Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2024

THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NAM TRUNG BỘ (Nhà nghiên cứu Tôn Thất Hướng)

(Dẫn liệu kinh nghiệm từ tỉnh Quảng Nam)
Tóm tắt: Trong lịch sử hình thành và phát triển, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền núi Quảng Nam đã xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc, đặc trưng văn hóa của các cộng đồng tộc người, góp phần làm đa dạng và phong phú bề dày truyền thống văn hóa của tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, qua quá trình phát triển kinh tế xã hội, thực trạng đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi vẫn còn khó khăn, hạn chế nhất định về đời sống văn hóa tinh thần, một số hình thái biểu hiện văn hóa bị tác động, ảnh hưởng của môi trường xã hội hiện đại, các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một.

Từ khóa: Dân tộc Quảng Nam, văn hóa tộc người, bảo tồn văn hóa dân tộc, miền núi Quảng Nam.

Nội dung

Hiện nay, miền núi tỉnh Quảng Nam bao gồm 8 huyện: Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn, Tiên Phước, Hiệp Đức với, diện tích 7.287km2, chiếm 69,8% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với dân số trên 230.000 người. Toàn tỉnh có 115 xã miền núi, trong đó có 65 xã đặc biệt khó khăn khu vực 3. Địa bàn các huyện miền núi cao là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số bản địa Cơtu, Gié-Triêng, Xơđăng, Cor và một số dân tộc khác với dân số 120.000 người; trong đó dân tộc Cơtu chiếm nhiều nhất 45.000 người; dân tộc Xơđăng 37.000 người bao gồm các nhóm địa phương Ca Dong, Mơ nâm, Tơ đrá; dân tộc Giẻ-Triêng 20.000 người bao gồm các nhóm địa phương Bh’noong, Ve, Tà riềng; dân tộc Cor 13.000 người; ngoài ra còn có khoảng gần 3.000 người các dân tộc khác (Tày, Nùng, Mường, Thái...) từ phía Bắc di cư tự do đến miền núi Quảng Nam sau năm 1975.

1. Một số kết quả trong công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam

Công tác bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống luôn nhận được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, từ tỉnh đến cơ sở. Ngay từ năm 1997, sau ngày tái lập tỉnh, cùng với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, Khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết số 33 của BCH Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Quyết định Số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tưởng Chính phủ về phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số đến năm 2020; Quyết định số 209/QĐ-BVHTTDL ngày 23/2/2019 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL về việc phê duyệt Đề án "Bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"; Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc miền núi. Bên cạnh đó, Huyện ủy một số huyện miền núi như Phước Sơn, Tây Giang, Đông Giang… cũng đã ban hành Chỉ thị về công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc: Huyện ủy Tây Giang với Nghị Quyết 09-NQ/HU về tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa Cơtu; Huyện ủy Đông Giang với Nghị quyết số 09-NQ/HU về bảo tồn, khôi phục và phát huy bản sắc văn hoá Cơtu; huyện Phước Sơn với Đề án khôi phục nhà làng truyền thống.

Trên lĩnh vực bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa vật thể: Quảng Nam đã thực hiên khá tốt việc khôi phục và xây dựng nhà làng truyền thống. Đây là loại hình kiến trúc dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam nói riêng, khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung, gắn với đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào. Theo phong tục của đồng bào, nếu lập làng mới, dù có khó khăn bao nhiêu thì trong khoảng thời gian một năm phải xây dựng được một nhà làng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, từ cuối những năm 1990, một số làng không còn chú ý đến phục dựng nhà làng truyền thống, dẫn đến không có nhà sinh hoạt cho cộng đồng dân cư.

Trước thực trạng đó, các cấp ủy đảng và chính quyền đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc. Trong báo cáo “về một số chủ trương và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2010 - 2020”, Tỉnh ủy Quảng Nam cũng đã chỉ rõ phải “tập trung đầu tư, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, sưu tầm có hệ thống các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc. Trên cơ sở đó có những giải pháp tích cực để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống như: kiến trúc nhà ở và nhà làng, lễ hội cổ truyền, trang phục, các phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng…”.

Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy, các huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã triển khai Đề án khôi phục nhà làng truyền thống, trong đó, ngoài kinh phí từ chương trình mục tiêu quốc gia (hỗ trợ từ 70 - 200 triệu đồng/nhà), mỗi huyện cũng hỗ thêm hàng trăm triệu đồng và vận động tài trợ từ các tổ chức, cá nhân. Đến nay, gần 90% số thôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhà sinh hoạt truyền thống.

Về bảo tồn trang phục truyền thống: Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ tỉnh đến huyện, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào các dân tộc được khôi phục và phát triển, vừa cung cấp nhu cầu của nhân dân, vừa phục vụ cho du lịch. Ở một số huyện như Tây Giang, Đông Giang và Phước Sơn, địa phương đã và đang xúc tiến xây dựng một số làng nghề dệt thổ cẩm, đan lát gắn với phát triển du lịch cộng đồng để vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa phục vụ cho khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu; đồng thời vận động cán bộ, nhân dân người dân tộc thiểu số mặc trang phục trong các dịp lễ, tết, các kỳ họp quan trọng, ngày chào cờ đầu tuần ở trường học; giao trách nhiệm cho ngành văn hóa hướng dẫn, thẩm định các hoa văn họa tiết của sản phẩm làm ra, đồng thời khảo sát, giới thiệu ra bên ngoài những giá trị của sản phẩm nghề dệt thổ cẩm của địa phương.

Trên lĩnh vực bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa phi vật thể: Đồng bào các dân tộc miền núi Quảng Nam hiện sở hữu một kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú và đa dạng, bao gồm các phong tục, tập quán gắn với đời sống của con người với môi trường tự nhiên, xã hội; ẩm thực truyền thống; văn học dân gian như truyện cổ tích, ca dao, dân ca; nghệ thuật dân gian với các loại nhạc cụ, nói lý, hát lý, hát giao duyên, múa tân tung dadá; nghệ thuật điêu khắc; các lễ hội dân gian như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới, lễ cưới, lễ tang, lễ bỏ mả... Trong thời gian qua, các ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể, bao gồm:

Về bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết: Công tác sưu tầm, biên soạn nhằm bảo tồn ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số được triển khai mạnh mẽ trong thời gian qua. Tới nay, đã hoàn thành và biên soạn bộ chữ Bh’noong; biên soạn ngữ vựng Việt - Cadong, Cadong- Việt; biên soạn sách ngữ pháp tiếng Cadong, sách dạy và học tiếng Cadong; biên soạn bộ Tiếng thông dụng Cơtu-Kinh và văn hoá Làng Cơtu, Từ điển Cơtu - Việt, Việt - Cơtu.

Về sưu tầm văn học và văn hóa dân gian: Nghiên cứu và xuất bản nhiều cuốn sách, công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa của các dân tộc như: Văn hoá người Cơtu, người Cơtu ở Việt Nam. Các huyện cũng quan tâm đến công tác sưu tầm các loại hình văn học dân gian các dân tộc, bao gồm nói lý, hát lý, hát ru; truyện cổ tích, Cha chấp, ca lới... góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá, đồng thời giới thiệu hình ảnh, văn hoá của các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam đến với công chúng.

Về bảo tồn các loại hình nhạc cụ truyền thống: Trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Nam không thể thiếu các loại nhạc cụ đàn Pró, đàn Coong, đàn đá... và đặc biệt là cồng chiêng. Đi cùng với bảo tồn các loại nhạc cụ, các làn điệu dân ca, dân vũ như hát Cheo, hát A giới, Xà ru, hát ru, hát đối đáp, nói lý, hát lý, hát giao duyên, múa tung tung da dá vẫn đang được gìn giữ và biểu diễn tại cộng đồng trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ như: Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, thi trang phục truyền thống, thi hát dân ca; đồng thời vẫn đang được các già làng, nghệ nhân truyền dạy. Các làn điệu dân ca Cơtu được sưu tầm, dàn dựng và ghi âm.

