nhận bằng phong tặng của Chủ tịch nước. Ông Đinh Văn Phân (sinh 1984), thôn trưởng thôn Tà Dô, có nhắc đến một số làn điệu khi sử dụng bộ chiên hanâng, lẫn chiêng hlênh . Ông cho biết:
Trước đây, cũng có nhiều người biết chơi chiêng và một nhạc cụ khác, nhưng nay chỉ ít người biết, mà có biết cũng không đầy đủ các bài, như Đheak katu, Đheak xuông, Linh loang, Đheak ziêng, Ta Đhui… Hơn 10 năm ở đây không có nhà nào làm lễ ăn trâu nữa, không cho làm, nên nhiều người quên hết rồi. Nếu làm phải đi học lại, kể cả làm cây nêu.
Ông Đinh Văn Viết, 80 tuổi (2023), thôn Nước Kĩa, xã Sơn Tinh cho biết:
Chú là người Hrê, từ Sơn Hải lên đây ở. Nên chỉ cúng trâu theo người Hrê, nhưng cây nêu của mình chỉ là lấy cây tre dựng lên, rồi đâm trâu, rồi chơi chiêng ba. Hàng chục năm nay không tổ chức nữa, vì trâu bò đã chia hết cho con cái, giờ chỉ sống bằng lương hưu. Chú không biết đánh chiêng như người Ca dong. Ở xã Sơn Tinh cũng có 5-6 hộ là người Ca dong, thỉnh thoảng tổ chức lễ ăn trâu, như ở Nước Kĩa, có ông Đinh Văn Đàm, người Ca dong, thường tổ chức, nhưng ổng chưa được phong danh hiệu nghệ nhân. Ổng từ Sơn Dung lên đây lập nghiệp từ năm 1977. Ông Đàm dạy cho thanh niên chơi chiêng hanâng, chiêng hlênh, dạy làm nêu. Nên họ làm đẹp lắm, chơi chiêng hay lắm. Cả các loại đàn vrook. May mà có lễ ăn trâu nhà ổng[39].
3.3. Vậy nên loại bỏ hay duy trì?
Lễ ăn trâu đã từng bị loại bỏ, vì nhiều lý do, như nói ở tiểu mục này, nhưng rồi lại được phục hồi. Việc phục hồi bắt đầu bằng sức mạnh của tín ngưỡng, của niềm tin, như ý kiến của ông Đinh Xuân Bình. Khó có thể loại bỏ niềm tin sơ khai vì các vị thần dường như luôn quẩn quanh trên núi rừng, trong các plây theo quan niệm của người Ca dong. Tin thì họ mới dày công làm cây nêu, mới đem chiêng ra trình tấu, trước hết, cho đấng vô hình nào đó, là Tarok, Yă Co, Hwing, Hmô Pâng, Vôrai, Keak kachok…
Niềm tin làm nên một di sản nghệ thuật tạo hình
Một điều phải khẳng định rằng: Nếu ra sức loại bỏ niềm tin sơ khai ấy, chắc hẳn không thể còn cây nêu Ca dong. Không ai đem công sức ra làm cây nêu cao trên dưới 25m, chứa đựng nhân sinh quan, thế giới quan của tộc người, trong các hoa văn, hoạ tiết chạm trổ công phu, tỉ mỉ, để đem chơi, hoặc trưng bày cả. Làm nêu là để dâng hiến cho các vị thần, từ tầng gốc đến tầng ngọn.
Ông Đinh Văn Đàm, sinh năm 1945, ở Nước Kĩa, Sơn Tinh, giải thích về các hoa văn trên gu ở tầng vung veang, trong lễ ăn trâu của nhà ông vào tháng 3 năm 2023:
Người Ca dong chỉ sử dụng có 3 màu thôi: Đỏ, đen, trắng. Nhìn 4 cái gu ở tầng vung veang thì biết. Hoa văn khắc chỉ bằng dao nhọn, nhưng các con trẻ cũng biết, đó là đôi tai con hổ, hàm răng trâu, lá ranu (đùng đình), các ổ con nhện, da các h’linh (cá niên), tấm rơmoang dệt bằng cây rừng, cring ning bằng nứa. Rừng núi mình có gì thì mình khắc trên đó để dâng hiến cho các vị thần[40].
Ông Đinh Văn Ly, một nghệ nhân trẻ, sinh 1979, ở Nước Min, Sơn Mùa, người cùng các thanh niên trong làng làm giúp cây nêu cho ông Đinh Văn Rỡi (trong lễ ăn trâu vào đầu tháng 4 năm 2023), giải thích về các gu trên tầng vung veang:
Cha mình dạy cho mình, khi làm ăn trâu, nhưng không biết ghi làm sao, ghi không được, rồi mình tự nhớ, mình biết làm, rồi nhà ai trong xóm làm ăn trâu, mình đến làm giúp, chỉ cho mấy đứa làm. Mình khắc hình lá ranu, tai con hổ - theo dân tộc mình là rôngla, tấm ramoang, da con trăn, hai ngón tay ngoéo lại nhau, kamui…Cha mình chỉ cho mình để mình làm dâng cho Torok, cho Yă Co Yă Vươi… Tấm phướn (acleang) làm đuôi con chim hang thì thần Tarok mang về trời làm áo choàng[41]
Nếu nghe người Ca dong kể các amoan (chuyện cổ), chắc hẳn nhiều người sẽ hiểu thêm vì sao người Ca dong lại khắc những hoa văn có các con vật, cây cỏ lên cây nêu. Hình ảnh răng trâu, hẳn phải liên quan đến tục người miền núi cà răng cho giống răng trâu, hay con trâu chính là hoá thân của con người. Hình ảnh con hổ hẳn phải liên quan đến chuyện hổ không ăn thịt người Ca dong trong câu chuyện hổ và ốc. Lá ranu (đồng đình) là một lá thiêng liên quan đến kiêng cữ. Cá h’linh hẳn phải liên quan đến chuyện nàng Y Dật trong nhiều truyện cổ. Hình ảnh ổ nhện chắc hẳn liên quan đến câu chuyện về hai nàng Y Bênh và Y Bliếc hoá thân làm người, và nhiều câu chuyện khác về con nhện thành người, hoặc ngược lại, v.v..
Nghe những lời các nghệ nhân Ca dong giải thích, đọc những trang viết của GS Từ Chi (Trần Từ) trong cuốn Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana, xuất bản vào năm 1986, chúng tôi lại thấy có nhiều điểm tương đồng với các đồ án hình học của người Giarai, người Bana trên trang phục, như hình ổ nhện, hình tổ ong, hình lá đùng đình, hình rau dớn… cùng với việc cấu tạo sắc màu[42], mà ở đây chưa có dịp làm so sánh.
Và còn nữa, trên cây nêu còn có hình ảnh con chim hang cho thần Tarok (Trời) cưỡi, clă acleang (tấm phướn hình thoi hay hình tam giác, gắn vào làm đuôi chim hang) không chỉ làm đẹp cho cây nêu mà còn là hình ảnh tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu dâng hiến cho thần Tarok; hình ảnh con chim vlink màu đen gắn trên ngọn nêu, trên phần reang krum, đại diện cho con người mời gọi các thần linh từ trên trời xuống các mâm dâng cúng qua các dải yi zoai ka (thang dây), v.v…
Từ những ý kiến của một số người Ca dong vừa được trích dẫn và những diễn giải sơ lược ở trên có thể thấy rằng, người Ca dong làm cây nêu rất đỗi công phu, cầu kỳ là để dâng hiến cho thần bằng chính niềm tin của họ. Niềm tin đã làm nên cây nêu, làm nên một loại hình nghệ thuật tạo hình độc đáo. Đó là cây vũ trụ, nối giữa trời và đất, giữa con người với thế giới vô hình. Chỉ là các ô dọc, ngang, vuông, tam giác, hình thoi..., được khắc bằng chiếc dao nhọn, với 3 màu truyền thống của tộc người này: Đỏ, đen, trắng, nhưng ở đó, lại gợi những câu chuyện về sự tái sinh của con người và muôn thú, về sự bình đẳng giữa con người với các đấng thần linh, về sự hoà hợp giữa con người với thế giới tự nhiên…
Chỉ riêng điều này thôi, cũng thấy đã khó nói rằng: Phải loại bỏ lễ ăn trâu trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của họ.
Trao truyền di sản văn nghệ dân gian
Cùng với cây nêu - một loại hình nghệ thuật tạo hình mang đặc trưng của tộc người, lễ ăn trâu Ca dong còn là dịp để trao truyền các loại hình di sản văn nghệ dân gian của tộc người.
Đó là các loại hình dân ca, dân nhạc, mà trước hết là chơi chiêng. Chiêng gắn liền với đời sống sinh hoạt văn hoá của người Ca dong, đặc biệt là sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng. Xem chiêng là nhạc cụ thiêng, nên chiêng cũng có hồn, cũng có “sự sống” riêng. Những nghi lễ nhỏ tiết gà, tiết heo lên chiêng, lễ thổi hồn chiêng, khai chiêng (garih) trong lễ ăn trâu đã minh chứng điều đó. Khi xem chiêng thiêng liêng, được trình tấu trong lễ thức thiêng liêng, để tiếng chiêng vang tận trời xanh, lên tận núi cao, để mời gọi thần Trời, thần Núi, để tiếng chiêng ngân dài trên sông suối để mời gọi thần Hwing, thần Yă Co, thì ắt hẳn người Ca dong phải trình tấu khác, so với khi ngồi trên sàn nhà giao lưu với nhau, khi lên sân khấu biểu diễn những năm gần đây, trong các buổi “Liên hoan Cồng chiêng, Đàn và Hát dân ca” do tỉnh, huyện tổ chức.