Thực hiện Chương trình Bảo tồn văn hóa dân tộc, tỉnh Quảng Nam đã triển khai thực hiện Dự án 6, tổ chức phục dựng các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán đã bị mai một như: Lễ cúng đất lập làng dân tộc Cơtu, Lễ cưới dân tộc Tà riềng, Lễ cúng máng nước dân tộc Ca dong… và các lớp truyền dạy cồng chiêng, sử dụng nhạc cụ ở cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ngoài ra, về giá trị văn hoá ẩm thực của các dân tộc luôn được phát huy trong dịp lễ hội, tiếp khách với các món ăn truyền thống như cơm lam, sắn lam, bánh cuốt, thịt, cá nấu trong ống nứa, các loại rượu: cần, tàvạc, tr’đin, bakích, đẳng sâm…

Bên cạnh đó, từ tỉnh đến huyện, xã thường niên tổ chức lễ hội dân gian như: Lễ hội mùa Xuân, lễ hội Văn hóa Thể thao các huyện miền núi, lễ Mừng lúa mới, Gươl mới, Lễ cúng máng nước...; đan xen với đó là các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã góp phần trong công tác bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam.

Công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở: Trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam đã đầu tư nhiều công sức, triển khai toàn diện và sâu rộng công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở ở vùng dân tộc miền núi theo tinh thần Chỉ thị 39/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác văn hóa thông tin miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là thực hiện Nghị quyết 05-NQ/TU ngày 12/10/2002 của Tỉnh ủy về một số chủ trương và giải pháp trọng tâm về dân tộc thiểu số (giai đoạn 2002-2007), đạt một số kết quả như: đầu tư trên 10 tỷ đồng cho việc nghiên cứu bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ; cung cấp trang thiết bị văn hóa, hỗ trợ các địa phương tổ chức lễ hội truyền thống, hỗ trợ trên 50% số xã có đội văn nghệ duy trì hoạt động văn nghệ quần chúng. Phong trào xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn các huyện miền núi đã có nhiều chuyển biến tích cực, truyền thống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn và phát huy. Ngày hội Đại đoàn kết các dân tộc được tổ chức định kỳ hằng năm tại các thôn, nóc, được kết hợp với các hoạt động như giao lưu văn hóa thể thao; các lễ hội truyền thống được phát huy các yếu tố tiến bộ.

Cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” mà trọng tâm là xây dựng thôn văn hóa, gia đình văn hoá phát triển sâu rộng trong toàn tỉnh, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, thu được nhiều kết quả cao. Tỉ lệ thôn, hộ gia đình đăng ký xây dựng thôn văn hóa, gia đình văn hóa cũng như tỉ lệ được công nhận các danh hiệu thôn văn hóa, gia đình văn hóa qua các năm không ngừng được nâng lên, đạt tỷ lệ 73,67% trong năm 2023. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo tinh thần Chỉ thị 27/CT của Bộ Chính trị được các cấp, các ngành và nhân dân hưởng ứng. Không còn hiện tượng ép hôn, tảo hôn, thách cưới; việc tổ chức tiệc cưới dài ngày, ăn uống linh đình không diễn ra mà thay vào đó các nghi lễ theo đúng truyền thống. Đối với việc tang, các hủ tục lạc hậu khi có người chết của đồng bào các dân tộc được loại bỏ như không chôn tài sản theo người chết, không còn hiện tượng tang chủ tổ chức ăn uống linh đình kéo dài.