Đến với lễ ăn trâu, lớp trẻ còn được người lớn tuổi trao truyền các bài chiêng cổ, những bài chiêng cúng trâu bằng chiêng hanâng, còn được dạy cho nhau những bài chiêng hlênh mà nhiều người chưa biết, hoặc chưa thuộc lòng. Chúng tôi đã chứng kiến hình ảnh nghệ nhân Đinh Thanh Sơn dạy cho các thanh niên, trẻ em ở Sơn Mùa những bài chiêng hlênh trong buổi cacheo sau khi phát rẫy phép về trong lễ ăn trâu nhà ông Đinh Ka La vào ngày 14 tháng 3 năm 2023. Hình ảnh đó làm chúng tôi nhớ đến lời của ông Đinh Văn Xỏ ở Sơn Liên, là trong mùa ăn trâu, con cháu ông phải đi học chơi chiêng hlênh ở Sơn Dung, Sơn Mùa; nhớ đến lời ông Đinh Văn Phân, khi nói rằng, ở Tà Dô hơn 10 năm không làm lễ ăn trâu nên thanh niên quên hết các bài chiêng của tộc người mình.
Và không phải chỉ trao truyền sự trân trọng đối với chiêng, diễn tấu chiêng, mà trong lễ ăn trâu, người Ca dong còn đánh thức ý thức di sản cồng chiềng cho người già và tạo cơ hội để người già trao truyền cho lớp trẻ những bài caleo, yê ô dê, ra nghế…, biết điệu múa cacheo đi ngược chiều quanh cây nêu, được nghe kể những amoan về sự hình thành tộc người, hình thành làng xóm, về sự tích núi sông, về nàng Y Dật dẹp, dịu dàng trong nhiều truyện cổ tích…; được trao truyền các loại hình nhạc cụ, như t’rưng, akhung, vrook krâu, vrook t’ru, rauốt, chinh kala…; được nghe những câu thành ngữ, tục ngữ, câu đố mà người nhiều người lớn tuổi còn ghi nhớ trong ký ức.
Sự thăng hoa trong lễ hội, trong không gian thiêng, trong sự cay nồng của rượu cần, một di sản văn hoá được đánh thức, mà thường ngày di sản đó chìm khuất trong cuộc sống còn lắm đỗi nhọc nhằn.
Trao truyền tập tục tốt đẹp
Khi làm nghi lễ với thần linh trong gian thiêng có bếp lửa - là nơi theo người Ca dong, có thần Hmô Pâng ngự trị, có thần Vôrai Xixu luôn dang tay nâng đỡ những số phận trong mái nhà sàn; khi vòng quanh cây nêu nói lời kính cẩn mời gọi thần Tarok, thần Taneh…, người Ca dong từ già trẻ, lớn bé đều mặc những bộ trang phục truyền thống của tộc người, đeo những vòng cườm đẹp nhất. Họ làm đẹp cho mình, nhưng cũng là để làm đẹp cho tộc người, và hơn thế nữa, theo họ, thần linh thấy con người ăn mặc đẹp, trang sức đẹp, sẽ vui lòng nương theo cây nêu xuống nhận lễ vật của con người hiến tế, mà khi đã nhận lễ vật của con người hiến tế, thì thần linh mới phù hộ cho con người được khoẻ mạnh, có cái ăn cái để, được bình an, hạnh phúc. Mặt khác, có lẽ đến lúc này, chắc hẳn nhiều người Ca dong mới được thấy những bộ y phục truyền thống rất đỗi tự hào của dân tộc mình.
Đó là cũng một cách trao truyền, dẫu vô thức, về vẻ đẹp vốn có của tổ tiên họ, mà họ phải giữ gìn, phải quý trọng, phải biết chăm chút để mua sắm, trao đổi, để phục hồi nghề dệt cổ truyền.
Trong hội cacheo, những cô gái Ca dong, từ 7 đến 9 người, cũng ăn mặc trang phục của tộc người rực rỡ sắc màu, đi mời rượu từng người bằng tập tục chắp ti ôh croh - một tập tục có từ lâu đời: đón nhận ống rượu croh bằng nứa, vuốt tay nhau, rồi người mời rượu lẫn người được mời đều áp bàn tay lên thái dương, để tỏ lòng thân thiện. Tập tục chắp ti ôh croh chỉ có trong lễ ăn trâu, ngày thường không ai làm thế với nhau, là một mỹ tục cần gìn giữ.
3.5. Đi tìm lời giải
Từ những ý kiến của người Ca dong trong cuộc, những băn khoăn của các cơ quan quản lý văn hoá và các cấp chính quyền, và những điều chúng tôi đã diễn giải ở trên, để tìm ra lời giải cho vấn đề đặt ra là loại bỏ hay duy trì lễ ăn trâu của người Ca dong lẫn các đồng tộc của họ ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên là vấn đề không hề dễ.
Nếu loại bỏ, thì chắn hẳn di sản văn hoá của tộc người sẽ mất dần, bởi trong lễ ăn trâu hội tụ dường như đầy đủ các thành tố văn hoá của tộc người. Chỉ riêng về cây nêu thôi, cũng có thể thấy, bỏ lễ ăn trâu Ca dong, chắc hẳn sẽ không còn cây nêu Ca dong, bỏ lễ ăn trâu của người Cor, chắc hẳn sẽ không còn cây nêu Cor. Trên các cây nêu này, như đã nói, đó là một di sản nghệ thuật tạo hình, chứa đựng nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan của tộc người.
Cùng với cây nêu, bỏ lễ ăn trâu cũng sẽ khó có một sự trao truyền đầy hiệu quả di sản văn nghệ dân gian, các phong tục, tập quán, như đã nêu ở trên. Ông Đinh Văn Xỏ (80 tuổi) ở Sơn Liên, có cho biết rằng: Ở Sơn Liên, có một vài gia đình làm lễ ăn trâu, nhưng khi vào hội cacheo, họ chỉ lấy chiêng hanâng ra diễn tấu vài bài, xong mở loa kẹo kéo, bật nhạc xì xụp gì đó rồi múa nhảy. Vì quên hết các điệu chiêng hlênh rồi. Hết thiêng liêng. Đó cũng là lý do ông muốn con cháu ông và thanh niên trong làng đi dự lễ ăn trâu ở những nơi khác để học lại cách đánh chiêng[43]. Hiện tượng đó, có lẽ không phổ biến trong các lễ ăn trâu của người Ca dong, nhưng chắc hẳn, không phải không có. Chúng tôi đã từng chứng kiến một buổi cacheo, trong lễ ăn trâu ở một gia đình ở thôn Ra Nhua, xã Sơn Tân, cách đây chừng hơn 10 năm, thanh niên mang dàn karaoke ra hát, rồi múa nhảy.
Trong những năm qua, có khi mỗi năm, mỗi thôn có đến 3-4 lễ ăn trâu. Mật độ ăn trâu khá dày đặc. Phải chăng, nên vận động sự những gia đình còn khó khăn không nên tổ chức lễ ăn trâu. Mỗi một lễ ăn trâu, nếu tính ra tiền, có thể đến 70 - 80 triệu, như đã nói ở trên. Quả là tốn kém. Một số gia đình, vì phải thực hiện lời nguyền bằng chiếc vòng đhean hẹn ước, nên lâm vào cảnh nợ nần. Có người cũng hiến kế rằng, nên khuyên nhiều gia đình cũng góp chung để làm lễ ăn trâu cho nhiều gia đình. Điều này chắc chắn khó khả thi, trừ các loại ăn trâu mừng chiến thắng, mừng lễ kết nghĩa giữa các plây, hay ăn trâu để thực hiện lời thề cùng đánh giặc, hay tranh giành lãnh địa giữa các bộ lạc, mà nay đã không còn nữa.
Một điều khác nữa, những người có trách nhiệm nên khuyến cáo cách ăn uống trong lễ ăn trâu. Vì người được mời tham dự lễ ăn trâu khá đông, có thể đến hằng trăm người, nên dầu có nhiều thịt trâu, thịt heo, có nhiều người tự nguyện đến nấu nướng, nhưng bữa ăn cũng không thể chu đáo, hợp vệ sinh, lại ngay trên sàn nhà vừa làm heo hiến tế còn vương vãi huyết heo, còn dấu chân bùn đất, còn bả trầu. Có nơi, sau khi đâm trâu, người ta còn uống tiết trâu ngay khi con trâu hiến tế vừa xẻ thịt, ở ngay sàn nhà vừa dựng, thậm chí máu trâu còn dính vương vãi cả áo quần, như có lần chúng tôi chứng kiến trong lễ ăn trâu ở dốc Ông Thang, xã Sơn Dung, vào tháng 4 năm 2005. Có thể cách uống máu như thế từng là nghi lễ, nhưng không phù hợp với đời sống văn minh (mà nay, dường như ít có nơi còn ăn uống như vậy).
Người Ca dong nấu rượu bằng gạo lúa rẫy, lúa ruộng, hoặc củ mì và men vlo - một loại rễ cây rừng. Sau 7 ngày ủ trong ché là uống được. Họ đổ rượu trong ché ra thau, ca lớn, hoặc vào bình, rồi rót ra bát, ra chén, hoặc ống nứa mời khách, chứ không uống bằng triêng. Làm điều đó cũng giảm chuyện lây bệnh qua đường miệng, nếu uống chung các dây triêng (trừ lúc uống rượu trong ché thiêng trong đêm cầu sức khoẻ cho chủ nhà và những người thân, trước khi tiễn thầy cúng chính). Nhưng vì rượu nhiều, nên một số người vẫn uống nhiều, đàn ông lẫn đàn bà, nghiêng ngả suốt vài ngày trong chính lễ lẫn sau lễ, có người còn nằm bất động trên sàn nhà, bên hiên nhà, thậm chí nằm dọc đường, áo quần lấm lem đất đỏ.