2. Nhìn lại công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc miền núi tỉnh Quảng Nam

Công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số ở miền núi trong những năm qua đã có bước phát triển, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân. Công tác bảo tồn văn hóa có nhiều tiến bộ, phát triển mạnh về quy mô và số lượng; hoạt động văn hóa văn nghệ, phong trào toàn dân đoàn kết diễn ra đa dạng và phong phú, từng bước đi vào chiều sâu, có chất lượng khá, góp phần quan trọng ổn định và thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, bộ mặt đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào có sự thay đổi sâu sắc và rõ nét.

Bên cạnh đó, có những hạn chế là các giá trị văn hóa của các cộng đồng dân tộc đang có nguy cơ đối mặt với những thách thức như: bị phai nhạt, mất mát và dễ bị đồng hóa, biến dạng trong quá trình hội nhập và phát triển; một số nét văn hóa đang dần bị mai một và không còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống người dân, nhất là các thế hệ trẻ: Trang phục truyền thống như khố, váy và các loại cườm, vòng trang trí không còn được sử dụng mà thay vào đó là các trang phục phổ thông hiện đại. Các bộ cồng chiêng của nhân dân đang dần bị hư hỏng do thời gian, các điệu múa cồng chiêng không được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân cư mà chủ yếu tập trung vào những người lớn tuổi. Các lễ hội truyền thống như đâm trâu, mừng lúa mới, cúng máng nước không còn được tổ chức thường xuyên tại các thôn, nóc. Các loại hình dân ca, dân vũ như hát ru, hát dân ca ít được sử dụng, lưu truyền và phổ biến, đặc biệt là trong lớp trẻ. Nhà sinh hoạt cộng đồng tại các thôn, nóc ít được nhân dân sử dụng làm nơi hội họp cũng như sinh hoạt truyền thống, một số phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín tin vào ma quỷ, yểm bùa, nạn tảo hôn... đang có nguy cơ quay trở lại.

Nguyên nhân của những hạn chế: Trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế, cuộc sống đa phần khó khăn, do đó việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào còn gặp rất nhiều trở ngại; tâm lý của người dân tộc thiểu số bình đẳng, cả tin, thực tế, cụ thể, đơn giản, ỷ lại, dựa dẫm vào cộng đồng, xã hội; một số nơi còn tồn tại hủ tục lạc hậu. Trong quá trình hoà nhập với xã hội, do thay đổi tập quán sinh sống, thay đổi phương thức làm ăn, bị sự tác động mạnh của cơ chế thị trường…khiến đời sống của đồng bào gặp nhiều khó khăn, từ đó dẫn đến xao nhãng việc duy trì các phong tục, tập quán, các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Công tác khôi phục, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tuy đã được chú ý nhưng sự đầu tư còn thấp, kinh phí phân bổ hằng năm còn hạn hẹp, không đảm bảo cho việc điều tra khảo sát, nghiên cứu biên soạn, dẫn đến nhiều giá trị văn hoá tiêu biểu đã và đang có nguy cơ mai một. Trong khi đó, đời sống kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn nên ảnh hưởng tới việc duy trì tổ chức các lễ hội truyền thống; lực lượng nghệ nhân dân gian ngày càng thiếu vắng, người lớn mất dần, nhiều dân tộc không có chữ viết do đó các giá trị nghệ thuật không được ghi chép, truyền dạy cho thế hệ sau.

Một số cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chưa nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa, chưa có sự phối hợp chặt chẽ, còn khoán trắng cho ngành văn hóa. Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở cấp xã; các thiết chế văn hóa còn hạn chế; các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tổ chức không được thường xuyên, còn sơ sài, chưa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân; sản phẩm, phương tiện văn hóa phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân còn thiếu và lạc hậu... đã ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn văn hóa dân tộc trên địa bàn, nhất là các giá trị văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc văn hóa đồng bào.