Một lễ ăn trâu quá dài ngày, phải chăng nên cần giản lược? Không kể việc chuẩn bị nhiều năm, nhiều tháng, từ khi vào lễ, tức ngày ủ rượu trong ché, hoặc cúng ở nguồn nước, đến khi kết thúc lễ là 13 - 15 ngày. Với số ngày đó, đã có hàng chục cuộc cúng kiếng khác nhau. Nhưng muốn giản lược có lẽ tìm hiểu kỹ các nghi lễ và cần vận động giản lược.
4. Mấy lời kết
Lễ ăn trâu của người Ca dong, có lẽ cũng như lễ ăn trâu của các đồng tộc láng giềng người Hrê, người Cor trong tỉnh Quảng Ngãi, lẫn các đồng tộc ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, chứa đựng dường như đầy đủ những phong tục tập quán, tín ngưỡng, tri thức bản địa, nhân sinh quan, thế giới quan, các loại hình văn học nghệ thuật… mang đậm bản sắc của tộc người. Ở đó, con người hoà hợp với con người, con người hoà hợp với tự nhiên như một thể thống nhất, giàu tính nhân văn, làm cố kết cộng đồng. Và có như thế thì con người mới yêu mến con người, mới yêu mến đất đai, sông suối của mình. Mặt khác, qua lễ ăn trâu, di sản văn hoá của tộc người mới lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà di sản văn hoá mới là thứ làm nên sức mạnh bền vững của cộng đồng.
Loại bỏ lễ ăn trâu trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của tộc người, đồng nghĩa với việc đánh mất di sản. Tuy nhiên, để duy trì lễ ăn trâu, chắc hẳn cần phải có những khuyến nghị điều chỉnh cụ thể và cần lấy ý kiến của cộng đồng. Bởi, đó còn là niềm tin. Khai tử lễ ăn trâu trong cộng đồng cũng đồng nghĩa với sự tước đoạt niềm tin tín ngưỡng của tộc người, và cũng không ai dám chắc rằng, sẽ có ngày một tà giáo nào đó chen vào đời sống còn lắm gian nan của họ./.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sơn Tây (2017), Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Tây (1930- 2015), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
2. Cao Chư (2016), Văn hoá cổ truyền dân tộc Cor - tổng thể và những giá trị đặc trưng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
3. Durand, E. M. (1900), “Mois du Sơn-Phòng”, Bullentin de Geographie Historique et Descriptive, số 1-2.
4. Georges Condominas (2003), Chúng tôi ăn Rừng Đá -Thần Gôo; những người dịch: Trần Thị Lan Anh, Phan Ngọc Hà, Trịnh Thu Hồng, Nguyễn Thu Phương; người hiệu đính: Nguyên Ngọc; Nxb. Thế giới - Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội.
5. Haguet, H. (1905) “Notice ethnique sur les Mois de la région de Quảng Ngãi”, Revue Indochinois.
6. Nguyễn Văn Huy (2016), [giáo sư phụ trách Khoa Các dân tộc Đông Nam Á, Đại học Paris], Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, trên “Nghiên cứu lịch sử”; https://nghiencuulichsu.com/2016/08/31/cong-dong-nguoi-thuong-tren-cao-nguyen-mien-trung/
7. Maitre, Henri (1912), Les Jungles Moi, Emile Larose, Libraire - Éditeur, Paris.
8. Lê Hồng Lý - Nguyễn Thị Phương Châm - Hoàng Cầm - Hoàng Quỳnh Phương - Trần Hoài - Đoàn Thị Tuyến (2019), Văn hoá các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên - truyền thống, biến đổi và các vấn đề đặt ra, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
9. Nhiều tác giả (2014), Người Xơ Đăng ở Việt Nam (do Nguyễn Bảo Cương, Trần Tấn Vịnh biên soạn, Đặng Nghiêm Vạn viết bài, thẩm định nội dung và hình ảnh), sách ảnh, song ngữ Việt - Anh, Nxb. Thông tấn, Hà Nội.
10. Phòng Văn hoá, Thông tin huyện Sơn Tây (2009), Đặc san "Sơn Tây - Xưa và Nay" , do UBND huyện Sơn Tây xuất bản.
11. Schrock, Joann L. - William Stockton, Jr, - Elaine M. Murphy - Marilou Fromme (1966), Minority Groups in the Republic of Vietnam, Center for Research in Social Systems (CRESS) of the American University, Headquarters, Department of the Army.
12. Smith, Kenneth D. (2012), Sedang Dictionary with English, Vietnamese and French Glossaries, SIL Internatinal.
13. Trần Từ [GS Từ Chi] (1986), Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana, Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum.
14. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (1988), Người Xơ Đăng ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
15. Phạm Thị Trung (2010), Tín ngưỡng linh hồn của người Xơ teng, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
16. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) và các tác giả: Cầm Trọng - Trần Mạnh Cát - Lê Duy Đại - Ngô Vĩnh Bình (1981), Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
17. Đặng Nghiêm Vạn (1998), Người Xơ đăng ở Việt Nam, Trung tâm khoa học và nhân văn Quốc gia - UNESCO.
18. Nga Ri Vê (2016), Văn hoá dân gian dân tộc Hrê Quảng Ngãi, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội.
19. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.
20. Nguyễn Đăng Vũ (2007), Văn hoá truyền thống dân tộc Ca dong, tỉnh Quảng Ngãi, Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ngãi.
[1] Sách này viết là Công Tum, nên chúng tôi giữ nguyên cách viết này (thay vì viết là Kon Tum như hiện nay).
[2] Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) và các tác giả: Cầm Trọng - Trần Mạnh Cát - Lê Duy Đại - Ngô Vĩnh Bình (1981), Các dân tộc tỉnh Gia Lai - Công Tum, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.159-160. Tương tự như việc phân chia trong Danh mục các dân tộc Việt Nam ban hành theo Quyết định số 421, ngày 2 tháng 3 năm 1979 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê Việt Nam.
[3] Sau này còn bổ sung thêm Châu, Ta Trẽ (Ta Trĩ), Viện Dân tộc học (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.95.
[4] Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (1988), Người Xơ Đăng ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.20-21.
[5] Theo chúng tôi và một số người ở địa phương, thì phải phiên âm là Kayong mới đúng với tên tự gọi của họ và cũng đúng với các ghi của GS.TS Nguyễn Văn Huy, giáo sư phụ trách Khoa Các dân tộc Đông Nam Á, Đại học Paris, Cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung, trên “Nghiên cứu lịch sử”, 2016. Xem: https://nghiencuulichsu.com/2016/08/31/cong-dong-nguoi-thuong-tren-cao-nguyen-mien-trung/?fbclid.
[6] Lịch làm rẫy, trỉa lúa của người Ca dong ở Sơn Bua có khác so với người Ca dong ở vùng thấp hơn, sớm hơn vùng thấp khoảng 1 tháng, nhưng lễ ăn trâu của họ cũng đều tổ chức vào tháng 3 - 4 (tương đương tháng 3 tháng 4 dương lịch).
[7] Như lễ ăn trâu nhà ông Đinh Kà Để, thôn Huy Ralong, xã Sơn Mùa vào tháng 4 năm 2014.
[8] Một số lễ ăn trâu tại các gia đình mà chúng tôi đã được tham dự, có đánh số thứ tự bằng ngoặc vuông, theo thời gian tổ chức:
Ông Đinh Văn Thang [1] (thôn Huy Măng, xã Sơn Dung), tháng 4/2003; ông Đinh Văn Đó [2] (thôn Wi Ralung, xã Sơn Mùa), đều tổ chức tháng 4 năm 2004; ông Đinh Văn Nẻ (Ne) [3] (thôn Nước Min, xã Sơn Mùa), ông Đinh Văn Ra [4] (thôn Huy Em, xã Sơn Mùa), đều tổ chức vào tháng 3 năm 2005; ông Đinh Văn Dung [5] (thôn Huy Em, xã Sơn Mùa), tổ chức vào tháng 4 năm 2005 và tháng 4 năm 2023 [6]; ông Đinh Văn Hoanh [7] (thôn Măng He - nay là thôn Nước Tang, xã Sơn Bua); ông Đinh Văn Quỳnh (Đinh Trọng Quỳnh) [8] (thôn Nước Min, xã Sơn Mùa), ông Đinh Văn Đăm (thôn Nước Kĩa, xã Sơn Tinh), đều tổ chức vào tháng 3 năm 2006 [9], tháng 3 năm 2023 [10]; ông Đinh Văn Đẻ [11] (thôn Huy Măng, Sơn Dung), tổ chức vào tháng 4 năm 2006; ông Đinh Ka La [12,13, 14] (thôn Nước Min, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 4 năm 2007; tháng 4 năm 2014, tháng 3 năm 2023; ông Đinh Kà Để [15] (thôn Wi Ralong, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 7 năm 2014; ông Đinh Văn Nỉ [16] (thôn Nước Min, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 4.năm 2019; ông Đinh Văn Đang (Nang) [17] (thôn Nước Min, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 4 năm 2020; ông Đinh Văn Lá [18] (thôn Nước Lang, Sơn Dung), tổ chức tháng 4 năm 2021; ông Đinh Văn Đây [19] (thôn Tu La, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 4 năm 2022; ông Đinh Văn Rỡi [20] (thôn Nước Min, Sơn Mùa), tổ chức tháng 4 năm 2023; ông Đinh Văn Đoa [21] (thôn Ra Tân, xã Sơn Tinh), tổ chức tháng 4 năm 2024; ông Đinh Quang Vem [22] (thôn Huy Ralong, xã Sơn Mùa), tổ chức tháng 4 năm 2024…
[9] Georges Condominas (2003), Chúng tôi ăn Rừng Đá - Thần Gôo; những người dịch: Trần Thị Lan Anh, Phan Ngọc Hà, Trịnh Thu Hồng, Nguyễn Thu Phương; người hiệu đính: Nguyên Ngọc; Nxb. Thế giới - Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội, tr.36.