Việc triển khai đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước chưa thực sự sâu sát trong cấp uỷ Đảng, chính quyền. Các cấp, các ngành quản lý triển khai thực hiện các chương trình văn hóa còn thiếu tính phối hợp đồng bộ. Đời sống văn hóa cơ sở ở vùng các dân tộc thiểu số phát triển chưa đồng đều ở các vùng, địa phương. Bộ máy tổ chức ngành còn chưa thống nhất, cán bộ làm công tác văn hóa vừa thiếu vừa yếu, thường xuyên biến động ở cơ sở. Chế độ chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với cán bộ văn hóa miền núi chưa rõ ràng, đời sống cán bộ nhất là văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn. Việc đầu tư ngân sách cho xây dựng các thiết chế văn hóa ở miền núi còn hạn chế nhất là trang thiết bị cho các hoạt động văn hóa, lễ hội. Một số địa phương chưa quan tâm đầu tư các thiết chế văn hóa cơ sở, có nơi cắt giảm kinh phí sự nghiệp văn hóa thông tin làm cho việc tổ chức hoạt động ở cơ sở gặp khó khăn.

Tác động của việc xây dựng các công trình thủy điện: Cuối năm 2009, Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức Hội nghị chuyên đề phát triển thủy điện trên địa bàn tỉnh. Tại Hội nghị này, đại diện các huyện có thủy điện và các huyện bị tác động bởi thủy điện như Nam Giang, Bắc Trà My, Đông Giang, Tây Giang, bên cạnh khẳng định những lợi ích mà thủy điện đem lại, đã thấy những bất cập như vấn đề phá rừng, di dân dẫn đến bản sắc văn hóa làng của đồng bào các dân tộc nguy cơ bị mai một. Với đồng bào các dân tộc nói chung, đồng bào các dân tộc ở miền núi Quảng Nam nói riêng, sinh hoạt văn hóa của họ thường gắn với núi rừng, với con suối, nương rẫy và sự cố kết cộng đồng... Tuy nhiên, khi các dự án thủy điện được triển khai, một số lượng lớn đất đai, bao gồm cả đất rừng, đất ở và đất sản xuất của đồng bào đã phải nhường cho thủy điện, dẫn đến một bộ phận dân cư trong vùng buộc phải di dời đến những nơi ở mới. Điều này đã gây ra những xáo trộn về môi trường sống, tập quán cư trú và các hình thức sản xuất, sinh hoạt văn hóa truyền thống.

3. Những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được trong lĩnh vực văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thời gian qua cũng còn nhiều vấn đề cấp bách cần khắc phục, những nhu cầu bức thiết cần phải giải quyết. Đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số còn rất khó khăn so với đồng bằng. Trong đó, vấn đề đặc biệt cấp bách đặt ra là bản sắc văn hóa của các tộc người này bị mai một nhanh chóng. Thậm chí có dân tộc (như tộc người Ca dong) ít tìm được các nét văn hóa đặc trưng. Nhiều chính sách được thực hiện thông qua những dự án, đề án, và chương trình mục tiêu quốc gia, sự đầu tư văn hóa của tỉnh còn chưa thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng của văn hóa/chính sách văn hóa đối với các chính sách cũng như biện pháp phát triển kinh tế - xã hội ở vùng các dân tộc thiểu số và đối với các dân tộc thiểu số; Sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá còn lớn: Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn hoá còn nghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hoá so với thành thị còn lớn.

Về nhận thức, nếu lấy mốc đánh dấu về sự đổi mới từ năm 1986, văn hóa của các dân tộc thiểu số sau gần 30 năm nhìn lại đã có gì khác hơn trước. Ở các dân tộc Cơtu, Cor, Xơđăng, Giẻ - Triêng ở miền núi Quảng Nam… văn hóa đã phát triển như thế nào? Hạn chế gì còn tồn tại cần phải khắc phục? Đó là những vấn đề cần phải trao đổi để định hướng phát triển tốt hơn. Quảng Nam với đặc thù là có 4 tộc người thiểu số ở miền núi, nhưng lại chia thành nhiều nhóm địa phương rất phức tạp thì sẽ xây dựng một nền văn hóa đa sắc tộc như thế nào?

Những năm gần đây các chương trình của chính phủ thực hiện đối với vùng núi, chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, ít chú ý đến việc phát triển văn hóa của từng dân tộc cụ thể. Các giải pháp chưa giải quyết căn cơ những vấn đề căn cốt của sự đói nghèo để người dân có cuộc sống tinh thần và vật chất tốt hơn. Tuy chúng ta đã có rất nhiều chính sách ưu tiên cho miền núi, nhưng cần xác định là chúng ta cho đồng bào cái cần câu hay cho con cá. Đã đạt đến tính bền vững hay chưa? Thực trạng ở Quảng Nam, mặc dù đã quan tâm đến miền núi, nhưng trong tư tưởng của đồng bào còn ỷ lại nhà nước. Mặc khác các công trình phúc lợi (nhà sinh hoạt cộng đồng, thiết chế văn hóa) do Nhà nước xây dựng, đồng bào không có đóng góp công sức nên họ còn đứng ngoài cuộc. Một số di sản văn hóa ở các vùng dân tộc thiểu số ở Quảng Nam như văn hóa cồng chiêng, các giá trị nghệ thuật diễn xướng, phong tục, tập quán, lễ hội… chúng ta chưa đặt ra câu hỏi đã có điều gì làm được tốt hơn so với trước kia, đã được bảo tồn và phát huy như thế nào? Hay là văn hóa của các dân tộc thiểu số hiện tại đang ở trong trạng thái rơi tự do, không có định hướng phát triển.

Về chính sách: Các chính sách về văn hóa dân tộc thiểu số từ trước đến nay đều mang tính chất ứng phó hơn là tính chiến lược lâu dài. Không có chính sách riêng để phát triển văn hóa của từng dân tộc. Xoá nhoà sự độc đáo đặc sắc của mỗi dân tộc. Sự kỳ thị văn hóa dân tộc thiểu số luôn thể hiện trong chính sách: văn hóa dân tộc thiểu số ở miền núi luôn bị coi là lạc hậu, phải đem ánh sáng từ miền xuôi lên để soi sáng cho vùng cao… Đây là sự thể hiện nhận thức hạn chế của người soạn chính sách và vô tình đã hạ thấp văn hóa của các dân tộc thiểu số.

Điều cần thiết nhất cho việc phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay là phải có các chính sách đúng đắn mang tính chiến lược. Phải khắc phục tình trạng văn hóa đang theo xu hướng rơi tự do. Nhiều năm, tổ chức thi hát dân ca, liên hoan dân ca, liên hoan lễ hội… nhưng các dân tộc thiểu số vẫn chưa có một bản băng đĩa dân ca đúng nghĩa để nghe. Sự suy thoái về thuần phong mỹ tục vẫn tiếp diễn không được ngăn chặn, các bản nhà sàn truyền thống bị dỡ bỏ hàng loạt, để miền núi hiện nay mất gần hết nhà sàn, hay là các hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian truyền thống rất đặc sắc cũng bị biến mất.

Chính sách phát triển văn hóa cho miền núi trong thời gian tới phải định hình hướng đi cho từng dân tộc một cách cụ thể. Nếu chính sách nào chỉ muốn xây dựng văn hóa miền núi giống hệt như miền xuôi thì tức là vô hình chung là đã thủ tiêu văn hóa các dân tộc thiểu số. Quan điểm đem ánh sáng văn hóa miền xuôi lên miền núi chính là làm biến dạng văn hóa dân tộc thiểu số.

Về bảo tồn và phát triển: Kể từ khi đất nước đổi mới năm 1986, văn hóa các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam đã phục hồi trở lại với tốc độ rất nhanh. Sự phục hồi trở về nguyên gốc phù hợp với quy luật của tự nhiên. Văn hóa ổn định nên kinh tế xã hội ổn định theo, cuộc sống của người dân dễ chịu hơn. Người dân tộc thiểu số ngày càng yêu văn hoá của mình và có ý thức giữ gìn bảo vệ hơn. Tuy vậy, có không ít các hình thức văn hóa dân gian đã trở nên biến dạng, do chúng ta không nhìn nhận thấy vấn đề này, nên đã không có sự định hướng của các cơ quan quản lý. Các lễ hội, phong tục tập quan trong việc cưới, tang ở các thôn, làng… nếu cứ để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển không có sự định hướng như hiện nay chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ cho xã hội. Việc tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội như hiện nay đã làm mất đi phần nhiều các giá trị nhân bản của truyền thống. Nguồn gốc của các lễ hội là bắt đầu từ lao động sản xuất, mô phỏng và cách điệu hóa các động tác lao động sản xuất để cho cuộc sống tinh thần được thăng hoa. Chúng ta áp dụng văn hóa hiện đại sẽ làm mất đi không gian thiêng của lễ hội, làm ngược lại quy luật của tự nhiên, tước đi tính đánh thức con người bản thể là đặc điểm quan trọng của lễ hội. Thông thường lễ hội ở đồng bào dân tộc mỗi nơi đều có tính chất và ý nghĩa khác nhau, một thôn làng muốn thể hiện được sự thăng hoa của làng mình đều phải thể hiện qua lễ hội. Đối với một lễ hội truyền thống, quan trọng nhất là giữ gìn sự độc đáo riêng. Nếu lễ hội bị biến dạng thì sẽ mất đi sự độc đáo đó. Cần thực hiện quan điểm xuyên suốt là Nhà nước không làm thay, chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tác động tạo điều kiện, môi trường thuận lợi, phù hợp để bảo tồn, phát triển văn hoá của các dân tộc thiểu số. Việc triển khai thực hiện cần theo hướng từ dưới lên: chủ thể văn hoá là đồng bào tự đề xướng, thực hiện và thụ hưởng.

Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hoá rất hạn chế do chính sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực. Vai trò của chủ thể, của người dân, của cộng đồng chưa được phát huy và đặt đúng vị trí trong việc lập kế hoạch, xây dựng dự án cũng như triển khai, tổ chức quản lý, giám sát các dự án từ cơ sở đối với các dự án nói chung và các chương trình, dự án về văn hoá, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số; Đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu, yếu, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực là người dân tộc thiểu số. Người có uy tín và các nghệ nhân người dân tộc thiểu số ngày càng ít dần. Nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học. Nghệ thuật diễn xướng của các dân tộc Cơtu, Cor, Xơ đăng, Giẻ - Triêng và hàng trăm làng truyền thống với các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc (kiến trúc, trang phục dân tộc, nghề truyền thống và các món ăn truyền thống, các làn điệu dân ca, dân vũ, lễ hội…) đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá hoặc do tác động của xã hội cần phải được hướng dẫn, hỗ trợ để bảo tồn, phát huy trong cuộc sống đương đại.

Những bất cập trên xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản là: Nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của việc bảo tồn, phát triển văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa đúng, chưa thật đầy đủ, chưa thống nhất cao. Việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã được thể chế hoá, nhưng từ văn bản đến hiện thực vẫn còn nhiều khoảng cách mà nguyên nhân là thiếu sự tương thích giữa bảo vệ, giữ gìn với phát huy phát triển. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ chỗ chưa có sự đồng thuận của những chủ thể văn hóa; Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số còn rất thiếu, trình độ không đồng đều, nhiều nơi còn rất yếu, không đáp ứng được yêu cầu công tác trong tình hình mới; Nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và định hướng; chưa làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn hoá, đặc biệt là văn hoá các dân tộc thiểu số trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc xác định những giá trị truyền thống cũng như hệ giá trị mới cần xây dựng, trong việc xử lý các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, văn hoá và kinh tế.

Từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trước những đòi hỏi của thực tế, yêu cầu của xu hướng phát triển, trên cơ sở kế thừa, tích luỹ những bài học về bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc thiểu số, ngày 27 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1270/ QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” và ở tỉnh Quảng Nam cũng có Đề án tập trung ưu tiên cho phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số, trong đó ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo; những vùng phải di dời để phát triển kinh tế; vùng có nguy cơ cao bị mai một bản sắc văn hóa. Tập trung đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Gắn kết chặt chẽ những hoạt động xây dựng đời sống văn hoá với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực, từng vùng, từng dân tộc.

Chủ thể văn hóa, cộng đồng kế thừa và thực hành văn hóa có một vai trò to lớn và là nhân tố quyết định trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Vì vậy, cần coi trọng và tổ chức thực hiện các chương trình về bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hoá, văn học, nghệ thuật, đặc biệt là hỗ trợ sự phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc thiểu số; Ưu tiên đầu tư cho việc giữ gìn và phát huy các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống các dân tộc thiểu số, sưu tầm, phục hồi và phát triển một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ thất truyền; Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế, phát triển nghề thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng kết hợp với xoá đói, giảm nghèo; Phát triển và hiện đại hoá mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hoá, thông tin phù hợp. Đẩy mạnh và phát huy hiệu quả công cụ phát thanh, truyền hình phù hợp vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá cộng đồng, thực sự phát huy vai trò của cộng đồng trong tổ chức các hoạt động cộng đồng, phát huy hiệu quả thực sự của các thiết chế văn hoá; Tăng cường các hoạt động giao lưu văn hoá cấp địa phương, vùng, miền và toàn quốc; Xây dựng các chính sách khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể của cộng đồng các dân tộc thiểu số.

Để triển khai các nhiệm vụ, nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đối với Quảng Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp cơ bản: Tổng rà soát, tái cơ cấu nguồn lực trong các chương trình, dự án trực tiếp và gián tiếp tác động tới bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số theo hướng ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm; định hình, phát triển văn hoá phù hợp ở vùng miền núi, đồng thời với tập trung đào tạo nguồn nhân lực nòng cốt cho bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc ở các cấp huyện, tỉnh, gắn bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc với phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ chuyên môn cho cán bộ làm công tác văn hoá dân tộc; có chính sách, cơ chế phát huy những người có uy tín, nghệ nhân, thế hệ trẻ của các dân tộc thiểu số trong việc bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống; Phối hợp giữa các phương tiện thông tin báo chí xây dựng các chuyên mục tuyên truyền về bảo tồn, phát triển văn hoá dân tộc thiểu số, ưu tiên sử dụng ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc có ngôn ngữ, chữ viết; Xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho việc bảo tồn và nâng cao đời sống văn hóa cho vùng các dân tộc thiểu số, chú trọng các chính sách, chế độ khuyến khích các nghệ nhân trao truyền di sản văn hóa, khuyến khích lớp trẻ tiếp thu các di sản văn hóa, chính sách này lồng ghép với các chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú ở các dân tộc; Nghiên cứu, định hướng, nhấn mạnh vai trò sáng tạo, xác lập hệ giá trị mới, phù hợp đối với văn hoá các dân tộc thiểu số trong xu thế giao lưu, hội nhập, phát triển; Tăng cường giao lưu văn hoá, xây dựng các chương trình hoạt động, lễ hội, biểu diễn văn hoá, nghệ thuật các dân tộc cấp tỉnh, cấp huyện, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hoá tinh thần từ cộng đồng của cộng đồng các dân tộc thiểu số hoà nhập với xu thế phát triển chung của đất nước, dân tộc và thời đại./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

THÔN TÂY SƠN TRONG ĐỊA BẠ TRIỀU NGUYỄN (Nhà nghiên cứu Phan Trường Nghị)

Ghi nhận theo Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn – Tỉnh Bình Định của Nguyễn Đình Đầu, thôn Tây Sơn của thuộc Thời Hòa, huyện Tuy Viễn, trấn Bìn...