[10] Như trong lễ đâm trâu chia của trong đám tang ông Đinh Văn Quỳnh, ông Đinh Văn Bôn ở thôn Nước Min, xã Sơn Mùa, vào cuối tháng 10 năm 2022, mà chúng tôi có dịp tham dự.
[11] Như lễ ăn trâu nhà ông Đinh Ka La ở thôn Nước Min, xã Sơn mùa, vào tháng 3 năm 2023.
[12] Nhưng cũng có khi là trâu cái, tùy theo điều kiện và “sự đòi hỏi” của các vị thần sau khi bói trứng, bói giò gà… Lễ ăn trâu nhà ông Đinh Văn Rỡi, trong đầu tháng 4 năm 2023 vừa qua, cúng bằng trâu cái.
[13] Georges Condominas, tlđd, tr.257.
[14] Là loại cỏ thuộc họ cỏ voi nhưng không có lông.
[15] Có nơi gọi là vung vaang/vung veng, là phần dưới cùng của cây nêu.
[16] Được pha chế bằng lá trầu, cau khô hoặc đá đỏ lấy ở suối (màu đỏ), vôi (màu trắng), nhọ nồi (màu đen). Nay một vài nơi còn dùng sơn công nghiệp để làm hoa văn cho cây nêu, lẫn chim hang, chim chèo bẻo, tầng vung veang, chu vuk, cho croh…
[17] Nhiều người Ca dong cho rằng: chim chèo bẻo (vlink) là biểu tượng cho người Ca dong. Nhưng có lẽ không chỉ là người Ca dong. Trên cây nêu phướn (xa glak) của người Cor ở Trà Bồng, cũng có hình chim chèo bẻo (người Cor gọi là sip plít), mà không chỉ có 1 con, có khi đến 2 hoặc 4 con (như cây nêu phướn mà chúng tôi quan sát được tại lễ ăn trâu tại Trà Thuỷ, Trà Bồng, năm 2014). Có lẽ chim chèo bẻo là biểu tượng chung cho các tộc người ở miền núi trong tỉnh (xem thêm về cây nêu người Cor: Cao Chư, Văn hoá cổ truyền dân tộc Cor - tổng thể và những giá trị đặc trưng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.277-278).
[18] Gọi là hanâng weang hay hanâng waang.
[19] Trong tập thơ, trường ca của ông Bh’riu Liếc, cũng có nhắc đến huyền thoại về người đàn bà và con chó còn sống sót sau trận đại hồng thuỷ, rồi lấy nhau sinh ra người Cơtu. Xem: Bh’riu Liếc (2021), Tình núi, Nxb. Văn học, Hà Nội, bài “Tộc danh Cơtu”.
[20] Giải thích của ông Đinh Xuân Bình - thôn Nước Min, xã Sơn Mùa (hiện là Phó Ban dân vận Huyện uỷ huyện Sơn Tây). Ông Bình còn giải thích thêm: Nếu croh dùng như tính từ, thì croh còn có nghĩa là giàu có. Nhưng trong trường hợp này thì nên giải thích: Cho croh là chó mẹ.
[21] Chúng tôi chưa biết danh từ tương đồng về các loại cây lá này trong tiếng Việt.
[22] Như con trâu hiến sinh của gia đình ông Đinh Ka La, ở Nước Min, Sơn Mùa vào ngày 12 tháng 4 năm 2023.
[23] Như con trâu hiến sinh trong lễ ăn trâu nhà ông Đinh Văn Rỡi trong vào ngày 2 tháng 4 năm 2023.
[24] Như ông Đinh Văn Đẻ ở Huy Măng, hay ông Đinh Văn Lá ở Đăk Lang, đều thuộc xã Sơn Dung, mà chúng tôi đã chú thích ở trước.
[25] Việc lựa chọn 2 padâu tuỳ quẻ bói bằng tay (hađha ti) của người đàn ông chủ gia đình, sau khi đốt thuốc lá bột trên bếp, rồi nhờ thần Xink Xôi hỏi đến thần Tơrok. Ông Đinh Ka La bảo: “Ông Xink Xôi và Tơrok, phải nói là ưng padâu lớn hay, pa dâu nhỏ nào?”. Nhưng thực ra, người chủ nhà đã lựa chọn cả 2 padâu cho lễ ăn trâu của gia đình mình, trong số các thầy cúng và con trai trong làng.
[26] Như lễ ăn trâu của nhà ông Đinh Văn Lá, thôn Đăk Lang, Sơn Dung. Một số người bà con người Ca dong của ông Lá ở Đăk Nên, Kon Plong, Kon Tum, còn chèo thuyền qua hồ thuỷ điện sông Ring để tham dự hội cacheo (tháng 4 năm 2021).
[27] Như lễ ăn trâu nhà ông Đinh Văn Hoanh, thôn Mang He, xã Sơn Bua.
[28] Tay phải của người mời rượu áp vào tay phải của người được mời, xong cả hai lấy bàn tay áp lên thái dương. Người được mời rượu lấy tay trái đón lấy chén rượu, rồi uống phép. Nếu không uống hết chén rượu, thì có thể lấy ngón trỏ chấm vào rượu rồi đưa lên môi, xem như đã uống xong chén rượu. Người Ca dong có thể uống nhiều rượu, nhưng không ép khách uống rượu say.
[29] Đó là lời nhận xét của Giáo sư, tiến sĩ Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam), khi chúng tôi đưa ông lên tham dự lễ hội ăn trâu của người Ca dong, huyện Sơn Tây, vào tháng 3 năm 2009. Chúng tôi có đưa bản nhận xét này in trong Đặc san "Sơn Tây - Xưa và Nay", do UBND huyện Sơn Tây xuất bản, năm 2009.
[30] Lời khấn của ông Đinh Văn Lá (sinh năm 1971), trong lễ ăn trâu tại gia đình, tại plây Wi Ralung, thôn Đắk Lang, xã Sơn Dung. Bản ghi của tác giả, bản phiên âm và dịch nghĩa của Đinh Xuân Bình. Ông Bình dịch như sau:
Đây tôi đốt nhang (tagu) kêu gọi, mời tìm, nhang đi kêu, nhang đi mời:
- Mời các vị ông, vị bà, vị ông làm cha, vị bà làm vợ,
- Mời các vị ở nơi núi cao, dãy núi dài, ở nơi đá tảng, đá bàn…
Các vị đi vắng nơi người Cor, người Hrê, buôn bán hãy tạm dừng, chậm trễ hãy tạm gác
Hôm nay tôi tìm, đêm nay tôi gọi
Tôi tìm trâu đã ra, rượu cần đã có
Tôi từng hứa vì vợ, vì con từ trước tới nay, vợ tôi an toàn, con tôi khỏe mạnh, các vị không làm đau ốm bệnh tật
Hôm nay đã có điều kiện, hiến dâng các vị
Dâng các vị trâu đực tơ, trâu lớn hết ý
Mong các vị đi cùng thời đến cùng lúc
Xin các vị nhận uống, nhận ăn
Ăn bảo vệ, nâng đỡ từ nay trở đi…
[31] Lời của GS Ngô Đức Thịnh, trong bài “Triết lý sống bên cột ăn trâu” (trong Đặc san "Sơn Tây - Xưa và Nay", do UBND huyện Sơn Tây xuất bản, năm 2009).
[32] Trong lễ ăn trâu ở nhà ông Đinh Văn Thang (4/ 2003), 7 thanh niên leo lên tận đỉnh Tà Mực (Kà Muk).
[33] Trong sách Tín ngưỡng linh hồn của người Xơ teng, Nxb.Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2010, tr.51, Phạm Thị Trung cho biết: Trong lễ ăn trâu của người Xơteng, nghi lễ bắn núi là một trong những nghi lễ hoành tráng nhất. “Nghi lễ bắn núi, nguyên khởi là một nghi lễ mừng chiến thắng được tổ chức vào tháng 8 hằng năm, thời điểm giáp hạt. Về sau nghi lễ này được tổ chức như một tưởng niệm chiến trân”.
[34] Ông Cao Trung Tín, nguyên Bí thư Huyện uỷ Sơn Tây, có cho biết thêm: Nếu gia đình tổ chức lễ ăn trâu là một gia đình giàu có, có quyền lực, những người tham dự lễ ăn trâu phải đi phát rẫy cho gia đình đó đến 3 ngày (phỏng vấn ngày 13/3/2006).
[35] Ghi lại băng hình phỏng vấn, ngày 01/4/2023.
[36] Phỏng vấn ngày 10/3/2023.
[37] Vừa mất trong tháng 5/2023.
[38] Phỏng vấn ngày 10/10/2022.
[39] Băng phỏng vấn ngày 10/3/2023.
[40] Phỏng vấn, băng ghi hình 10/3/2023.
[41] Phỏng vấn ngày 01/4/2023.
[42] Xem: Trần Từ [GS Từ Chi] (1986), Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana, Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum.
[43] Phỏng vấn ngày 10/10/2022. Ông Xỏ đã mất năm 2023.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét